Xu Hướng 2/2023 # Ý Nghĩa Siêu Độ, Bạt Độ Trong Nghi Thức Mông Sơn Thí Thực # Top 6 View | Apim.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Ý Nghĩa Siêu Độ, Bạt Độ Trong Nghi Thức Mông Sơn Thí Thực # Top 6 View

Bạn đang xem bài viết Ý Nghĩa Siêu Độ, Bạt Độ Trong Nghi Thức Mông Sơn Thí Thực được cập nhật mới nhất trên website Apim.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Cúng thí thực theo các Tổ thầy dạy, phải xuất phát từ tâm thành, vật thí thực không tốn kém cầu kỳ mà rất đơn giản. Điều cốt yếu của nghi thức là phải thực hiện trai giới như pháp (tức thực hiện chánh pháp) để trì chú thì mới đem lại lợi ích bất khả tư nghị cho các loài cô hồn, ngã quỷ

Nghi thức Trai đàn chẩn tế siêu độ cho cô hồn, ngã quỷ, âm linh ra đời từ khi Phật còn tại thế. Trong kinh ghi rõ lời đức Thế Tôn chỉ dạy cho ngài A Nan nhiều tiết mục cúng thí cho các loài ngạ quỷ được ăn bằng xúc thực, ý tư thực theo thứ tự: mua sắm các thực phẩm nấu chín, bày biện lên bàn, có hương hoa, trà quả. Rồi chắp tay nhất tâm phụng thỉnh chư vị cổ Phật đến đạo tràng cúng tế, để giúp chúng sinh cõi âm được ăn, uống cùng nghe rõ lời kinh, lời pháp khai thị của chư Phật một cách trật tự và hanh thông, sau đó yết hầu được mở rộng (yết hầu mở rộng xin nói ở phần sau) để được ăn uống dù bằng xúc thực, ý tư thực vẫn cảm thấy khoái khẩu no nê.

Nghi thức Trai đàn chẩn tế là phương thức siêu độ, bạt độ cô hồn, vong linh, âm linh mà ta thường thấy ở các chùa, tự viện và các tịnh thất hay làm vào những ngày lễ trọng. Đặc biệt là Trai đàn chẩn tế thường được tổ chức lớn nhằm vào việc siêu độ các vong linh mang tính cách (nhân văn xã hội) cao thượng đó là cầu siêu cho các hương hồn liệt sĩ, các vong linh tử nạn về an toàn giao thông, các vong linh thai nhi sản nạn, hoặc những nơi xảy ra tử nạn đông người…

Với lòng bi mẫn của đức Phật dạy, trên thực tế chúng ta thấy không phải lúc nào cũng lập được Đàn tràng lớn, bởi các yếu tố (tổ chức kinh tế, xã hội-chính trị). Vậy, theo kinh sách và các chân sư chỉ dạy, nếu chúng ta là những Phật tử thuần thành, có tâm chí thành thương xót các cô hồn, ngã quỷ, âm linh thì đều có thể thực hiện được nghi thức thí thực Tiểu Mông sơn ở ngay khu vực mình ở và tại tư gia vào những ngày sóc vọng (nếu thấy cần thiết).

Cúng thí thực theo các Tổ thầy dạy, xét về mặt căn bản là phải xuất phát từ tâm thành, vật thí thực không tốn kém cầu kỳ như người ta tưởng mà rất đơn giản. Điều cốt yếu của nghi thức là chúng ta phải thực hiện trai giới như pháp (tức thực hiện chánh pháp) để trì chú thì mới đem lại lợi ích bất khả tư nghị cho các loài cô hồn, ngã quỷ cũng như các đảng.

Một thực tế hiện nay, không ít thầy bà theo tín ngưỡng dân gian thần quyền nhân danh (này nọ) tổ chức cúng thí không chỉ gây tốn kém về vật chất mà kết quả cầu siêu bạt độ cho các vong linh, cô hồn, các đảng không đem lại kết quả như mong muốn (nếu không muốn nói là gây thêm phiền não chướng) bởi họ không hiểu được ý nghĩa sâu mầu của chánh pháp đạo Phật.

Bài viết này chúng tôi có đôi lời bàn luận tham cứu góp phần vào việc thực hiện cúng thí thực, để chúng ta cùng chia sẻ suy ngẫm tìm hiểu về nội dung này, trên cơ sở với lòng bi mẫn và thực hiện chánh pháp cứu độ chúng sinh theo tinh thần mà đức Thế Tôn đã dạy.

Duyên khởi – xuất xứ cúng Mông Sơn thí thực

Đạo Phật là đạo cứu chúng sinh ra khỏi sáu cõi sinh tử luân hồi khổ đau để đến các cõi Phật giới (hay còn gọi là cõi vô sinh tử). Do đó chư Phật trong mười phương thế giới đều thị hiện vào tam giới, lục đạo để cứu khổ chúng sinh theo sở nguyện phương tiện của mình. Đó là giáo pháp, tâm đại từ bi và trí tuệ.

Đức Phật thích Ca Mâu Ni thị hiện Ta bà, nói pháp và hướng dẫn con người tu tập giáo pháp để giải thoát sinh tử luân hồi. Đức Thế Tôn còn thuyết minh về các kinh Dược sư, kinh Địa Tạng, kinh A Di Đà để cứu khổ chúng sinh về bệnh tật qua (kinh Dược Sư); cứu khổ chúng sinh trong các cõi địa ngục, ngã quỷ và cõi người qua (kinh Địa Tạng) nhằm thức tỉnh con người luôn tự cảnh giác mà xa lìa các đường ác quỷ; với kinh A Di Đà, đức Thế Tôn cũng chỉ dạy cho con người ai muốn vãng sinh về nước Cực lạc thì tu pháp môn Tịnh độ. Và với đức Bồ tát Quán Thế Âm thì Ngài nói về ý nghĩa sâu mầu về chú Đại Bi để cứu khổ cứu nạn chúng sinh.

Cùng với đức Thích Ca Mâu Ni lúc bấy giờ, bên cạnh Ngài còn có nhiều vị cổ Phật thị hiện trong Tăng đoàn để trợ lực với Ngài về một số giáo vụ quan trọng khác nhau như ngài A Nan (thị giả Phật có khả năng nghe và thuộc lòng tất cả các kinh Phật đã nói); Xá Lợi Phất (bên cạnh Phật thuyết pháp); Ca Diếp, Mục Kiền Liên (được Phật chỉ cho cách cứu mẹ thoát kiếp ngạ quỷ để rối có kinh Vu Lan) và các ngài Phú Lâu Na, Phổ Hiền, Văn Thù, Quán Thế Âm…Trong tất cả các vị cổ Phật có mặt bên cạnh đức Phật Thích Ca thì đức Quan Thế Âm được thấy ở nhiều hạnh nguyện Bồ tát cứu khổ, cứu nạn thật đa dạng với nhiều phương tiện thị hiện thân tướng tương ưng trong các cõi để cứu độ chúng sinh.

Điều muốn nói ở đây là Phật Quán Thế Âm thị hiện quỷ Vương Tiêu Diện và với xuất xứ nghi thức “Mông Sơn Thí Thực Cô hồn”. Theo tác giả Đức Hạnh, thì nghi thức này có ba xuất xứ, nhưng theo người viết tóm lược lại thì chỉ có hai xuất xứ căn bản được ghi nhận qua kinh điển đó là:

Một: Lúc Phật còn tại thế: một hôm, vào buổi chiều, Tôn giả A Nan đang tọa thiền tại bãi cỏ ngoài tịnh xá Kỳ Viên. Bỗng nghe có tiếng động, A Nan ngước mặt nhìn, thấy một con quỷ có thân tướng mặt đỏ, lười lè dài tới rốn, miệng tóe lửa, râu ria xồm xoàm, đang cầm chĩa ba, quỳ xuống quỷ nói:

“N ày A Nan, ta là Quỷ Vương, thống trị các loài ngạ quỷ, nhưng ta đang đói lắm! Ta sẽ ăn thịt ngươi A Nan”. Nói xong con quỷ trườn tới. An Nan sợ quá, đứng lên nói: “Khoan đã, đừng ăn thịt ta, ta sẽ tính chuyện ấy sau cho quỷ”. Nói xong, A Nan chào quỷ vương đi vào tịnh xá. Tại đây, A Nan gặp Phật và trình bầy đầu đuôi câu chuyện về con quỷ mặt đỏ, lưỡi dài, miệng đầy lửa đòi ăn thịt mình cho đức Phật nghe.

Đức Phật nói: ” Không sao đâu, A Nan đừng sợ! Quỷ không thể ăn thịt người được. Để Như Lai chỉ cho A Nan những cách cúng dường cho các loài quỷ được ăn”.

Những cách cúng dường ấy cho các loài ngạ quỷ, âm linh, cô hồn…được ăn như thế nào, đức Thế Tôn chỉ cho ngài A Nan đã được ghi trong kinh có tên “Kinh Diệm Khẩu”.

Hai: Xuất phát từ lòng thương xót chúng sinh trong các cõi âm vô bờ bến, với đại bi tâm và trí tuệ thâm sâu của bậc đạo sư chân tu, ngài thiền sư Bất Động đời nhà Đường tại núi Mông đã được vô số ngai quỷ, cô hồn, âm linh tìm đến ngài để xin bố thí cho ăn qua nhiều hiện tượng như: cứ vào những chiều chạng vạng, ngài Bất Động thiền sư nhìn thấy những ngọn lửa lập lòe, ngắn dài, run rẩy chơi vơi dưới các thung lũng núi Mông, cùng với những thanh âm tru tréo hú vang thật rùng rợn! Rồi đến khi ngài vào ngồi thiền thì nghe bên ngoài chung quanh chùa có những tiếng xì xào, gõ cửa than khóc…

Trước những hình ảnh ma quái của các loài cô hồn, ngạ quỷ, âm linh hằng đêm hiện ra như vậy, ngài Bất Động thiền sư hiểu ý các loài âm linh ấy bị đói, lạnh muốn ngài cứu giúp cho được no ấm. Từ đó ngài Bất Động quyết tâm đi tìm phương cách bố thí thực phẩm cho chúng sinh cõi âm được ăn bằng giáo pháp Phật (cam lồ pháp thực). Do vậy, ngài Bất Động đã bỏ công tìm kiếm trong Đại Tạng Kinh đời Đường qua thời gian nhiều tháng năm và cuối cùng ngài tìm gặp được cuốn kinh Diệm Khẩu (tức miệng lửa). Trong kinh ghi rõ lời đức Thế Tôn chỉ dạy cho A Nan nhiều tiết mục cúng thí cho các loài ngạ quỷ được ăn bằng xúc thực, ý tư thực theo thứ tự mà được no đủ.

Nghi thức thí thực công phu chiều cũng được thiền sư Bất Động soạn trong kinh Diệm Khẩu. Trong quá trình soạn, ngài cơ bản giữ nguyên toàn bộ lời Phật dạy, để làm nến tảng cho việc biên soạn thêm một số nghi thức tại chùa ở núi Mông, do đó mà có tên “Nghi thức Mông Sơn thí thực cô hồn”. Tác phẩm soạn đấu tiên đó là Nghi thức công phu chiều, dành riêng cầu siêu độ cho cô hồn, ngạ quỷ hằng ngày trong thiền môn (chùa). Trong đó gồm các kinh Di Đà cầu siêu; kinh Hồng Danh Bảo Sám (để sám hối) cho chúng sinh cõi âm nói chung. Tiếp đến Tiểu Mông Sơn (toàn bộ kinh Diệm Khẩu).

Tuy nhiên, ngài Bất Động thiền sư có thêm lời ngưỡng vọng hướng về kính lễ: Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm kinh; Thường Trụ Thập Phương Phật, Pháp, Tăng và Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni; Đại Bi Quán Thế Âm Bồ tát; Minh Dương cứu khổ Địa Tạng Vương Bồ tát; Khải giáo A Nan Đà Tôn giả. Lời ngưỡng vọng kính lễ này, nếu không nói rằng đó là lời báo ân, thì cũng là lời giới thiệu cho toàn thể bốn chúng đệ tử Phật hậu lai biết rõ nguyên nhân ra đời của nghi thức cúng thí cô hồn, ngạ quỷ là do hai vị cổ Phật Quán Thế Âm, A Nan đà và đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni mà có.

Cũng căn cứ từ kinh điển của chư Phật, ngài Bất Động thiền sư sau khi thực hiện nghi thức cúng thí cho các cô hồn, ngã quỷ, Thiền sư cũng làm lễ quy y Phật, Pháp, Tăng cho ba giới cõi âm và có lời khai thị cho hữu tình ở giới này. Và sau cùng của nghi thức là những bài kinh Bát Nhã, Vãng Sinh… Như vậy, ta có thể hiểu sau cúng thí thực về phương diện (vật chất) là thí ngữ (tức khai thị Pháp Phật) cho cô hồn, ngai quỷ và các đảng để được siêu độ, bạt độ cảnh giới lành.

Nghi thức Trai Đàn Chẩn Tế Siêu Độ hay Bạt Độ

Theo tác giả Đức Hạnh (trong bài Mông Sơn thí thực) thì nghi thức Trai đàn chẩn tế ra đời là do các vị đạo sư chân tu Trung Hoa và Việt Nam (Huế – Bình Định) soạn dựa trên cơ sở tư tưởng cứu bạt của kinh Diệm Khẩu làm nền tảng. Sau đó tiếp tục biên soạn, chế tác nhiều bản văn theo thể lục bát, thất ngôn, lục ngôn, ngũ ngôn, tứ ngôn, hai câu hoặc một đoạn văn xuôi trong nghi thức. những bài văn ngắn, dài này nhằm tác bạch, xướng ngôn, tán tụng, phụng thỉnh chư Phật, triệu mời thập loại cô hồn, ngạ quỷ, các giới vong linh, và nói pháp ngữ. Số lượng những bài văn nói trên có đến hơn trăm, chưa nói đến nghi thức Mông Sơn Diệm Khẩu.

Trong số hàng trăm bài tán, tụng, phụng thỉnh đó, thỉnh thoảng có đề cập đến hai vị Phật hóa thân tối quan trọng trong nghi thức đó là Quán Thế Âm và ngài A Nan. Điều này được thấy trong hai bài: ” Hội khởi Mông Sơn tối thắng duyên…Giáo điển chân thừa cứu đảo huyền. Nan Đà tôn giả chân nhập định. Cứu khổ Quán Âm thị Diện Nhiên”. Và bài ” Tu thiết trai diên, A Nan nhân duyên khởi, Cứu khổ Quán Âm, thị hiện Tiêu Diện Quỷ”. Và trong nghi thức này, ngài Địa Tạng Vương được vị sám chủ thỉnh nhiều hơn, bởi vì Ngài trong vai trò thăm viếng và hướng dẫn siêu độ cho chúng sinh ở địa ngục.

Sở dĩ nghi thức Trai đàn chẩn tế, có đến cả trăm bài văn ngắn, dài như vậy là vì phát xuất từ tư tưởng lớn của tâm đại từ bi, phát nguyện lớn, siêu độ, bạt độ của chư Tăng Ni cùng Phật tử. Nói đến cứu độ vong linh cô hồn, ngạ quỷ hay nói khác hơn để chúng ta dễ hiểu: cứu vớt con người còn sống, được lên khỏi vực sâu cả ngàn mét chắc sẽ còn dễ hơn vạn lần so với các vong linh được ra khỏi địa ngục u minh, tăm tối.

Bởi khi còn sống, họ đâu có huân tập tán thán và tìm hiểu để học tập giáo lý sâu mầu của nhà Phật, đến khi họ chết đọa trong tam đồ ở chốn u minh, với thân vô hình lung linh như mây như gió, dẫu là tâm thức của họ vẫn cảm nhận được mọi thứ khổ đau, đói khát, lạnh lùng, nhưng họ đang còn nguyên hiện tướng định nghiệp ác là cô hồn, ngai quỷ… thì làm sao dễ dàng nhận ra lời khai thị chánh pháp…

Vả lại, nếu họ vốn đang có tâm thanh tịnh trong sáng (mà chết) thì tự siêu thoát rồi. Bằng không, lại càng khổ đau, tăm tối, cho nên khi thác sinh bị đọa bởi mê mờ nên cứ ở mãi nơi cõi u minh đến cả trăm năm và lâu hơn nữa bị đói khát, khổ đau, lạnh lùng…

Qua đây, cho thấy hàng trăm bài sám thỉnh, tác bạch, lời kinh, tiếng kệ, thần chú và chư Tăng tán tụng, xướng ngôn, pháp ngữ, lễ lạy, bắt ấn, thủ xích xuống bàn, vang vọng là những tiếng nói, âm điệu đánh thức cô hồn, ngạ quỷ, âm linh và các đảng trở về thực tại. Suốt 4 tiếng đồng hồ của nghi thức siêu độ, 5 tiếng bạt độ trong nghi thức trai đàn chẩn tế. Chính là những phương tiện tối thắng mầu nhiệm được coi như là (kỹ thuật) trong việc cứu vớt (độ) các cô hồn, ngạ quỷ, vong linh được thoát khỏi cảnh địa ngục tối tăm, siêu lên các cõi trên (Tịnh độ, Nhân, Thiên) là do uy lực của Tam bảo (Phật, Pháp, Tăng) thì pháp lực này phải được nhân lên gấp nhiều lần mới có thể khai mở tâm thức u tối của cô hồn, ngạ quỷ, hương linh và các đảng để họ trở về với sự trong sáng, tỉnh thức mà phát lồ sám hối Phật, Pháp, Tăng để được siêu thăng cảnh giới lành.

Tóm lại do năng lực biến thủy, biến thực sâu mầu vi tế khó nghĩ bàn của Phật pháp mà khả năng siêu độ, bạt độ giải cứu chúng sinh trong pháp thí thực đều biến thành cam lồ hữu dụng là bất khả luận. Tất cả chúng sinh trong 3 giới bị đọa lạc đều được ăn, uống no đủ một cách hanh thông, dù ăn bằng xúc cảm, hay ý nghĩ vẫn cảm thấy no nê.

Nội dung cúng thí thực cho các loài ngạ quỷ, cô hồn các đảng mà đức Phật đã nói cho Tôn giả A Nan, được ghi trong kinh Diệm Khẩu với chỉ bấy nhiêu thôi như đã nêu ở trên, nếu không nói là cơ bản, cũng đủ để cho các loài ngạ quỷ, cô hồn được ăn uống và nghe Phật pháp mà siêu sinh Tịnh độ. Đây là pháp tối thắng duyên do 13 vị cổ Phật và Bồ tát Tiêu Diện Đại Sĩ, đều có uy lực siêu đẳng gia trì hộ niệm cho họ.

Nhân đây, chúng ta cùng tìm hiểu về ý nghĩa Thần chú trong Mông Sơn thí thực: Qua uy lực siêu đẳng của 13 vị cổ Phật trong kinh Diệm Khẩu, cho ta thấy và hiểu thêm ý nghĩa của các thần chú là siêu đẳng tuyệt đối, là linh diệu chú không thể nghĩ bàn và không có ngôn từ nào giải thích, bởi đó là Phật pháp sâu mầu, vi diệu. Cho nên các tổ thầy nói, (Phật chính là thần chú, Thần chú chính là Phật).

Điều này được minh định qua kinh Đại Bi, thường gọi là “chú Đại Bi Đà La Ni” (tổng trì-năng trì, khả năng gìn giữ) gồm có 84 danh hiệu cổ Phật, do đó không giảng nghĩa được. Tám mươi bốn danh hiệu, trong đó có 32 hóa thân của Phật Quán Thế Âm. Danh hiệu cuối cùng 84 là Ta bà ha, là Bồ tát Tiêu Diện Đại Sĩ (tức Phật Quán Thế Âm hóa thân).

Qua kinh sách cũng được biết thêm một số vị cổ Phật quen thuộc có mặt trong Thần chú Đại Bi như: Phật A Di Đà (Ma hê ma hê rị đa dựng). Phật Ca Diếp (Ta bà ha) cùng các ngài A Nan, Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên, Phổ Hiền và ngài Văn Thù Sư Lợi. Trong 84 hình tượng hóa thân của chư vị cổ Phật ở kinh Đại Bi, thì 35 hóa thân nữ, 49 hóa thân nam.

Khi nào và ai có thể tổ chức Trai đàn chẩn tế

Mọi người các giới đều có thể, nếu có đủ khả năng, phương tiện và Tâm đại từ, đại bi, đại trí. Nếu có ba năng lực này, thì đây là nền tảng để thực hiện lễ Trai đàn chẩn tế siêu độ, bạt độ chúng sinh.

Do hiểu biết được rõ ràng các loại cô hồn, ngạ quỷ vong linh trong các cõi địa ngục, vốn trước đó họ cũng là con người nhưng vì đã tạo nên ác nghiệp mà đọa tam đồ khổ đau, nên họ rất đói khát, lạnh lùng cô quạnh và họ chỉ luôn mong cầu người sống là bà con, quyến thuộc, đồng hương nghĩ đến họ mà cho ăn uống; và cởi trói cho họ được siêu thoát qua các kinh điển Địa Tạng, Lương Hoàng Sám (tức thí Pháp).

Biết được hoàn cảnh rõ ràng như vậy rồi, với tâm cảm chân thật thương xót như thế liền ra tay tế độ bất vụ lợi, không mong cầu phước báo. Đó là đem lòng bi mẫn đến với chúng sinh. Ở những nơi có hàng trăm hàng ngàn người chết rủi ro bởi bão lụt, tai nạn tầu xe, hay hỏa hoạn và chiến tranh, vào những ngày Vu Lan, Phật Đản đứng ra tổ chức Trai đàn chẩn tế bạt độ thì thật lợi ích vô cùng.

Nghi thức Trai đàn chẩn tế là một nghi thức tối thắng thượng thừa về hai mặt: Phật tâm và giáo vụ chánh đạo, cộng với tâm biết thương xót các loài âm binh, cô hồn sẵn sàng dấn thân cứu khổ. Do có tâm đại từ bi và trí tuệ, cho nên Tăng chủ sám ngồi đàn và tập thể kinh sư phải là những bậc chân tu đạo hạnh, Phật pháp uyên thâm, thông đạt nghi lễ thực hiện Trai đàn thì sẽ đem lại lợi lạc chúng sinh vô lượng.

Ngược lại, nếu tổ chức không xuất phát từ tâm từ bi, ví như gia chủ đứng ra tổ chức, không có phước, chỉ có tài vật, do vì khởi niệm lợi lộc riêng tư, không nhằm vào việc siêu thoát, bạt độ chúng sinh cõi âm, mà chỉ mượn danh Tam bảo (Phật, Pháp, Tăng) thì chẳng đem lại lợi ích mà chỉ gây thêm phiền não thế gian.

Thí thực tại gia

Nếu Trai đàn chẩn tế là cách (bố thí lớn) thì pháp thí thực tại gia là cách tổ chức nhỏ. Theo các thầy tổ dạy, nếu Phật tử chúng ta muốn cúng thí thực cô hồn, vong linh, âm linh, các đảng thì ta cứ việc làm. Nhưng phải nhớ một điều là thanh tịnh tâm, đọc tụng theo đúng nghi thức Tiểu Mông Sơn, có trong nghi thức tụng niệm, không cần phải tụng kinh Di Đà, Hồng Danh. Chỉ cần tụng Tiểu Mông Sơn, cũng đủ năng lực làm cho cô hồn, các đảng được ăn, được siêu. Bởi vì nghi thức Mông Sơn là cơ bản tối thắng của kinh Diệm Khẩu, có đầy đủ Bồ tát Tiêu Diện và 13 vị cổ Phật trong đó như đã nói trên.

Vậy cúng thí chỉ cần một bát cháo lỏng, ly nước là đủ. Muốn thêm các thứ bánh, bỏng, trái cây… là tùy ý, không sao cả. Phải đọc đúng nghi thức Tiểu Mông Sơn, thì các cô hồn, ngạ quỷ mới ăn, uống được. Nếu chỉ van vái không (tức không thực hiện Mông Sơn) các loài cõi âm không hưởng được gì. Vậy đã có lòng cúng cô hồn, nên đọc tụng theo nghi thức Mông Sơn, chúng ta sẽ được cô hồn, âm linh và các đảng hộ niệm cho mọi việc an lành hiệu quả.

Thay lời kết

Cúng thí thực không phải là giáo lý căn bản của Phật giáo. Đạo Phật ra đời mục đích tối thượng là độ sinh, chứ không phải độ tử. Vì sao vậy? Vì toàn bộ giáo lý đạo Phật dạy con người tu hành để giải thoát sinh tử luân hồi trong tam giới này.

Xuất phát từ lòng bi mẫn của đức Phật mà sau này ở giai đoạn sau giáo lý đạo Phật đã có thêm những phương tiện cứu độ để giải thoát cho những chúng sinh bị đọa lạc vào tam đồ (ba cõi khổ đau) như nội dung bài viết đã trình bầy ở phần trên. Điều muốn nhắc lại ở đây là cúng thí thực như Pháp (tức theo chánh pháp) đạo Phật khác xa với cúng thí của tín ngưỡng dân gian. Bởi cúng thí “kiểu” dân gian chỉ nhắm tới một phần thỏa mãn về yếu tố vật chất (vật lý) mà thôi.

Thực tế, theo kinh điển xét về cõi giới cô hồn, ngã quỷ thì việc ăn, uống thụ hưởng của họ qua cúng thí thực thật khó khăn. Bởi nếu không có chánh pháp đạo Phật (tức trì chú) soi sáng qua nghi lễ thí thực thì họ không thể nhận lãnh được (khi yết hầu của họ không được khai mở). Vậy, chỉ có chánh pháp vi diệu của đạo Phật mới “biến thực- biến thủy” thành cam lồ giúp họ thọ dụng được no đủ (đấy là chưa kể việc khai thị chánh pháp) thuyết linh để họ giác ngộ nương nhờ vào Phật lực mà giải thoát về cõi giới an lành.

Cúng thí thực nếu không phải là các Tăng Ni, Cư sĩ, Phật tử đạo hạnh thuần thành thì không thể thực hiện được. Theo các tổ thầy dạy, cũng như rút ra từ trải nghiêm của mình cho thấy, “chỉ một chút nghi ngờ, sao nhãng không tin chánh pháp” tức khắc sự việc không thành như mong muốn. Nhân bài viết này cũng muốn chia sẻ cùng đạo hữu, nếu chúng ta có tâm thành cúng thí thực thì cứ cúng, nhưng phải theo đúng chánh pháp, và nên nhớ lời tổ thày dạy là không cầu xin gì cả.

Nếu có tâm thành thì “tự nhiên như nhiên” sẽ có sự tốt lành đến từ hai phía. Đi kèm bài viết này, chúng tôi cũng sưu tầm sao lục gửi tới đạo hữu cùng những ai quan tâm đến nội dung này bài cúng thí thực của Sư ông Làng Mai – Thích Nhất Hạnh soạn, để chúng ta cùng tham cứu và có thể sử dụng được.

Tài liệu tham khảo

– Kinh Đại phương Quảng Phật Hoa Nghiêm,

– Kinh Địa Tạng; Kinh Pháp Hoa (phẩm Phổ môn)

– Hiển Mật viên Thông tác giả Trần Giác, Tỳ kheo Thích viên Đức

– Bài viết “Mông Sơn thí thực” của tác giả: Đức Hạnh trên trang điện tử Chùa: A Di Đà

Xem tiếp phần 2: Bài cúng thí thực của sư ông Làng Mai Thích Nhất Hạnh soạn.

Cư sĩ: Nguyễn Đức Sinh và Đức Hạnh

Nghi Thức Cúng Mông Sơn Thí Thực

Nam mô bộ bộ đế rị, già rị đa lị, đát đa nga đa da (3 lần)

Án tam đà ra dà đà, ta bà ha (3 lần)

Nam môThườngTrụThập Phương Phật. NammôThường TrụThậpPhươngPháp. NammôThườngTrụThậpPhươngTăng. Nam mô Bổn SưThích Ca Mâu Ni Phật. Nam mô Ðại Bi QuánThế Âm BồTát. NammôMinhVươngCứuKhổÐịaTạng Vương BồTát. Nam mô Khải GiáoANan ÐàTôn Giả. Quy y Phật, Quy y Pháp, Quy yTăng, Phậttửsởtạochưácnghiệp

Giaidovôthỉthamsânsi

Tùngthân,khẩu,ýchisởsanh

NhấtthiếtPhậttửgiaisámhối.

Giai do vô thỉ tham sân si

Giai do vô thỉ tham sân si

Phiền não vô tận thệ nguyện đoạn

Pháp môn vô lượng thệ nguyện học

Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành.

Tự tánh phiền não thệ nguyện đoạn

Tự tánh pháp môn thệ nguyện học

Tự tánh Phật đạo thệ nguyện thành.

Ánbátramạtlânđànãnhtabàha.

Án a lỗ lặc kế ta bà ha. (3 lần)

Ánbộbộđếrị,giàrịđarị,đátđangađada.

Án tam muội da tát đỏa phạm. (3 lần)

Nam mô tát phạ đát tha nga đa, phạ lồ chỉ đế, án tam bạt ra, tam bạt ra hồng.

Nam mô tô rô bà da, đát tha nga đa gia. Ðát điệt tha, án tô rô tô rô, bát ra tô rô, bát ra tô rô, ta bà ha. (3 lần)

Án noan noan, noan noan, noan.

Nam mô Diệu SắcThân Như Lai. Nam mô Quảng BácThân Như Lai. Nam mô Cam LồVương Như Lai. Nam môADi Ðà Như Lai.(3 lần)

Phổ thí hà sa chúng Phật tử

Cứu cánh đắc thành vô thượng đạo,

Phổ thí hà sa chúng hữu tình,

Thần chú gia trì cam lồ thủy

Phổ thí hà sa chúng cô hồn,

Cứu cánh đắc thành vô thượng đạo,

Đại Trai Đàn Siêu Độ Vong Hồn Nịch Tử Phát Tấu, Khai Phương, Phá Ngục, Giải Kết, Mông Sơn Thí Thực – Việt Lạc Số

Đại Trai Đàn Siêu Độ Vong Hồn Nịch Tử Phát tấu, khai phương, phá ngục, giải kết, mông sơn thí thực

Ngày thứ nhất

Buổi sáng:

  6h Cúng thụ phan

♦ Lễ: 1 cơi trầu rượu, 1 đĩa xôi, 1 lễ mặn to, 1 đĩa oản bột, 1 nải quả, 1 đĩa hoa

♦ Trồng cột phướn chuẩn bị cây cột để kéo phướn cao 15m có dây và ròng rọc sẵn, cúng xong là kéo lên được luôn.

  7h Cúng Thỉnh kinh (Cúng tại Chùa)

♦ Lễ: 20 đồng oản gạo, 20 đồng oản bột, 5 đĩa quả, 5 đĩa hoa, 3 cơi trầu rượu, 3 lễ mặn (Xôi, thịt, trầu, rượu) dâng các cửa Thánh

♦ Chuẩn bị Phật đình và mời các Già rải cầu, Phan, thỉnh Kinh về tại đàn.

  8h cúng cấp thủy

♦ Lễ: 1 cơi trầu rượu, 1 đĩa xôi, 1 lễ mặn to, 1 đĩa oản bột, 1 nải quả, 1 đĩa quả, 1 đĩa hoa.

♦ Cúng lấy nước ở hồ, chuẩn bị 1 chiếc chóe đựng nước và bày đàn nơi sạch sẽ để ngồi cúng.

  9h cúng đãng uế

♦ Lễ: 5 đồng oản gạo, 5 đồng oản bột, 1 đĩa quả, 1 đĩa hoa, 1 cơi trầu rượu.

  10h cúng Tổ

♦ Lễ: 1 cơi trầu rượu, 1 đĩa oản bột, 1 đĩa oản gạo, 1 đĩa xôi, 1 đĩa muối vừng, 1 đĩa đậu phụ mộc, 1 đĩa quả

Nghỉ trưa

Buổi chiều

  14h cúng Phát tấu

♦ Lễ: 1 mâm xôi, 1 lễ mặn to, 1 chai rượu, 1 cơi trầu cau chẻ 5 quả, 1 đĩa quả, 1 đĩa oản bột, 1 đĩa oản gạo, 5 bát cơm lồng (trứng, đũa bông ) 5 chiếc gương, 5 chiếc lược, 5 con dao, 5 cái kéo, 5 chiếc quạt giấy, 5 bao thuốc lá, 5 hộp chè, 5 gói thuốc lào, 5 chiếc bật lửa, 5 chiếc khăn mặt, 5 bánh xà phòng, 5 chiếc bút long 5 bánh mực tàu, 5 gói kẹo, 10 mét vải đỏ, 1 đĩa gừng lát mỏng có muối, 5 quyển sổ, 5 chiếc bát có nắp để đựng bát vị thang, 5 chiếc ô, 5 đôi dép, 1 chiếc khăn mặt sấp nước đặt vào chiếc đĩa.

Bát vị thang

♦ 1 miếng Bạch đàn, 5 lá hoắc hương, 1 gam quế quan, 1 gam xuyên khung 1 chén, mật ong, 1 gói đỗ xanh đãi vỏ, 5 nụ đinh hương, 5 lát gừng tươi.

♦ Cách làm: Cho tất cả những vị thuốc vào sắc lấy nước, sau bỏ đỗ xanh vào đun nhừ mới cho mật ong và 1 thìa đường vào đun sôi múc vào 5 chiếc bát có nắp đậy kín dâng lên đàn phát tấu.

  16h cúng chiêu hồn trầm nịch

♦ Lễ: 2 cơi trầu rượu, 3 đĩa xôi, 2 lễ mặn, 3 đĩa oản bột, 2 đĩa hoa, 1 đĩa hoa trắng, 21m vải trắng, 1 con dao phay, 3 đôi nến cốc, 3 chiếc rọc chuối dài, 1 cành phan, kê bàn bày đàn 3 cấp, 6 chiếc cốc to đổ đầy gạo, 1 buộc tiền đinh, 1 buộc tiền vàng, 2 hộp vàng nghìn, 1 cỗ mũ ngựa (màu trắng).

17h Cúng Tiếp Linh

♦ Lễ: 2 cơi trầu rượu, 2 đĩa xôi, 1 lễ mặn, đĩa oản bột, 2 đĩa hoa.

18h Cúng Chúc Thực

♦ Lễ: 2 mâm cơm cúng, 2 cơi trầu têm, 2 khay nước trà cúng, 2 chai rượu

Buổi tối

19h Dâng Lục Cúng

♦ Lễ: 2 hộp chè búp, 2 phẩm oản bột, 4 cuộn băng dính nhỏ, 2 lọ hoa, 10 tờ giấy 5 màu.

Nghỉ hết ngày

Ngày thứ hai

  8h Cúng Phật

♦ Lễ: 20 phẩm oản gạo, 3 mâm xôi chè, hoa quả, oản bột, 1 (lễ mặn xôi thịt trầu rượu Trà thuốc dâng các ban thờ Thánh).

Lục vị trà

♦ 5 gam cam thảo, 20 quả táo tầu, bạch đàn 1 miếng, 1 gói chè búp, 1 gam quế quan, 1 gam trầm hương.

♦ Cách làm: Cho tất cả vào sắc lấy nước rót vào chuyên chén dâng vào tuần cúng phật.

  10h Triệu Linh

♦ Lễ: 2 đĩa oản bột, 2 đĩa oản gạo, hương hoa.

  1h Cúng Chúc Thực

♦ Lễ: 2 mâm cơm cúng, 2 cơi trầu têm, 2 khay nước trà cúng, 2 cai rượu.

Nghỉ trưa

Buổi chiều

  14h Cúng Chúng Sinh

♦ Lễ: Chim, cá, trạch, cua, ốc, hến.vvv (đại loại là những thứ mà nó sắp bị con người sát hại về thả ra kéo dài sự sổng cho nó để mình cầu phúc)

   Lễ kỳ an

♦ Lễ: 1 đĩa xôi to, 1 lễ mặn to, 1 chai rượu, 1 cơi trầu cau chẻ, bát tô cháo, 1 đĩa nẻ, 1 đĩa gạo, 1 đĩa muối, hoa quả.

  16h Thỉnh Xá

  17h Phóng Xá

♦ Lễ: 1 đĩa xôi to, 1 lễ mặn to, 1 chai rượu, 1 cơi trầu cau chẻ, 1 đĩa quả, 1 đĩa oản bột, 1 đĩa oản gạo.

Bày Đàn Ngũ Phương phá Ngục

♦ Chuẩn bị: 5 chiếc bàn và khăn trải, 5 đĩa oản bột 5 màu (Xanh, Đỏ, Trắng, Tím, Vàng mỗi đìa 5 phẩm) 5 lọ hoa( 5 màu ) 5 nải chuối, 10 đĩa quả, 5 đĩa hoa( 5 màu).

  18h cúng khai phương.

♦ Lễ: 5 đĩa oản gạo, 5 đĩa quả, 5 lễ mặn (Xôi, thịt, trầu, rượu ) 5 đĩa gạo loại to.

  19h Phá Ngục.

♦ Lễ: 1 cơi trầu rựơu, 1 đĩa xôi, 1 lễ mặn to, 1 đìa oản bột, 1 nải quả, 1 đĩa quả, 1 đĩa hoa.

♦ Con cháu chuẩn bị tiền lẻ khi chạy Đàn qua cửa nào thì rải tiền vào gạo ở cửa ấy.

  21h Huyết Hồ

♦ Lễ: 1 chiếc chảo gang, 1 chiếc bếp kiềng, 1 chai dầu ăn, 1 chiếc bủa 1 chiếc kìm, 1 chai siro hoặc coca cola, 1 dây xích.

  Nghỉ hết ngày

Ngày hôm thứ 3

Buổi sáng

   7h Sám Long Thần (Đức Ông)

♦ Lễ: 1 cơi trầu rượu, 1 đĩa xôi, 1 lễ mặn to, 1 đĩa oản bột, 1 nải quả, 1 đĩa quả, 1 đĩa hoa, 5 ngọn nến.

  8h Cúng Tử phủ – Sơn trang

  10h Cúng Chúc thực

♦ Lễ: 2 mâm cơm cúng, 2 cơi trầu têm, 2 khay nước trà cúng, 2 chai rượu.

Nghỉ trưa

Buổi chiều

  14h Cúng đàn tam phủ

♦ Lễ: 1 đĩa xôi to, 1 lễ mặn to, 1 chai rượu, 1 cơi trầu cau chẻ, 2 đĩa quả, 2 đĩa oản bột, 2 đĩa oản gạo, 1 lễ mặn nhỏ (xôi, thịt, trầu rượu) 3 quả trứng sống, 2m vải trắng, 2m vậi xanh, 2m vải vàng, 1 hình nhân nữ, 3 cỗ mũ bình thiên (xanh, trắng, vàng)

Bày Đàn kết

♦ Chuẩn bị : 1 cuộn giấy, 1 hộp hồ, 10 tờ giấy ngũ sắc, 1 con dao, 1 chiếc kéo, 1 chậu thau nhôm, 1 cuộn chỉ trắng, 1 chiếc kim.

  15h Sao đàn hành khoa Giải kết

♦ Lễ: 1 cơi trầu rượu, 1 đĩa xôi, 1 lễ mặn to, 1 đĩa oản bột, 1 nải quả, 1 đĩa quả, 1 đĩa hoa, 1 bát cháo, 1 đĩa nẽ, 1 đãi gạo, 1 đĩa muối.

Hợp đổng từ hổi linh an vị

  17h Bày đàn mông son thí thực

♦ Lễ: 1 mâm xôi, 1 xoong quân dụng cháo hoa, 1 lễ mặn to, 2 mâm to (nia) quần áo, giấy tiền, 1 chại rượu, 1 cơi trầu cau chẻ 5 quả, 2 hộp chè búp, 2 phẩm oản bột, 4 cuộn băng dính nhỏ, 2 lọ hoa, 10 tờ giấy 5 màu, Oản quả khoảng 5 lễ, 2 nia quả các loại, bánh đa, bánh mỳ, mía v.v.v, (Nên sắm càng nhiều thì càng tốt)

  Cúng khoa phóng đăng

♦ Lễ: 1 đĩa xôi to, 1 lễ mặn to, 1 chai rượu, 1 cơi trầu chẻ, 1 đĩa quả, 1 đĩa oản gạo. 50 chiếc bát nhựa gắn nến hoặc mua cổc nến nhỏ đặt vào, giấy 5 màu mỗi loại 3 tờ cắt thành cánh sen, 5 hộp hồ dán giấy

  18h Cúng Mông Sơn Thí Thực

  21h Cúng Thăng Bảo Đài

♦ Lễ: 1 đĩa xôi to, 1 lễ mặn to, 1 chai rượu, 1 cơi trầu cau chẻ, 1 đĩa quả, 1 đĩa oản bột, 1 đĩa oản gạo.

Hoàn tất

  Mã chung các đàn

Đàn thụ Phan

♦ 1 cỗ mũ, ngựa (Màu đỏ)

Đàn cấp thủy

♦ 1 cồ mũ, ngựa (Màu trắng)

Đàn Phát tấu

♦ 5 cỗ mũ sắc, 5 đôi hia, 5 con ngựa, 5 lá cờ, 5 chiếc roi, 5 chiếc lọng, 5 thanh kiếm, 1 mâm biểu.

Đàn chiều hồn

♦ 1 cỗ mũ, ngựa (Màu trắng)

Đàn tiếp Linh

♦ 1 cỗ mũ, ngựa (Màu đỏ)

Đàn phóng sinh

♦ 1 cỗ mũ, ngựa (Màu trắng)

Đàn phóng xá

♦ 1 cỗ mũ, ngựa (Màu trắng)

Đàn ngũ phương phá Ngục

♦ Lễ: 5 cỗ mũ ngũ sắc, 5 đôi hia, 5 lá cờ, 5 chiếc roi, 5 thanh kiếm, 5 cửa Ngục có quân lính đầu trâu mặt ngựa cầm đao đứng gác.

Đàn sám tạ long thần

♦ 1 cỗ mũ, ngựa (Màu đỏ)

Đàn sám tạ long thần

♦ 1 cỗ mũ, ngựa (Màu đỏ)

Đàn tam phủ

♦ 3 cỗ bình thiên (Xanh, trắng, vàng)

Đàn phóng đăng

♦ 1 cỗ mũ, ngựa (trắng)

Đàn Kỳ An.

♦ 1 cỗ mũ đương niên.

♦ 1 cỗ mũ Đương Cảnh (màu Tím).

Đàn Thăng Bảo Đài

♦ 1 tòa cửu phẩm 9 tầng cao 3m

Cúng Thí Thực Là Gì Và Ý Nghĩa Của Nghi Thức Cúng Thí Thực

Cúng thí thực là gì?

Thí thực là bố thí, theo đó cúng thí thực là việc bố thí thông qua việc thờ cúng.

Chúng ta có quan niệm này vì theo tinh thần Đạo Phật những người bị chết oan, tai nạn, chết trẻ…, chưa tái sinh và không có người cúng thức ăn cho họ nên luôn có cảm giác đói khổ. Hơn nữa, chẳng mấy ai trong số đó hiểu rằng chết là để chuyển sinh hay họ chẳng thể nào có cơ hội thưởng thức thức ăn như khi còn sống nên tâm họ vẫn hướng tới những món đồ đó đầy khao khát.

Những người này phần đông sinh vào cảnh giới thấp như địa ngục, ngạ quỷ và súc sinh và luôn tự cảm thấy mình đói khát. Và hãy thử tưởng tượng như chính chúng ta đang là những kẻ đói thì luôn thèm ăn, không thể nghĩ tới điều gì khác huống gì là đạo lý của cuộc đời.

Đức Phật dạy: “Này các Tỳ-kheo, ít hơn là các chúng sinh sau khi chết từ thân người, được tái sinh làm người lại. Và nhiều hơn là các chúng sinh sau khi chết từ thân người, phải tái sinh vào cõi ngạ quỷ”. Những chúng sinh trong loài quỷ này, đa số chịu nhiều sự đói khát và có hình thù quái lạ phần nhiều c ầu mong sự cúng thí thực phẩm của người đời.

Vì thế, chúng ta thường tổ chức các nghi lễ với vật phẩm vật hiến cúng và đối tượng thọ nhận phải có sự tương ưng.

Trong văn hóa cúng bái dân gian ở nước ta, mỗi khi cúng, người ta thiết lập bàn gọi là bàn thượng và bàn hạ. Bàn thượng cúng hoa, bông trái và nước trong tinh khiết dành cúng chư thiên và các chúng sinh ở cảnh giới cao, gọi là bàn Thiên.

Bàn hạ là cúng thức ăn thông thường như người đang sống thường dùng như cơm, cháo, bánh trái để cúng cho các hương linh, gọi là bàn hương linh.

Người cúng thỉnh sư đọc tụng chân ngôn, cầu sự gia trì của Phật và Bồ-tát giúp cho chúng hương linh (ngạ quỷ) được thọ dụng no đủ và thoát khổ.

Ý nghĩa của nghi thức cúng thí thực trong Phật giáo

Lễ cúng thí thực vốn có nguồn gốc Phật giáo nhưng nếu không hiểu rõ ý nghĩa tích cực và phương pháp lễ cúng này mà áp dụng lễ cúng theo kiểu Tế Đàn cực đoan, rườm rà thì lại trở thành mê tín, chắc chắn không có phước báo tốt đẹp.

Việc thực hiện cúng thí thực này chủ yếu là dành cho những người không được vào cõi an lạc mà bị đầy xuống địa ngục hay vào ngạ quỷ. Những chúng sinh ở cõi ngạ quỷ này phải chịu nhiều khổ đau, đói rét, luôn mong muốn nhận được cúng phẩm của người thân. Chính vì vậy, nghi thức cúng thí sẽ giúp họ nhận được phẩm vật mà con người hiến cúng.

Một lễ cúng đầy đủ ý nghĩa cần có người hiểu và dùng pháp ngữ khai thị hương linh nhận thức về đạo lý để họ xả ly chấp thủ, luyến ái và sớm được giải thoát tự tại. Vấn đề ở đây cần nhận thức rõ ràng tinh thần của người hiến cúng, và đối tượng được hiến cúng trong pháp thí thực một cách có trí tuệ.

Người hiến cúng thí thực bằng pháp bất thiện sẽ mắc nghiệp xấu, điều này được ghi lại trong kinh Tăng Chi qua Phẩm Tế Đàn, khi Đức Phật đã trả lời cho Bà-la-môn Uggatasarira.

Bởi vị Bà-la-môn này có ý định đốt lửa, dựng trụ tế đàn, giết hàng trăm con bò, con cừu, con heo làm thực phẩm hiến cúng để cầu mong được quả phước lớn. Đức Phật đã thẳng thắn phê phán, cho đó là hành động bất thiện bằng việc giết hại cho đến tế lễ đó, không có một mảy mún chi lợi ích cho người chết cà, chỉ có kết tội duyên của người đó làm cho càng thêm sâu nặng hơn thôi. Người hiến cúng bằng thiện pháp sẽ đưa đến phước lành, dùng phẩm hạnh thanh tịnh cúng tế.

Pháp hiến cúng này thể hiện được phẩm hạnh từ bi giúp các sinh linh thoát khỏi cảnh giới đói khổ. Nghi thức cúng thí thực có ý nghĩa này rất quan trọng là pháp tu hạnh bố thí, chúng ta nhận rõ rằng việc bố thí cho người cõi dương thì dễ dàng hơn vì ta đem cái thật cho người thật, nhưng cúng thí cho người cõi âm là đem cái vật hữu hình thí cho chúng sanh của thế giới vô hình là việc không hề dễ dàng.

Theo Đạo Phật, việc cúng thí thực không đúng pháp sẽ chẳng mang lại lợi ích gì bởi trong một lễ cúng dưới hình thức nào, ngoài vật phẩm cúng thí, điều quan trọng mà ta thấy ở Phật giáo là sự khai thị hương linh trong lễ cúng để vong linh được nghe giáo lý đức Phật dạy mà cởi bỏ bám víu, dính mắc tham sân, vọng tưởng để được thoát cảnh giới đọa lạc.

Có như vậy, mới gọi là “âm siêu dương thái”, và ngược lại nếu không có trí tuệ chánh Pháp soi sáng thì hiệu quả đem lại sẽ chẳng như mong muốn là điều chắc chắn.

Khi làm nghi thức cúng thí thức sẽ được chia làm hai bàn cúng. Một bàn dành cho chư thiên và các loài quỷ thần có oai lực, ở bàn này chỉ cần cúng hương, đèn, hoa, trái và nước sạch.

Còn một bàn dành cho các vong linh, quỷ đói, nên ở trên bàn này cần có cơm trắng, cháo, bánh, trái, gạo, muối. Khi cúng thí chúng ta không nên sát sinh, nên cúng đồ chay để tăng thêm phước đức cho chúng sinh. Chuẩn bị thức ăn cúng thí thực gồm: cháo trắng, bánh cốm, ổi, nước suối, gạo muối, dành cho cúng vào mùng 2, 16… rồi lập một cái bàn để trước nhà bày đồ cúng ra, một bát hương và y theo nghi thức mà cúng thí. Chú ý người cúng hướng mặt ra đường. Người thực hiện nghi thức cúng thí thực cần phải có thành tâm, tâm phải hoan hỷ, trong suy nghĩ phải nghĩ tưởng về thực phẩm và thức uống đang cúng, thì việc cúng thí mới thành tựu và cô hôn mới được tiếp nhận no đủ và mãn nguyện.

Cúng hương

Nguyện dâng hương mầu này

Cúng dường tất cả Phật

Tôn Pháp, Chư Bồ Tát

Thinh Văn và Duyên Giác

Cùng các bậc Thánh Hiền

Duyên khởi đài sáng chói

Khắp xông mười phương cõi

Tỏa ngát các chúng sanh

Đều phát tâm Bồ Đề

Xa lìa các vọng nghiệp

Trọn nên Đạo Vô Thượng.

Nghi thức thí thực trong Phật giáo

Cầu nguyệ n

Hôm nay, Phật tử chúng con…, tại… sắm sửa hương hoa phẩm vật, cúng thí âm hồn các đảng, vất vưởng thê lương, không nhà không cửa, không nơi nương tựa, đói khát thảm thương.

Hoặc nơi chiến trường hoang dã, ngã gục tan thây, hoặc nơi thâm sơn cùng cốc, rắn độc gấu beo. Hoặc nơi sông sâu biển rộng, cá sấu vây quanh, xé nát thân ra, từng mảnh nhỏ. Tất cả oan hồn yếu tử, nay mời về núp bóng Từ Quang, dự đàn thí thực, nương nhờ Phật lực, sớm được siêu sinh tịnh độ. Ngưỡng mong Đức Phật cao dày, từ bi gia hộ.

Án thỉnh cô hồn

Mông Sơn thí thực

Nhược nhơn dục liều tri,

Tam thế nhứt thiết Phật,

Ưng quán pháp giới tánh,

Nhứt thiết duy tâm tạo.

Niệm Phật

Tổng kết

Cập nhật thông tin chi tiết về Ý Nghĩa Siêu Độ, Bạt Độ Trong Nghi Thức Mông Sơn Thí Thực trên website Apim.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!