Xu Hướng 12/2022 # Về Nơi Bà Triệu Được Suy Tôn Thành Hoàng Làng / 2023 # Top 18 View | Apim.edu.vn

Xu Hướng 12/2022 # Về Nơi Bà Triệu Được Suy Tôn Thành Hoàng Làng / 2023 # Top 18 View

Bạn đang xem bài viết Về Nơi Bà Triệu Được Suy Tôn Thành Hoàng Làng / 2023 được cập nhật mới nhất trên website Apim.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Về nơi Bà Triệu được suy tôn Thành Hoàng làng

Thành Hoàng làng được thờ ở đình Phú Điền, xã Triệu Lộc, huyện Hậu Lộc chính là Bà Triệu, một trong những vị anh hùng dân tộc trong lịch sử Việt Nam.

Đình làng Phú Điền, xã Triệu Lộc, huyện Hậu Lộc (Thanh Hóa) vốn là một trong những ngôi đình cổ mang nhiều nét độc đáo, hiếm có của Việt Nam. Đặc biệt, Thành Hoàng làng được thờ trong đình chính là Bà Triệu, một trong những vị anh hùng dân tộc trong lịch sử Việt.

Nhắc đến Bà Triệu, hậu thế nhớ đến hình ảnh vị nữ tướng anh hùng trong cuộc chiến chống giặc Ngô xâm lược đầu thế kỷ thứ 3 ở đất Cửu Chân (Thanh Hóa ngày nay).

Bà Triệu (tên là Triệu Thị Trinh, còn gọi là Trinh Nương, hay Triệu Ẩu), sinh năm 226, người huyện Quân Yên (Quan Yên), quận Cửu Chân. Bà có dung mạo hơn người, võ nghệ cao cường, có hoài bão lớn thể hiện qua câu nói nổi tiếng: “Tôi muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá trường kình ở biển Đông, đánh đuổi quân Ngô giành lại giang sơn, cởi ách nô lệ, chứ không chịu khom lưng làm tỳ thiếp cho người!”.

Năm 248, Bà Triệu cùng anh trai Triệu Quốc Đạt tập hợp trai tráng trong vùng tụ nghĩa chống lại ách đô hộ nhà Ngô. Một thời gian ngắn sau, Triệu Quốc Đạt lâm bệnh qua đời, Bà được tướng sĩ tôn làm Chủ tướng. Trước sức mạnh của quân ta, các thành ấp của quân Ngô ở Cửu Chân lần lượt bị đánh hạ. Cuộc khởi nghĩa phát triển, lan rộng ra các vùng Giao Chỉ, kéo dài vào tận Nhật Nam. Trước tình hình đó, Ngô vương Tôn Quyền đã phải cử viên tướng Lục Dận làm Thứ sử đem quân sang đàn áp.

Theo đó, từ núi Ngàn Nưa, nữ tướng Triệu Trinh Nương đã lãnh đạo nghĩa quân tiến xuống đồng bằng, chiến đấu với quân xâm lược. Tuy nhiên, do kẻ thù gian xảo, cùng với tương quan lực lượng chênh lệch khiến cho cuộc khởi nghĩa rơi vào khó khăn, bế tắc. Không chấp nhận khuất phục, Triệu Ấu đã một mình lên đỉnh Tùng Sơn (xã Triệu Lộc ngày nay) tuẫn tiết khi mới tròn 23 tuổi.

Cảm thương cho vị nữ tướng anh hùng, quân sĩ và người dân làng đã cùng nhau đắp mộ cho bà ngay trên đỉnh núi Tùng, để muôn đời tưởng nhớ.

Di tích đình Phú Điền, xã Triệu Lộc, huyện Hậu Lộc hiện vẫn còn lưu giữ 64 sắc phong cổ có ấn chỉ qua các triều đại phong kiến trong lịch sử Việt Nam.

Cụ Phan Văn Tào (86 tuổi), làng Phú Điền, xã Triệu Lộc bộc bạch: “Bà Triệu không chỉ là vị nữ tướng anh hùng của dân tộc, với Nhân dân Phú Điền suốt cả nghìn năm qua, bà chính là vị thần đã giúp đỡ, phù trợ cho sự phát triển, no đủ và yên lành của người dân chúng tôi”.

Người dân Phú Điền xưa nay vẫn tin rằng, sau khi tuẫn tiết trên đỉnh núi Tùng (xã Triệu Lộc) thì Bà Triệu vẫn luôn dõi theo và phù trợ cho đất nước, Nhân dân. Khi đất nước gặp nguy nan trước họa ngoại xâm, bà hiển ứng giúp đấng quân vương đánh tan kẻ thù. Khi làng quê thanh bình trở lại, Bà lại “giúp đỡ” cho mùa màng được tốt tươi, cuộc sống no đủ, trù phú.

Có lẽ, cái tên Phú Điền cũng bắt đầu từ ước vọng giàu có của người dân. Chính vì niềm tin ấy, từ thế kỷ thứ 7, dân làng Phú Điền đã cùng nhau lập nên ngôi đền nhỏ ngay giữa làng để thờ vị vua Bà.

Đến khoảng thế kỷ 18, một ngôi đình làng bằng gỗ khang trang, bề thế ngay bên ngoài ngôi đền nhỏ đã được khởi dựng và Bà Triệu chính thức được suy tôn là Thành Hoàng làng, vị thần bảo trợ cho dân làng Phú Điền. Niềm tin tâm linh ấy được truyền tiếp, đời nối đời, là mạch nguồn văn hóa, góp phần làm nên niềm tự hào của một vùng đất.

Truyền thuyết địa phương vẫn còn lưu truyền câu chuyện Bà Triệu phù trợ cho vua Lý đánh thắng giặc Ai Lao. Theo đó, trên đường hành quân về phương Nam, qua vùng đất này, đêm xuống nằm nghỉ ngơi, nhà vua đã nằm mộng thấy điều kỳ lạ, dù mộng nhưng lại rất thực. Tỉnh dậy hỏi dân làng thì được biết đây là vùng đất mà vị vua Bà đã yên giấc ngàn thu. Ngay hôm sau, nhà vua đã cho sắm sửa lễ vật cùng lời khẩn nguyện xin Bà Triệu giúp đỡ. Sau khi thắng trận khải hoàn trở về, không quên ơn phù trợ của thần linh, đấng quân vương đã phong cho Bà là “Thượng đẳng Đại vương”, đó là vào năm 1037. Nhân dân trong làng cũng được miễn phu thuế ba năm.

Đã từng nhiều năm làm thủ từ, ông Đặng Văn Cường tự hào chia sẻ: Việc xây dựng đình làng Phú Điền cũng hết sức đặc biệt. Hai đội thợ Đạt Tài và Đông Hưng được mời đến, mỗi đội đảm trách thực hiện một phần công trình và khi hoàn thiện thì được dân làng “chấm điểm”. Vậy nên ngày nay, đến thăm đình Phú Điền, người tinh ý có thể nhận ra sự khác nhau giữa những chạm khắc hoa văn còn lưu giữ tại đình. Đây là một ngôi đình cổ mang đậm kiến trúc độc đáo, hiếm có của đồng bằng Bắc bộ.

Trải qua hàng trăm năm, di tích đình Phú Điền vẫn được xem là công trình kiến trúc cổ điển hình với nhiều giá trị về niên đại thời gian, ý nghĩa tâm linh và kiến trúc nghệ thuật. Đặc biệt, đến nay tại di tích đình Phú Điền hiện vẫn còn lưu giữ 64 sắc phong cổ có ấn chỉ qua các triều đại phong kiến trong lịch sử. Và đó được xem như báu vật của làng.

Ông Lê Ngọc Doãn, Chủ tịch UBND xã Triệu Lộc, huyện Hậu Lộc, cho biết: Hằng năm, từ ngày 19 đến 24-2 âm lịch, Nhân dân và du khách thập phương lại đổ về dự hội với dân để tưởng nhớ Bà Triệu. Vào dịp này đình làng Phú Điền có tổ chức nghi thức hội với trò diễn “Ngô, Triệu giao quân” khá hấp dẫn. Nhưng có lẽ, nghi thức rước bóng (rước kiệu quay) mang nhiều yếu tố tâm linh vẫn được nhiều du khách đặc biệt chú ý.

Theo đó, sau khi kết thúc phần tế lễ, dân làng Phú Điền sẽ rước kiệu từ đền Bà Triệu dưới chân núi Gai về đình Phú Điền, lên đền Eo, đến khu lăng mộ Bà ở đỉnh núi Tùng xin chân nhang rồi rước về đình làng thờ một ngày đêm. Đến ngày hôm sau thì rước kiệu trở về đền Bà Triệu (núi Gai). Và đến ngày 24-2 (âm lịch) thì dân làng cùng tập trung ở đình Phú Điền để làm lễ “giỗ” vua Bà.

“Trải qua bao biến cố thăng trầm của thời gian, người dân làng Phú Điền vẫn xem đây là một nghi thức tâm linh, nét đẹp văn hóa trong đời sống tinh thần. Cứ thế, từ đời này sang đời khác, người dân nơi đây vẫn luôn gìn giữ, phát huy những giá trị tốt đẹp của muôn đời để lại”, ông Lê Ngọc Doãn nói.

Hoài Thu

Nghi Thức Thành Phục (Thọ Tang) – Làng Mai / 2023

1. (Kệ Mở Kinh)

Nam mô đức Bổn Sư Bụt Thích Ca Mâu Ni (ba lần) (C)Pháp Bụt cao siêu mầu nhiệmCơ duyên may được thọ trìXin nguyện đi vào biển tuệTinh thông giáo nghĩa huyền vi. (C)

2. (Khai Thị)

Thân này không phải là tôiTôi không kẹt vào nơi thân ấyTôi là sự sống thênh thangTôi chưa bao giờ từng sinh mà cũng chưa bao giờ từng diệtNhìn kia biển rộng trời caoMuôn vàn tinh tú lao xaoTất cả đều biểu hiện tôi từ nguồn linh tâm thứcTự muôn đời tôi vẫn tự doTử sinh là cửa ngõ ra vàoTử sinh là trò chơi cút bắtHãy cười cùng tôiHãy nắm tay tôiHãy vẫy tay chào để rồi tức thì gặp lạiGặp lại hôm nayGặp lại ngày maiChúng ta đang gặp nhau nơi suối nguồnChúng ta sẽ gặp nhau từng phút giây trên muôn ngàn nẻo sống.(C)

3. (Pháp Ngữ)

Công Cha như núi Thái SơnNghĩa Mẹ như nước trong nguồn chảy raCầu ơn Tam Bảo độ choCháu con đảnh lễ, hiếu hòa một tâm. (C)

4. (Trì Tụng)

Tây phương không xa cáchTây phương trước mặt ngườiNgàn sông về biển lớnTrăng lặn không lìa trờiÂm dương không cách trởSinh tử vẫn tương dungNiệm Bụt cầu siêu độLắng nghe xin một lòng. (C)

(Vị chủ lễ xướng, hoặc đọc theo văn Điệp siêu độ)

5. (Niệm Bụt)(Vị chủ lễ xướng thật lớn và rõ ràng)

Sông Ái dài muôn dặmBiển Mê sóng vạn tầmCõi luân hồi muốn thoátNiệm Bụt hãy nhất tâm.

(đồng tụng, mỗi danh hiệu ba lần)Nam mô Bổn Sư Bụt Thích Ca Mâu Ni (C)Nam mô Bụt Dược Sư Lưu Ly (C)Nam mô Bụt A Di Đà (C)Nam mô Bồ Tát Đại TríVăn Thù Sư Lợi (C)Nam mô Bồ Tát Đại Hạnh Phổ Hiền (C)Nam mô Bồ Tát Đại Bi Quan Thế Âm (C)Nam mô Bồ Tát Đại Nguyện Địa Tạng Vương. (CC)

6. (Thọ Nhận Tang Phục)(Vị chủ lễ xướng)

Núi Tản đức khó báoSông Hồng công khôn đềnTrước linh nhận tang phụcHiếu hạnh nguyền không quên. (C)(từng người đi lên quỳ xuống nhận tang phục. Nhận và mặc tang phục xong, mỗi người lạy hai lạy.)

7. (Trì Chú) (mỗi chú ba lần)

(Chơn Ngôn Diệt Tội Của Bảy Đức Bụt )Ly bà ly bà đế, cầu ha cầu ha đế, đà ra ni đế, ni ha ra đế, tỳ lê nễ đế, ma ha dà đế, chơn lăng càn đế, ta bà ha. (C)

(Chơn Ngôn Quyết Định Vãng Sanh)Nam mô a di đa bà giạ, đá tha già đá giạ, đa địa dạ tha, a di lỵ đô bà tỳ, a di lỵ đa tất đam bà tỳ, a di lỵ ca tỳ ca lan đế, a di lỵ đa tỳ ca lan đa, dà di nị dà dà na, chỉ đa ca lệ, ta bà ha. (C)

(Chơn Ngôn Biến Thực)Nam mô tát phạ đát tha nga đa phạ rô chỉ đế, án, tam bạt ra, tam bạt ra hồng. (C)

(Chơn Ngôn Biến Thủy)Nam mô tô rô bà gia, đá tha nga đá gia, đát điệt tha, án, tô rô, tô rô, bạt ra tô rô bạt ra tô rô, ta bà ha. (C)

(Chơn Ngôn Cúng Dường Phổ Biến)Án nga nga nẳng tam bà phạ phiệt nhật ra hộc. (CC)

8. (Quay Về Nương Tựa)

Con về nương tựa Bụt, người đưa đường chỉ lối cho con trong cuộc đời.Con về nương tựa Pháp, con đường của tình thương và sự hiểu biết.Con về nương tựa Tăng, đoàn thể của những người nguyện sống cuộc đời tỉnh thức. (C)Đã về nương tựa Bụt, con đang có hướng đi sáng đẹp trong cuộc đời.Đã về nương tựa Pháp, con đang được học hỏi và tu tập các pháp môn chuyển hóa.Đã về nương tựa Tăng, con đang được tăng thân soi sáng, dìu dắt và nâng đỡ trên con đường thực tập. (C)Về nương Bụt trong con, xin nguyện cho mọi người,thể nhận được giác tính, sớm mở lòng Bồ Đề.Về nương Pháp trong con, xin nguyện cho mọi người,nắm vững các pháp môn, cùng lên đường chuyển hóa.Về nương Tăng trong con, xin nguyện cho mọi người, xây dựng nên bốn chúng, nhiếp hóa được muôn loài. (CC)

9. (Hồi Hướng)

Trì tụng kinh thâm diệuTạo công đức vô biênĐệ tử xin hồi hướngCho chúng sinh mọi miền. (C)Pháp môn xin nguyện họcÂn nghĩa xin nguyện đềnPhiền não xin nguyện đoạnQuả Bụt xin chứng nên. (C)Nguyện sinh về Tịnh ĐộSen nở thấy vô sinhChư Bụt và Bồ TátLà những bạn đồng hành. (C)Nguyện dứt hết phiền nãoCho trí tuệ phát sinhCho tội chướng tiêu tánQuả giác ngộ viên thành. (CCC)

Thành Hoàng Đại Vương 越南道教 / 2023

THÀNH HOÀNG ĐẠI VƯƠNG Trong Đạo Tiên:

Hai chữ Thành Hoàng nghĩa làThần bảo vệ thành xã hay là Thần hộ vệ thành. Nhiệm vụ của Thành Hoàng là bảo hộ cư dân khi bị thiên tai hay loạn lạc,

là Thủ Hộ Thần của thành thị. Về sau ,

trải qua nhiều thời đại, Thành Hoàng được thêm những nhiệm vụ khác như:-

cầu mưa, cầu tạnh ráo, ban phúc, giải trừ tai nạn v.v… hình thành ông quan cai quản địa phương,

thưởng thiện phạt ác, là ông quan do Minh Phủ phái đến dương gian để cai quản dân tình.

*Trong con mắt cùa nhân gian, Thành Hoàng Gia là vị Pháp Quan của cõi âm,

có thể bổ sung cho những thiếu sót của Pháp Quan dương thế. Do đó mà được bá tính sùng kính thờ phụng.

Thành Hoàng cũng có khả năng bảo hộ tính mệnh và tài sản của dân làng.

Và nhân gian thường gọi.Thành Hoàng chữa bệnh.

Vì những người bệnh lâu ngày thương ra làm lễ cầu nhanh khỏi bệnh,những ai bị mất của có thể ra kêu nhờ Thành Hoàng trợ giúp.vì mỗi ngày có 18 vị thần ghi chép công tội họa phúc tại miếu.

Những người bị oan đêm có thể xin mở cửa miếu nhờ Thành Hoàng phúc dạ thẩm.

Những người chết đều phải đến xin giấy thông hành mới có thể xuống địa phủ.

Những người chết nơi đất khách quê người nếu không được Thành Hoàng cấp giấy thì không trở về được quê hương mà mãi mãi làm quỷ phiêu lạc nơi xứ người không có cơ hội đi đầu thai.

-Vị Thành Hoàng cai quản cả nước thì phong làm

Thiên Hạ Đô Thành Hoàng,có chức Vương,

-Vị Thành Hoàng cai quản một tỉnh thì phong làm

Đô Thành Hoàng, cũng ở chức Vương

-Vị Thành Hoàng cai quản một Phủ thì phong làm

Phủ Thành Hoàng, có chức Công,

-Vị Thành Hoàng cai quản một châu thì phong làm

Châu Thành Hoàng, có chức Hầu, xưng là Linh Ứng Hầu hoặc Tuy Tĩnh Công,

-Vị Thành Hoàng cai quản một huyện thì phong làm Huyện Thành Hoàng, có chức Bá, xưng là Hiển Hữu Bá.

*Thành Hoàng Gia đã là một vị quan địa phương thuộc U Minh Giới, dĩ nhiên phải có nhiều cơ quan và thuộc hạ giúp việc, kể cả tư pháp và cảnh sát nữa. Theo truyền thống, các bộ ty của Thành Hoàng gồm:

-Diên Thọ Ty (coi về tuổi thọ)

-Tốc Báo Ty (báo cáo nhanh)

-Củ Sát Ty (quan sát theo dõi)

-Tưởng Thiện Ty (ban thưởng người, việc lành)

-Phạt Ác Ty (trừng phạt kẻ, việc ác)

-Tăng Lộc Ty (ban cho phúc lộc)

Thông thường xưng là Lục Quan hoặc Lục Thần Gia.

Chức năng và danh xưng của các Ty này tương đồng với thế gian.

Ngoài các Ty, còn có hai

Phán Quan Văn và

Phán Quan Võ, cùng với

Ông Ngưu, Ông Mã,

ÔngGông Cùm,

Ông Xiềng Xích

là bốn vị Gia Gia.

Bên cạnh còn có hai vị Tướng Quân có vai trò quan trọng tên là Phạm Vô Cứu(có tội miễn xét xử) và

Tạ Tất An (cúng tạ được bình an) mà dân gian tôn xưng là Tạ thất gia

và Phạm bát gia, hai vị nàylàm trợ lý cho Thành Hoàng trong việc trừng gian trừ ác..

*Thành Hoàng Gia là vị quan cõi âm của địa phương, theo truyền thuyết thì vào các ngày Thanh Minh,

Trung Nguyên (15/7),

Hạ Nguyên (15/10),

Thành Hoàng Gia sẽ đi tuần tra, nên dân gian tổ chức các buổi lễ Nghênh Thần hay Xuất Hội để cúng bái Thành Hoàng , sẽ được Ngài ban phúc lộc và bảo hộ bình an.

*Thất Gia Bát Gia

Các Miếu thờ Thành Hoàng

không thể thiếu hai vị

Bởi vì, mỗi khi Thành Hoàng xuất hội, công việc. Thất Gia, Bát Gia còn gọi là

Đoản Gia (Cao Gia, Nụy Gia),

cũng gọi là hai quỷ

Hắc Bạch Vô Thường .

Tập quán dân gian thì tôn xưng là

Tạ Tướng Quân

Phạm Tướng Quân,

có nhiệm vụ bắt giải các phạm nhân đưa đến trước mặt Thành Hoàng để Ngài phán xét.

*Thất Gia họ Tạ tên Tất An, có thân cao, gò má đen, dân gian gọi là

Hắc Vô Thường.

Bát Gia họ Phạm tên Vô Cứu,

vì thân hình lùn thấp, gò má trắng nên dân gian gọi là

Bạch Vô Thường.

*Có người lại giải thích, tạ tất an là bị bệnh cúng tạ Thành Hoàng thì được lành, còn phạm vô cứu là đã gây tội thì không người nào cứu được

*Âm Dương Ty Công

Âm Dương Ty Công , là bộ hạ của THÀNH HOÀNG gia, thân thể tự chia ra hai phần đen và trắng, hình dạng khiến trông thấy phải khiếp sợ, trừ điều ác giúp điều lành.

Âm Dương Ty Công coi sóc về thưởng công hay trị tội của dân gian, cùng quản lý các hồn ma quỷ trong địa phương mình.

*Tướng lạ của Ngài là gò má bên trắng bên đen, thần khí mạnh mẽ khiến người nhìn thấy không lạnh mà run, lòng sinh e dè sợ sệt. Sự hiện diện của Ngài góp phần duy xã đạo đức tốt đẹp và hạn chế bớt những hành động sai phạm của dân gian.

Đa số thì Âm Dương Ty Công được thờ chung trong Miếu Thành Hoàng . Một số nơi có xây miếu riêng để thờ.

*Văn Phán Quan Vũ Phán Quan

Văn Phán Quan phụ trách đúc kết hành động , việc làm thiện ác của nhân dân và tuổi thọ của mỗi người, sau đó, ghi chép thành sổ sách, gọi là

Phán Quyết Thư.Vũ Phán Quan

phán quyết của Văn Phán Quan

để thực hiện việc trị tội kẻ ác.

Tướng dạng của Văn Phán Quan thì nho nhã,

tay cầm bút và sổ sách định đoạt mệnh vận của hồn ma quỷ.

Vũ Phán Quan tay cầm lang nha bổng (gậy răng sói) , mặt mày dữ dằn thể hiện năng lực phạt ác trong dân gian.

Sách Việt điện u linh chép: “Khi xưa, Cao Biền sang ta đắp thành Đại La. Một buổi trưa, đi chơi vơ vẩn ra cửa đông ngoài thành, bỗng thấy mây mù nổi to, rồi có năm sắc rực rỡ bốc từ mặt đất lên tới trên không tụ lại, dưới làn mây năm sắc khí trời trở nên lạnh lẽo.

Trông trong làn mây thấy một người cưỡi rồng vàng, đầu đội mũ hoa, mình mặc áo tía, xiêm thêu, giầy đỏ, đồng thời thấy mùi hương ngào ngạt, tiếng nhạc vang lừng một hồi lâu mới tan. Cao Biền kinh hãi, cho là yêu quái”.

Đêm hôm ấy, Biền mộng thấy một ông hình dạng ăn mặc như lúc thấy ban ngày, đến bảo Biền rằng: “Tôi là Long Đỗ vương khí quân, thấy ông mở dựng đô thành, nên tôi lại chơi, ông đừng ngờ!”.

Biền tỉnh dậy, nói chuyện với mọi người rồi than rằng: “Ta không biết làm chính trị, để quỷ thần trêu ta, điềm tốt hay điềm gở đây?”. Có người bảo Biền dựng đền, đắp tượng thờ, rồi lấy đồng, sắt chôn xuống để trấn áp.

Biền theo lời làm như thế. Bỗng một cơn bão rất to, đổ cây, tung đất, bao nhiêu đồng sắt yểm đều tan ra tro bụi, Biền thấy vậy, than rằng: “Ta sẽ phải về Bắc mất!” Quả nhiên Biền phải về thật

Đến đời nhà Lý, dựng đô ở đây, thần Long Đỗ được suy tôn “Quốc đô định bang thành hoàng đại vương”, tức thành hoàng của cả kinh thành Thăng Long.

Tương truyền, khi Lý Thái Tổ đắp thành, thành cứ đổ, nhà vua phải cử người tới đền cầu thần. Một con ngựa trắng từ đền đi ra, đi theo hướng tây, vòng về hướng đông, trở về điểm xuất phát, rồi biến vào đền.

Nhà vua cứ theo vết chân ngựa để lại mà cho đắp thành. Nhờ đó mà thành công.

Đến đời Lý Thái Tông, nhà vua cho mở phố chợ về Cửa Đông, hàng quán chen chúc, sát tới bên đền, rất huyên náo.

Vua muốn dựng đền ra một chỗ khác song lại nghĩ rằng một ngôi đền cổ không nên dời đi, bèn sửa sang lại đền liền với các nhà ngoài phố, riêng để một ngôi nhà bên trong làm nơi thờ thần. Đêm đến, thần hiển linh nổi trận gió bắc rất to, các nhà bên đều đổ, duy chỉ đền thờ thần là nguyên vẹn.

Vua Thái Tông lấy làm lạ hỏi, có người biết, tâu rõ việc hiển linh của thần từ trước. Vua mừng nói: “Đó thật là vị thần coi việc nhân gian.”

Sau đó, đức vua xuống chiếu cho sửa lễ tế đền và đặt lệ mỗi năm cứ đầu mùa xuân lại đến làm lễ cầu phúc. Ông cũng sắc phong thần là Quảng Lợi vương.

Trước đây, ở phố chợ Cửa Đông, ba lần phát hỏa, các nhà trong phố bị cháy hầu hết, duy đền thờ thần thì lửa không bao giờ lan tới.

Thượng tướng Thái sư Trần Quang Khải có đề một bài thơ ở đền:

Tích văn nhân đạo đại vương linh

Kim nhật phương tri quỉ mị kinh

Hỏa bác tam khu thiêu bất tận

Phong trần nhất trận phiến nan khuynh.

Chỉ huy vọng lượng tam thiên chúng

Đàn áp yêu ma bách vạn binh

Nguyện trượng dư uy thanh bắc khấu

Đốn linh vũ trụ lạc thăng bình

Trần Lê Văn dịch là:

Đại vương xưa nức tiếng oai linh

Nay mới hay rằng ma quỷ kinh

Lửa tụ ba khu không cháy miếu

Gió lay một trận chẳng nghiêng mình

Khiến sai bọn quỷ ba nghìn đứa

Đánh dẹp loài ma trăm vạn binh

Nhờ cậy dư uy trừ giặc Bắc

Giúp ngay đất nước được thanh bình

Vào thế kỷ XVIII, Đình nguyên Hoàng giáp Trần Bá Lãm (1757 – 1815), cũng có thơ đề ở đền:

Mạch dẫn bàn long truyền thắng địa,

Tích lưu bạch mã trấn danh châu

Cao vương vãng sự câu thần thổ

Vật hoán tinh di kỷ độ thu

Mạch dẫn rồng nằm kia đất hẹp

Dấu xưa ngựa trắng giữ danh đô.

Cao vương vật cũ không đâu thế,

Vật đổi sao dời độ mấy thu

Trong đền còn một đôi câu đối khá tiêu biểu ghi nhớ công ơn của vị thần:

Phù quốc lộ ư La Thành, vạn cổ uy thanh truyền mã tích

Ngật tôn từ vu giang tứ, thiên thu vượng khí trấn Long Biên.

Giúp nước thịnh ở La Thành, muôn thuở uy danh truyền dấu ngựa.

Bên sông nước, nghìn năm vượng khí giữ Long Biên.

Trải qua bao biến thiên nhưng đền thờ “Long Đỗ thần quân quảng lợi Bạch Mã đại vương” vẫn nguy nga, tiếng anh linh còn mãi./.

(Tụng Thành Hoàng Chân Kinh công đức vạn bội, suốt đời no đủ, dư dả.)

Chút Suy Nghiệm Về Lễ “Tán Hoa Cúng Phật” / 2023

Hoa là tinh túy của các loài thảo mộc, là sự kết tinh từ quá trình phát triển tự nhiên của một mầm sống thực vật. Hoa lan tỏa hương thơm dịu dàng như một chất liệu thanh khiết làm cho tâm ta cảm giác an nhiên thanh tịnh; vì thế mỗi khi thành tâm dâng hoa lên cúng dường chư Phật mười phương cùng thánh Tăng ta sẽ được công đức vô lượng. “Rải hoa trang nghiêm tịnh quang minh Trang nghiêm hoa báu làm màn trướng, Rải các hoa báu biến mười phương, Cúng dường tất cả chư Như Lai“

Bài kệ trên đã cho ta thấy ý nghĩa quan trọng của việc dâng hoa cúng Phật”. Hoa còn được biểu thị trang nghiêm thân Phật, như tướng hảo quang minh của Phật. Hoa có đặc tính thơm tho trang nghiêm thanh tịnh, cho nên hoa là một trong các phẫm vật được dâng lên cúng Phật từ xa xưa cho đến ngày nay, vì Hoa tiêu biểu cho bố thí, vì có bố thí thì khiến người sanh hoan hỷ, còn hương tiêu biểu cho trì giới, vì có trì giới thì hạnh nghiệp thơm lừng. Trong kinh Phật thường đề cập đến các loại hoa, như trong phẩm Thí Dụ kinh Pháp Hoa có nói rằng: “Nếu lúc muốn đi thì có hoa báu đỡ chân…” hay trong phẩm Hoa kinh Pháp Cú “Hương các loại hoa thơm, không ngược bay chiều gió; Nhưng hương người đức hạnh, ngược gió khắp tung bay; Chỉ có bậc chân nhân, tỏa khắp mọi phương trời. Hoa Chiên đàn, Già la, Hoa sen, hoa Vũ quý, giữa những hương hoa ấy, giới hương là vô thượng“.

Với ý nghĩa của việc cúng hoa trong Phật giáo thể hiện lòng tín tâm hướng về Tam bảo, đồng thời đối với những người hành giả cũng là việc gieo trồng công đức phước báu, trí huệ tốt đẹp trong cuộc sống hiện tại và tương lai; Với tình cảm gắn kết giao lưu văn hóa tâm linh giữa hai dân tộc Việt-Nhật nói chung và tình Đạo Pháp giữa Tu viện Khánh An với Tăng đoàn Phật giáo Tịnh độ tông nói riêng do Hòa thượng  Yoshimizu Daichi – Nguyên Tông trưởng Tịnh Độ tông Nhật Bản làm trưởng đoàn cùng các chư Tăng Ni thuộc Tịnh độ tông Nhật Bản đã có chuyến viếng thăm và Tán hoa cúng dường Tam bảo tại Tu viện Khánh An vào sáng ngày 27/11/2018 (nhằm ngày 21/10 ÂL).

Hòa thượng  Yoshimizu Daichi – Nguyên Tông trưởng Tịnh Độ tông Nhật Bản

Chuyến viếng thăm lần này của Tăng đoàn Tịnh độ tông Nhật Bản đã giúp cho hàng Phật tử đạo tràng Khánh An được hiểu hơn về ý nghĩa và lễ tán hoa cúng dường chư Phật, một truyền thống Phật giáo Tịnh độ tông được truyền thừa cho đến ngày nay tại Nhật Bản.                                               

Nguyễn Hưng-Minh Trí

Cập nhật thông tin chi tiết về Về Nơi Bà Triệu Được Suy Tôn Thành Hoàng Làng / 2023 trên website Apim.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!