Xu Hướng 2/2024 # Về Nơi Bà Triệu Được Suy Tôn Thành Hoàng Làng # Top 8 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Về Nơi Bà Triệu Được Suy Tôn Thành Hoàng Làng được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Apim.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Về nơi Bà Triệu được suy tôn Thành Hoàng làng

Thành Hoàng làng được thờ ở đình Phú Điền, xã Triệu Lộc, huyện Hậu Lộc chính là Bà Triệu, một trong những vị anh hùng dân tộc trong lịch sử Việt Nam.

Đình làng Phú Điền, xã Triệu Lộc, huyện Hậu Lộc (Thanh Hóa) vốn là một trong những ngôi đình cổ mang nhiều nét độc đáo, hiếm có của Việt Nam. Đặc biệt, Thành Hoàng làng được thờ trong đình chính là Bà Triệu, một trong những vị anh hùng dân tộc trong lịch sử Việt.

Nhắc đến Bà Triệu, hậu thế nhớ đến hình ảnh vị nữ tướng anh hùng trong cuộc chiến chống giặc Ngô xâm lược đầu thế kỷ thứ 3 ở đất Cửu Chân (Thanh Hóa ngày nay).

Bà Triệu (tên là Triệu Thị Trinh, còn gọi là Trinh Nương, hay Triệu Ẩu), sinh năm 226, người huyện Quân Yên (Quan Yên), quận Cửu Chân. Bà có dung mạo hơn người, võ nghệ cao cường, có hoài bão lớn thể hiện qua câu nói nổi tiếng: “Tôi muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá trường kình ở biển Đông, đánh đuổi quân Ngô giành lại giang sơn, cởi ách nô lệ, chứ không chịu khom lưng làm tỳ thiếp cho người!”.

Năm 248, Bà Triệu cùng anh trai Triệu Quốc Đạt tập hợp trai tráng trong vùng tụ nghĩa chống lại ách đô hộ nhà Ngô. Một thời gian ngắn sau, Triệu Quốc Đạt lâm bệnh qua đời, Bà được tướng sĩ tôn làm Chủ tướng. Trước sức mạnh của quân ta, các thành ấp của quân Ngô ở Cửu Chân lần lượt bị đánh hạ. Cuộc khởi nghĩa phát triển, lan rộng ra các vùng Giao Chỉ, kéo dài vào tận Nhật Nam. Trước tình hình đó, Ngô vương Tôn Quyền đã phải cử viên tướng Lục Dận làm Thứ sử đem quân sang đàn áp.

Theo đó, từ núi Ngàn Nưa, nữ tướng Triệu Trinh Nương đã lãnh đạo nghĩa quân tiến xuống đồng bằng, chiến đấu với quân xâm lược. Tuy nhiên, do kẻ thù gian xảo, cùng với tương quan lực lượng chênh lệch khiến cho cuộc khởi nghĩa rơi vào khó khăn, bế tắc. Không chấp nhận khuất phục, Triệu Ấu đã một mình lên đỉnh Tùng Sơn (xã Triệu Lộc ngày nay) tuẫn tiết khi mới tròn 23 tuổi.

Cảm thương cho vị nữ tướng anh hùng, quân sĩ và người dân làng đã cùng nhau đắp mộ cho bà ngay trên đỉnh núi Tùng, để muôn đời tưởng nhớ.

Di tích đình Phú Điền, xã Triệu Lộc, huyện Hậu Lộc hiện vẫn còn lưu giữ 64 sắc phong cổ có ấn chỉ qua các triều đại phong kiến trong lịch sử Việt Nam.

Cụ Phan Văn Tào (86 tuổi), làng Phú Điền, xã Triệu Lộc bộc bạch: “Bà Triệu không chỉ là vị nữ tướng anh hùng của dân tộc, với Nhân dân Phú Điền suốt cả nghìn năm qua, bà chính là vị thần đã giúp đỡ, phù trợ cho sự phát triển, no đủ và yên lành của người dân chúng tôi”.

Người dân Phú Điền xưa nay vẫn tin rằng, sau khi tuẫn tiết trên đỉnh núi Tùng (xã Triệu Lộc) thì Bà Triệu vẫn luôn dõi theo và phù trợ cho đất nước, Nhân dân. Khi đất nước gặp nguy nan trước họa ngoại xâm, bà hiển ứng giúp đấng quân vương đánh tan kẻ thù. Khi làng quê thanh bình trở lại, Bà lại “giúp đỡ” cho mùa màng được tốt tươi, cuộc sống no đủ, trù phú.

Có lẽ, cái tên Phú Điền cũng bắt đầu từ ước vọng giàu có của người dân. Chính vì niềm tin ấy, từ thế kỷ thứ 7, dân làng Phú Điền đã cùng nhau lập nên ngôi đền nhỏ ngay giữa làng để thờ vị vua Bà.

Đến khoảng thế kỷ 18, một ngôi đình làng bằng gỗ khang trang, bề thế ngay bên ngoài ngôi đền nhỏ đã được khởi dựng và Bà Triệu chính thức được suy tôn là Thành Hoàng làng, vị thần bảo trợ cho dân làng Phú Điền. Niềm tin tâm linh ấy được truyền tiếp, đời nối đời, là mạch nguồn văn hóa, góp phần làm nên niềm tự hào của một vùng đất.

Truyền thuyết địa phương vẫn còn lưu truyền câu chuyện Bà Triệu phù trợ cho vua Lý đánh thắng giặc Ai Lao. Theo đó, trên đường hành quân về phương Nam, qua vùng đất này, đêm xuống nằm nghỉ ngơi, nhà vua đã nằm mộng thấy điều kỳ lạ, dù mộng nhưng lại rất thực. Tỉnh dậy hỏi dân làng thì được biết đây là vùng đất mà vị vua Bà đã yên giấc ngàn thu. Ngay hôm sau, nhà vua đã cho sắm sửa lễ vật cùng lời khẩn nguyện xin Bà Triệu giúp đỡ. Sau khi thắng trận khải hoàn trở về, không quên ơn phù trợ của thần linh, đấng quân vương đã phong cho Bà là “Thượng đẳng Đại vương”, đó là vào năm 1037. Nhân dân trong làng cũng được miễn phu thuế ba năm.

Đã từng nhiều năm làm thủ từ, ông Đặng Văn Cường tự hào chia sẻ: Việc xây dựng đình làng Phú Điền cũng hết sức đặc biệt. Hai đội thợ Đạt Tài và Đông Hưng được mời đến, mỗi đội đảm trách thực hiện một phần công trình và khi hoàn thiện thì được dân làng “chấm điểm”. Vậy nên ngày nay, đến thăm đình Phú Điền, người tinh ý có thể nhận ra sự khác nhau giữa những chạm khắc hoa văn còn lưu giữ tại đình. Đây là một ngôi đình cổ mang đậm kiến trúc độc đáo, hiếm có của đồng bằng Bắc bộ.

Trải qua hàng trăm năm, di tích đình Phú Điền vẫn được xem là công trình kiến trúc cổ điển hình với nhiều giá trị về niên đại thời gian, ý nghĩa tâm linh và kiến trúc nghệ thuật. Đặc biệt, đến nay tại di tích đình Phú Điền hiện vẫn còn lưu giữ 64 sắc phong cổ có ấn chỉ qua các triều đại phong kiến trong lịch sử. Và đó được xem như báu vật của làng.

Ông Lê Ngọc Doãn, Chủ tịch UBND xã Triệu Lộc, huyện Hậu Lộc, cho biết: Hằng năm, từ ngày 19 đến 24-2 âm lịch, Nhân dân và du khách thập phương lại đổ về dự hội với dân để tưởng nhớ Bà Triệu. Vào dịp này đình làng Phú Điền có tổ chức nghi thức hội với trò diễn “Ngô, Triệu giao quân” khá hấp dẫn. Nhưng có lẽ, nghi thức rước bóng (rước kiệu quay) mang nhiều yếu tố tâm linh vẫn được nhiều du khách đặc biệt chú ý.

Theo đó, sau khi kết thúc phần tế lễ, dân làng Phú Điền sẽ rước kiệu từ đền Bà Triệu dưới chân núi Gai về đình Phú Điền, lên đền Eo, đến khu lăng mộ Bà ở đỉnh núi Tùng xin chân nhang rồi rước về đình làng thờ một ngày đêm. Đến ngày hôm sau thì rước kiệu trở về đền Bà Triệu (núi Gai). Và đến ngày 24-2 (âm lịch) thì dân làng cùng tập trung ở đình Phú Điền để làm lễ “giỗ” vua Bà.

“Trải qua bao biến cố thăng trầm của thời gian, người dân làng Phú Điền vẫn xem đây là một nghi thức tâm linh, nét đẹp văn hóa trong đời sống tinh thần. Cứ thế, từ đời này sang đời khác, người dân nơi đây vẫn luôn gìn giữ, phát huy những giá trị tốt đẹp của muôn đời để lại”, ông Lê Ngọc Doãn nói.

Hoài Thu

Chuyện Kể Ly Kỳ Về Thành Hoàng Làng Ở Hà Nội (1)

Vượt luồn qua con ngõ ấy là chạm ngôi đình Ứng Thiên mà cách đây gần 1.000 năm, chính vua Lý Thánh Tông đã cho dựng để thờ nữ thần giúp vua đánh bại giặc Chiêm Thành.

Đình Ứng Thiên trải qua gần 1000 năm tuổi.

Nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Nguyễn Khắc Xương dù đã rất yếu, nhưng khi nghe chúng tôi tham vấn về huyền tích nữ thần Hậu Thổ, một thần Hoàng làng mà hiện đang được thờ ở ngôi đình cổ này, thì cụ Xương nhanh nhẻo hẳn. Một phần cũng vì từ lâu, cụ đi tầm các tư liệu chính thống về nữ thần Hậu Thổ mà chưa được tỏ tường. Duy có một tư liệu nói về nguồn gốc lập dựng đình Ứng Thiên. Đó là “Báo Cực truyện”. Sách này chép: Xưa kia, Lý Thánh Tông nam chinh Chiêm Thành, đến cửa biển Hoàn Hải thoắt bị gió to mưa lớn, sóng cuộn ầm ầm, long thuyền dao động cơ hồ muốn chuyển; nguy cấp không ngờ, vua rất lo sợ. Giữa lúc đang bàng hoàng, vua bỗng thấy một người con gái ước độ hai mươi tuổi, mặt tựa hoa đào, mày đậm màu dương liễu, mắt sáng như sao, miệng cười như hoa nở; nàng mặc áo trắng, quần lục, lưng mang đai, dịu dàng bước đến bạch với vua rằng:

Thiếp là tinh của đại địa Nam Quốc, thác cư ở làng Thuỷ Vân đã lâu lắm, xem thời mà ra nếu gặp được lúc tốt. Bây giờ gặp được long nhan, chí nguyện sinh bình được thỏa, cúi xin Bệ hạ chuyến đi này nên hết sức mẫn cán, toàn thu hoạch thắng lợi. Thiếp tuy là bồ liễu mong manh cũng nguyền đem sức mọn mặc nhiên phù tá Bệ hạ; ngày khải hoàn, thiếp xin chờ đây để bái yết. Nói đoạn biến mất. Vua kinh hãi tỉnh giấc, nhưng lại hoan hỉ triệu tả hữu đến, thuật chuyện trong mộng; tăng thống Huệ Lâm Sinh tâu rằng: Thần có nói là thác sinh trên cây, ở làng Thuỷ Vân, bây giờ nên tìm ở cây hoặc giả có linh nghiệm gì chăng?

Nhà nghiên cứu Nguyễn Khắc Xương cho rằng: “Báo Cực truyện” tuy không phải nguồn sử liệu mang tính chính thống; ngược lại còn mang nhiều huyền tích liêu trai, nhưng dù sao đó gần như là tư liệu duy nhất, đầy đủ nhất để nói về Hậu Thổ phu nhân.

15 đạo sắc phong.

“Báo Cực truyện” cũng viết tiếp sau lời tâu của tăng thống Huệ Lâm Sinh, rằng: Vua cho là phải, mới bảo người tùy tùng đi tìm ở các bãi sông quả nhiên được một cái cây, đầu rất giống người, hình như có dấu sơn cũ giống trong giấc mộng. Vua mới lập hiệu là Hậu Thổ phu nhân, đặt hương án trong ngự thuyền, tự nhiên sóng gió im lặng, cây cối hết lay chuyển.

Kịp lúc vua đến Chiêm Thành, trong khi giáp trận như có Thần giúp, được đại thắng. Ngày khải hoàn, ngự thuyền đậu lại chỗ cũ, sắc lệnh lập đền, gió mưa lại nổi như xưa. Sư Huệ Lâm tâu: Để xin một keo, về Kinh Sư sẽ lập đền. Xin một keo liền được ngay. Về đến kinh đô, vua bảo thầy xem đất, xây đắp đền thờ ở làng An Lãng, rất có linh ứng, hễ có người nào phỉ báng nguyền rủa, lập tức mắc phải tai họa.

Thời vua Anh Tông, nhân trời đại hạn, quần thần xin đắp một cái đàn hình tròn ở Nam Giao để tế trời, thỉnh Nguyên Quân làm đàn chủ. Nguyên Quân cho vua nằm thấy rằng: Bản bộ có thần Câu Mang làm mưa rất giỏi. Vua lấy làm mừng mới hội nghị quần thần lại, định rước thần Hậu Tắc phối với trời, thần Hậu Thổ phối với đất, lập đàn ở Nam Giao mà đảo. Quả nhiên được mưa to xối xả. Vua cả mừng, sắc hạ rằng: Hậu Thổ Phu Nhân có Câu Mang Thần Quân là chủ về việc mùa xuân; từ nay về sau phàm đến lễ Lập Xuân có con trâu đất phải đem về nạp ở đền thờ.

Niên hiệu Trùng Hưng năm đầu, sắc phong Hậu Thổ Thần Địa Kỳ Nguyên Quân. Năm thứ tư, gia phong hai chữ Nguyên Trung. Năm Hưng Long 21, gia phong bốn chữ Ứng Thiên Hóa Dục.

Các cán bộ Ban quản lý di tích đình Ứng Thiên cho biết, đình này còn có tên gọi dân gian là đình Mẫu. Cùng với việc thờ Hậu Thổ phu nhân, đình còn phối thờ hai vị đại vương khác làm Hoàng làng. Đó là hai vị thần không có tên tuổi cụ thể, được gọi là “thần mưa” và “thần gió”. Theo huyền tích, thì hai vị đại vương là người giúp việc cho Hậu Thổ phu nhân trong việc hô mưa gọi gió khi nhân gian cầu khấn.

Chiếc chuông đồng cổ đình Ứng Thiên.

Theo bật mí của một cán bộ quản lý, thì hiện nay đình Ứng Thiên còn giữ được tổng thảy 15 đạo sắc phong các triều phong kiến. Cùng với đó là chiếc chuông đồng quý giá và một số vật cúng tế từ thời lập đình. Hiện nay, qua nhiều lần tôn tạo, đình Ứng Thiên khá khang trang. Sân đình lát gạch đỏ, các cột kèo được tu bổ chắc chắn. Còn lại 3 cây cổ thụ khá lớn, gồm một cây mít và hai cây muỗm.

Nhiều nhà nghiên cứu khi đến đình Ứng Thiên đều trầm trồ về kiến trúc tinh xảo và đặc sắc ở các phù điêu hình rồng, hình hoa văn thực vật, vân mây trên thần kẻ của nhà tiền tế và cung cấm. Đặc biệt, những mảng chạm nổi trên côn-nê đỡ mái dưới phương đình thể hiện tài hoa của những hiệp thợ mộc xưa.

Hiện nay, đình Ứng Thiên còn giữ được bảo vật mà hiếm có đình nào có được, đó là ba thần tượng cổ kính. Cùng với đó là hai bức hoành phi: Trợ Lý bình Chiêm/Phù Trần bãi vũ.

Hai bên ban thờ vẫn còn rõ mồn một câu đối hay khắc chữ theo lối đá thảo: “Ỷ mộc thế nhân vân tắc y trường kinh đế mộng phù Trần, trợ Lý – Hạn cam vũ lộ phúc dân sinh” – xin lược dịch: Nương cây, ẩn bóng xiêm áo mây hồng kinh mộng đế giúp Lý phù Trần/Nắng lâu mưa ngọt phúc ban dân”.

Bài Văn Khấn Thành Hoàng Làng Tại Đình, Đền, Miếu Chuẩn Nhất 2024

Văn khấn Thành Hoàng làng sử dụng tại đình, đền, miếu thường được sử dụng khi nào? Và cần đọc sao cho đúng, cho chuẩn xác để tỏ lòng tôn tính với bề trên. Hãy cùng tham khảo bài viết dưới đây.

Đình, đền, miếu thờ phụng ai?

Từ bao đời nay, đình làng đã là nơi gắn bó với tâm hồn của bao người con đất Việt. Đình là là nơi chứng kiến bao nhiêu hình ảnh sinh hoạt, lề thói và đổi thay trong đời sống xã hội của mỗi miền quê Việt Nam. Nhưng có một điều mãi không thay đổi – đó là những giá trị mà ngôi đình bao đời thờ cúng.

Đình

Đình là công trình kiến trúc cổ truyền gắn liền với làng quê Việt Nam. Đình là chốn tụ họp, hội hè của người dân cũng là nơi thờ cúng đức thánh Thành Hoàng của ngôi làng.

Về xuất phát ban đầu, đình là nơi dừng trạm để nghỉ của các làng mạc Việt Nam. Đến thời nhà Trần, vua Trần Nhân Tông cho đắp các tượng Phật ở các đình quán. Sau đó, vào thời Lê sơ – khoảng thế kỉ XV, các đình làng bắt đầu là nơi thờ Thành Hoàng làng và là nơi hội họp của dân chúng.

Đình làng thường được bố trí ở mảnh đất cao nhất trong làng, là trung tâm làng xã, địa điểm thoáng đãng nhìn ra sông nước. Trong tiềm thức văn hóa người Việt, đình làng gắn liền với hình ảnh cây đa, giếng nước, là địa điểm sinh hoạt chung và hồn vía của làng xã.

Đền

Đền là công trình kiến trúc được xây dựng để thờ cúng một vị thần hoặc một danh nhân quá cố. Ở Việt Nam, các đền thờ thường được xây dựng để ghi nhớ công ơn của các vị anh hùng có công với đất nước hay công đức của một cá nhân với địa phương được dựng lên theo truyền thuyết dân gian (ví dụ như ông Tổ của các làng nghề).

Thông thường, đền và đình của một ngôi làng cùng dùng để thờ cúng một vị hoặc cả vợ chồng vị thánh bảo hộ ngôi làng. Theo quan niệm dân gian, đền là nơi ở, nghỉ của đức thánh vào ngày thường, còn đình là nơi đức ngài làm việc, ghi nhận đức tin của người dân trong làng.

Miếu

Miếu là một dạng di tích văn hóa trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam, có quy mô nhỏ hơn đền. Miếu thường được đặt ở xa làng xã, là nơi yên tĩnh, thiêng liêng và thờ các vị thánh thần. Khi miếu phối hợp với thờ Phật thì được gọi là Am, ở Nam Bộ còn gọi là Miễu.

Miếu và đền về kiểu mẫu thì giống nhau, chỉ khác nhau về quy mô. Các miếu thường thờ các tiểu thần như miếu thổ thần, thủy thần, sơn thần, miếu cô, miếu cậu…

Tham khảo đồ thờ đá sử dụng trong các công trình kiến trúc tâm linh.

Khi làm lễ cúng bái tại đình, đền, miếu cần chuẩn bị những gì?

Ngày nay, theo nếp xưa người Việt Nam ở khắp mọi miền đất nước hàng năm vẫn đi lễ, đi trẩy Hội ở các Đình, Đền, Miếu vào các ngày lễ, tết, tuần tiết, sóc, vọng và ngày Hội, để tỏ lòng tôn kinh, ngưỡng mộ biết ơn các bậc Tôn thần đã có công với đất nước.

Đình, Đền, Miếu cùng với sự lưu truyền sự linh diệu của các thần trong nhiều trường hợp đã đi vào trang sử oai hùng của dân tộc Việt Nam góp phần không nhỏ vào việc duy trì tình cảm yêu nước.

Nơi thờ tự Đình, Đền, Miếu còn là những nơi sinh hoạt tâm linh, tín ngưỡng. Con người hy vọng rằng bằng những hành vi tín ngưỡng, có thể cầu viện đấng Thần linh phù hộ cho bản thân, cùng gia đình, cộng đồng được an khang, thành đạt và thịnh vượng, yên bình, biến hung thành cát, giải trừ tội lỗi…

Việc chuẩn bị đồ lễ kĩ càng một phần tỏ tường lòng thành kính của người đi lễ với bậc thánh thần. Có như vậy mới mong điều ước sớm tới tai bề trên, được ngài soi xét, phù trợ

Tham khảo cách sắm lễ cầu may khi đến Đình, Đền, Miếu, Phủ.

Bài văn khấn Thành Hoàng làng tại đình, đền, miếu

– Con lạy chín phương trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.

– Con kính lạy Hoàng Thiên Hậu Thổ chư vị Tôn thần.

– Con xin kính lạy ngài Kim Niên Đương cai Thái tuế chí đức Tôn thần.

– Con kính lạy ngài Bản cảnh Thành Hoàng chư vị Đại Vương.

Hưởng tử con là …………………………………………………… Tuổi ………………………….

Ngụ tại…………………………………………………………………………………………………….

Hôm nay là ngày…… tháng……năm…..( âm lịch)

Hương tử con đến nơi ………………………………………….. (Đình hoặc Đền hoặc Miếu) thành tâm kính nghĩ: Đức Đại Vương nhận mệnh Thiên đình giáng lâm ở nước Việt Nam làm Bản cảnh Thành Hoàng chủ tể một phương bấy nay ban phúc lành che chở cho dân. Nay hương tử chúng con thành tâm dâng lên lễ bạc, hiến tế hương hoa, phẩm oản…

Cầu mong đức Bản cảnh Thành hoàng chư vị Đại Vương chứng giám, rủ lòng thương xót, phù hộ che chở cho chúng con sức khoẻ dồi dào, mọi sự tốt lành, lắm tài nhiều lộc, an khang thịnh vượng, sở cầu như ý, sở nguyện tòng tâm. Hương tử con lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ, cúi xin được phù hộ độ trì. Phục duy cẩn cáo!

Trên đây là ý nghĩa sử dụng của các công trình đình, đền, miếu và bài văn khấn Thành Hoàng làng dùng khi dâng lễ tại những nơi này. Hy vọng bài viết này sẽ giúp ích cho bạn và người thân mỗi dịp sửa lễ dâng lên đức Thành Hoàng. Xin cảm ơn!

Nghi Thức Thành Phục (Thọ Tang) – Làng Mai

1. (Kệ Mở Kinh)

Nam mô đức Bổn Sư Bụt Thích Ca Mâu Ni (ba lần) (C)Pháp Bụt cao siêu mầu nhiệmCơ duyên may được thọ trìXin nguyện đi vào biển tuệTinh thông giáo nghĩa huyền vi. (C)

2. (Khai Thị)

Thân này không phải là tôiTôi không kẹt vào nơi thân ấyTôi là sự sống thênh thangTôi chưa bao giờ từng sinh mà cũng chưa bao giờ từng diệtNhìn kia biển rộng trời caoMuôn vàn tinh tú lao xaoTất cả đều biểu hiện tôi từ nguồn linh tâm thứcTự muôn đời tôi vẫn tự doTử sinh là cửa ngõ ra vàoTử sinh là trò chơi cút bắtHãy cười cùng tôiHãy nắm tay tôiHãy vẫy tay chào để rồi tức thì gặp lạiGặp lại hôm nayGặp lại ngày maiChúng ta đang gặp nhau nơi suối nguồnChúng ta sẽ gặp nhau từng phút giây trên muôn ngàn nẻo sống.(C)

3. (Pháp Ngữ)

Công Cha như núi Thái SơnNghĩa Mẹ như nước trong nguồn chảy raCầu ơn Tam Bảo độ choCháu con đảnh lễ, hiếu hòa một tâm. (C)

4. (Trì Tụng)

Tây phương không xa cáchTây phương trước mặt ngườiNgàn sông về biển lớnTrăng lặn không lìa trờiÂm dương không cách trởSinh tử vẫn tương dungNiệm Bụt cầu siêu độLắng nghe xin một lòng. (C)

(Vị chủ lễ xướng, hoặc đọc theo văn Điệp siêu độ)

5. (Niệm Bụt)(Vị chủ lễ xướng thật lớn và rõ ràng)

Sông Ái dài muôn dặmBiển Mê sóng vạn tầmCõi luân hồi muốn thoátNiệm Bụt hãy nhất tâm.

(đồng tụng, mỗi danh hiệu ba lần)Nam mô Bổn Sư Bụt Thích Ca Mâu Ni (C)Nam mô Bụt Dược Sư Lưu Ly (C)Nam mô Bụt A Di Đà (C)Nam mô Bồ Tát Đại TríVăn Thù Sư Lợi (C)Nam mô Bồ Tát Đại Hạnh Phổ Hiền (C)Nam mô Bồ Tát Đại Bi Quan Thế Âm (C)Nam mô Bồ Tát Đại Nguyện Địa Tạng Vương. (CC)

6. (Thọ Nhận Tang Phục)(Vị chủ lễ xướng)

Núi Tản đức khó báoSông Hồng công khôn đềnTrước linh nhận tang phụcHiếu hạnh nguyền không quên. (C)(từng người đi lên quỳ xuống nhận tang phục. Nhận và mặc tang phục xong, mỗi người lạy hai lạy.)

7. (Trì Chú) (mỗi chú ba lần)

(Chơn Ngôn Diệt Tội Của Bảy Đức Bụt )Ly bà ly bà đế, cầu ha cầu ha đế, đà ra ni đế, ni ha ra đế, tỳ lê nễ đế, ma ha dà đế, chơn lăng càn đế, ta bà ha. (C)

(Chơn Ngôn Quyết Định Vãng Sanh)Nam mô a di đa bà giạ, đá tha già đá giạ, đa địa dạ tha, a di lỵ đô bà tỳ, a di lỵ đa tất đam bà tỳ, a di lỵ ca tỳ ca lan đế, a di lỵ đa tỳ ca lan đa, dà di nị dà dà na, chỉ đa ca lệ, ta bà ha. (C)

(Chơn Ngôn Biến Thực)Nam mô tát phạ đát tha nga đa phạ rô chỉ đế, án, tam bạt ra, tam bạt ra hồng. (C)

(Chơn Ngôn Biến Thủy)Nam mô tô rô bà gia, đá tha nga đá gia, đát điệt tha, án, tô rô, tô rô, bạt ra tô rô bạt ra tô rô, ta bà ha. (C)

(Chơn Ngôn Cúng Dường Phổ Biến)Án nga nga nẳng tam bà phạ phiệt nhật ra hộc. (CC)

8. (Quay Về Nương Tựa)

Con về nương tựa Bụt, người đưa đường chỉ lối cho con trong cuộc đời.Con về nương tựa Pháp, con đường của tình thương và sự hiểu biết.Con về nương tựa Tăng, đoàn thể của những người nguyện sống cuộc đời tỉnh thức. (C)Đã về nương tựa Bụt, con đang có hướng đi sáng đẹp trong cuộc đời.Đã về nương tựa Pháp, con đang được học hỏi và tu tập các pháp môn chuyển hóa.Đã về nương tựa Tăng, con đang được tăng thân soi sáng, dìu dắt và nâng đỡ trên con đường thực tập. (C)Về nương Bụt trong con, xin nguyện cho mọi người,thể nhận được giác tính, sớm mở lòng Bồ Đề.Về nương Pháp trong con, xin nguyện cho mọi người,nắm vững các pháp môn, cùng lên đường chuyển hóa.Về nương Tăng trong con, xin nguyện cho mọi người, xây dựng nên bốn chúng, nhiếp hóa được muôn loài. (CC)

9. (Hồi Hướng)

Trì tụng kinh thâm diệuTạo công đức vô biênĐệ tử xin hồi hướngCho chúng sinh mọi miền. (C)Pháp môn xin nguyện họcÂn nghĩa xin nguyện đềnPhiền não xin nguyện đoạnQuả Bụt xin chứng nên. (C)Nguyện sinh về Tịnh ĐộSen nở thấy vô sinhChư Bụt và Bồ TátLà những bạn đồng hành. (C)Nguyện dứt hết phiền nãoCho trí tuệ phát sinhCho tội chướng tiêu tánQuả giác ngộ viên thành. (CCC)

Thờ Cúng Cha Mẹ Hay Ông Bà Quá Vãng Nhiều Nơi Có Được Không?

Ngày nay, thì có khác. Tuy người Việt mình cũng vẫn duy trì phong tục thờ cúngtheo lệ cổ truyền đó. Nhưng vì hoàn cảnh xã hội, nhất là hoàn cảnh sinh sống hiện nay của mỗi người mỗi khác. Vì nhu cầu sự sống, hoặc vì một hoàn cảnh đặc biệt nào đó mà người Việt mình phải sinh sống rải rác mỗi nơi cách xa nhau. Kẻ ở nước này, người nước nọ. Những gia đình có con cháu đông, thì họ sinh sống rải rác nhiều nơi trên thế giới. Vì đường xá xa xôi cách trở, nên việc họp mặt với nhau trong ngày kỵ giỗ thì thật là bất tiện. Do đó, nên người ta phải linh động uyển chuyển mà thờ cúng ông bà cha mẹ ở mỗi nơi khác nhau.

Ðiều quan trọng, tuy con cháu thờ cúng ở mỗi nơi khác nhau, nhưng tinh thần của mỗi người qua lời cầu nguyện hướng về người thân vẫn là hợp nhất. Như trường hợp cha mẹ chết ở Việt Nam hay ở Mỹ chẳng hạn, thì người con ở Úc cũng có thể thiết lập bàn thờ để thờ cúng cha mẹ hoặc ông bà của mình. Ðiều này, theo tôi, thì không có gì là sai trái cả. Vì hoàn cảnh bất như ý, kỳ thật trong thâm tâm không ai muốn như thế. Vả lại, đây chỉ là hình thức tưởng niệm, kỳ thật đâu có ông bà cha mẹ nào chờ đợi cho con cháu cúng mình.

Thử hỏi một năm 365 ngày mà con cháu chỉ cúng cho ông bà cha mẹ ăn có một lần, còn lại 364 ngày khác, thì cha mẹ, ông bà phải chịu chết đói chết khát hết hay sao? Hiểu thế, thì chúng ta mới thấy tục lệ thờ cúng tổ tiên ông bà cha mẹ của chúng ta, là nhằm nói lên tinh thần tri ân và báo ân, hướng về cội nguồn, theo một nền văn hóa hiếu đạo thật sâu sắc tuyệt vời của người Việt Nam. Ðây mới chính là bản sắc văn hóa cổ truyền có gốc rễ vững chắc cấm sâu vào lòng dân tộc từ ngàn xưa và mãi đến ngàn sau vậy.

Đĩa Hoa Ngày Rằm Tiền Triệu, Dân Hà Thành Kính Ông Bà Mùi Hương Cổ Tích

Những mẹt hoa, mâm hoa xếp đầy thị, hoa nhài, hoàng lan, mẫu đơn, ngọc lan,… có giá từ vài trăm đến tiền triệu được người dân Hà thành “xếp hàng” đặt mua về cúng rằm tháng 7. Nhiều cửa hàng còn từ chối khách vì quá tải.

Chị Hoàng Thị Hạnh ở Phương Mai (Đống Đa, Hà Nội) vừa nhận được hai mâm hoa thị đặt mua hôm trước, chị liền khoe: “Hết 2 triệu đồng cho 2 mâm này. Nhưng đặt được vẫn còn may đấy, chứ mấy người bạn tôi đặt muộn cửa hàng không nhận đơn vì quá tải”.

Chỉ vào mâm hoa gồm có mấy quả thị được xếp cùng hoa nhài, hoàng lan, mẫu đơn, ngọc lan, hoa cau,… chị chia sẻ, Rằm tháng 7 năm nào nhà chị cũng làm cỗ chay nên chị rất thích đặt mấy mâm hoa hay mẹt hoa thị kiểu này về cúng vì toàn hoa thơm trái thơm. Cúng xong để những loại hoa quả này trong phòng, chúng tỏa hương thơm rất dễ chịu.

Theo chị Hạnh, ngày mùng một hay Rằm trong năm thường chị đặt mua khá dễ, nhưng vào dịp Rằm tháng 7 tương đối khó, chị phải đặt trước vài ngày vì hoa hiếm, cửa hàng không có nhiều.

Mẹt hoa hay mâm hoa là những mặt hàng hút khách dịp rằm tháng 7 dù giá tiền triệu

Cũng vừa đặt mua được một đĩa hoa với giá 500.000 đồng, chị Đào Thị Bích Liên ở Trương Định (Hoàng Mai, Hà Nội) cho hay, các loại hoa được bày hầu hết trước kia được trồng ở sân nhà. Thời đó, ở quê chị cứ đến mùa những loại hoa này hay mùa thị thì đi đâu cũng ngửi thấy mùi hương dễ chịu, tinh khiết. Giờ sống ở Hà Nội đất chật người đông, không còn chỗ trồng nữa chị đành chịu.

“Dịp này mùa thị chín, lại thấy có bán kèm với các loại hoa ngọc lan, cau, mẫu đơn, hoàng lan nên tôi đặt mua về cúng Rằm”, chị Liên nói.

Ghi nhận trên thị trường, các loại mẹt hoa thị, mân hoa hay đĩa hoa,… đang là mặt hàng cực kỳ đắt khách dịp Rằm tháng 7. Theo đó, loại mẹt gồm hoa nhài, hoa ngọc lan và thị sáp với đường kính từ 20-30 cm giá dao động từ 120.000-150.000 đồng/mẹt; mâm hoa có các loại hoa ngọc lan, hoàng lan, móng rồng, hoa cau, mẫu đơn,… có giá từ vài trăm ngàn cho tới 1,5 triệu đồng tuỳ kích cỡ và tuỳ số lượng hoa.

Trao đổi với PV. VietNamNet, chị Nguyễn Thị Vân – chủ một cửa hàng trái cây ở Trường Chinh (Đống Đa, Hà Nội), thừa nhận, dịp Rằm tháng 7 năm nay mặt hàng mẹt hoa thị đang được khách xếp hàng đặt mua.

Những mẹt hoa quả thơm ngát được nhiều người mua về cúng Rằm

Những ngày Rằm, mùng một trong năm khách đặt mẹt hoa thị khá nhiều, nhưng dịp tháng 7 âm lịch này mọi người có nhu cầu mua đi lễ, mua về cúng rằm nhiều hơn cả nên suốt từ đầu tháng đến giờ ngày nào chị cũng quá tải đơn hàng. Nhiều hôm chị phải báo hết hàng từ sớm.

Với những mẹt thị hoa có giá từ 150.000-200.000 đồng chỉ có hoa nhài, mẫu đơn, thị cùng vài bông ngọc lan điểm vào thì mỗi ngày cửa hàng cung cấp khoảng 60-70 mẹt. Bởi, những loại hoa, quả này tương đối dễ mua. Song, những ngày cận Rằm, nhu cầu của khách rất lớn, khách đặt sớm thì có hàng, đặt muộn thường sẽ phải chờ.

Riêng với những mâm hoa lớn, đường kính từ 35-40cm có nhiều loại hoa như móng rồng, hoàng lan, ngọc lan, mẫu đơn, hoa cau và quả thị thì giá tầm 1-2 triệu đồng tuỳ vào lượng hoa được xếp vào mâm ít hay nhiều.

“Những loại hoa này không nhiều, tôi phải gom mua tương đối vất vả, trong khi nhu cầu của khách mua cực lớn. Do đó, từ mùng 10 tháng 7 âm lịch cửa hàng đã dừng không nhận đơn của khách đặt nữa”, chị Vân cho hay.

Cập nhật thông tin chi tiết về Về Nơi Bà Triệu Được Suy Tôn Thành Hoàng Làng trên website Apim.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!