Ý Nghĩa Của Việc Mở Cửa Mã / Top 3 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 2/2023 # Top View | Apim.edu.vn

Ý Nghĩa Và Cách Cúng Mở Cửa Mã

Một trong những nghi thức trong tục cúng của người Việt Nam chính là lễ cúng mở cửa mả. Đây là nghi thức được tiến hành sau khi chôn cất người đã mất sau 3 ngày, với mục đích là giúp vong linh được siêu thoát. Và để có thể thực hiện nghi thức này một cách đúng đắn, bài viết sau đây sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về vấn đề: Cách cúng, văn khấn, bài cúng mở cửa mả.

Cách cúng mở cửa mả

Đối với việc cách cũng mở cửa mả, tuy là nghi thức quen thuộc, nhưng đối với nhiều người thì điều này vẫn còn khá mơ hồ, chính vì vậy, việc tiến hành nghi thức này vẫn còn nhiều thiếu sót. Và sau đây là cách cúng mở cửa mả hợp lý.

Đầu tiên là gia chủ cần chủ bị lễ vật hết sức tươm tất, cụ thể như sau:

Một cái than bằng bẹ chuối (nam 7 bặc, nữ 9 bặc), môt cây mía lao để cả ngon, một ít tiêng vàng mã

Hai bình bông, hai đĩa trái cây (1 cúng đất đai, 1 cúng vong)

Ba ống trúc dài khoảng bốn tấc vót nhọn một đầu: 1 đựng muối, 1 đựng nước, 1 đựng nước – bịt lại bằng nilon trên đầu

Bốn cây đèn cầy

Năm thứ đậu (100 gram chung cho 5 thứ), năm thẻ tre dài 4 tấc vót nhọn 1 đầu (để làm bài vị cúng ngũ phương ngũ thổ tôn thần)

Sáu chén chè, hai đĩa xôi, một bộ tam sênh (trứng, thịt, tôm)

Bảy cái chung, một bình trà, một xị rượu

Mười tám con chim để phóng sanh (thay cho gà)

Sau khi đã chuẩn bị những lễ vật cần thiết trên xong xuôi, thì tiếp theo bạn cần biết cách để sắp đặt chúng một cách hợp lý. Dưới đây là cách sắp xếp lễ cũng hợp lý mà các gia chủ cần tham khảo.

Đối với ba ống trúc có chứa gạo, muối và nước thì nên đặt ở dưới chân mộ, phần uống đặt dựa vào 3 ông trúc với nhau và để phái trên bài vị của người đã khuất.

Tiếp đến, các gia chủ nên dọn những lễ vật đã chuẩn bị trước đó như: chè, xôi, bông, trái cây, chung cúng trà rượu, giấy tiêng vàng mã trước mộ (dưới chân) để cúng vong và ở một nơi sạch sẻ gần đó để cúng thần.

Tiếp theo, tiến hành cắm năm thẻ trẻ đã dán bài vị ngũ phương ngũ tôn thần ở bốn gốc của mộ người khuất.

Cuối cùng, tiến hành thắp hương trước mộ và mân cúng thần cùng các bài vị tôn thần và những bài vị xung quanh đó.

Sau khi thực hiện xong xuôi những bước làm trên, thì tiếp theo các gia chủ sẽ bắt đầu thắp nhang và khấn xin những vị tôn thần dẫn dắt linh hồn người chết về nghe kinh, chứng minh lễ khai mộ.

Cùng lúc đó, các vị sư thầy sẽ tiến hành tụng kinh và thỉnh tôn thần và triệu linh, làm phép sái tịnh.

Trong khi các sư thầy tụng kinh là làm pháp thì các thành viên trong gia đình hãy lần lượt chia nhau mỗi người một ít đậu, một người đại diện cầm cây mía, lồng chim theo thầy đi quanh mộ vừa niệm phật, vừa rải đậu.

Khi đi đủ 3 vòng thì các thành viên trở lại vị trí ban đầu, rồi tiến hành phóng sanh chim, đốt giấy tiền vàng mã, lạy tạ tôn thần và dẫn vong trở về nhà cúng an linh.

Ý nghĩa của lễ cúng mở cửa mã

Tất nhiên mỗi nghi thức cúng lễ đều mang những ý nghĩa khác nhau, và tất nhiên cúng cửa mả cũng không phải là ngoại lệ. Theo quan niệm của ông cha ta, thì sau khi khi chôn người mất được 3 ngày, thì những người thân của người đã mất phải tiến hành mở cửa mả, để vong linh của người mất nhanh chóng siêu thoát.

Theo đó, cây thang nam bảy nấc, nữ chín nấc là để người chết leo ra khỏi huyệt mồ.

Năm thứ đậu và gạo muối cùng nước dùng để hồn người chết ăn uống cho no dạ.

Còn cây miá lau chín đốt là tượng trưng cho chín chữ cù lao, vì lau là lao đồng âm.

Còn con gà con để tượng trưng các con nay côi cút như gà con lìa mẹ.

Gà con còn được hiểu là gà linh, khi bị đánh nó kêu lên làm vong hồn người chết đang mê muội chưa biết mình đã chết, tỉnh ra.

Rất nhiều người thắc mắc rằng, liệu lễ cúng cửa mả có phải là nghi thức xuất phát từ phật giáo hay không? Câu trả lời cho vấn đề này chính là không, mà nghi thức này bắt nguồn từ lúc Lão giáo du nhập vào Việt Nam.

Với những người đã mất, chúng ta tuy có tâm hiếu đạo nhưng làm các việc không đúng Chánh pháp, tức không khéo chính mình trực tiếp xô đẩy người thân vào cảnh giới ác đạo. Đối với vòng luân hồi bất tận, thì chúng ta đã mang quá nhiều ân oán với người xấu số. Chính vì lẽ đó, mà những nghi thức đối với những người đã mất, phải được tiến hành hết sức quy củ và đúng đắng, để những vong linh của họ nhanh chóng siêu thoát và đầu thai.

– Ngũ phương Tôn Thần lai văn triệu thỉnh lai lâm.

* Nam mô nhứt tâm phụng thỉnh: Đương Sơn bổn Xứ phước Đức chánh thần. Ngũ Phương mộ trạch sứ giả Tôn Thần, lai đáo Đàn Tiền chứng minh pháp sự. Thọ thử cúng dường thùy từ gia hộ, tiếp triệu phục vì Vong chánh …

– Duy nguyện: Thừa Tam Bảo lực, trượng bí mật ngôn. Vong Linh lai đáo Mộ Phần, thính Pháp văn Kinh, thọ tài hưởng thực.

– Kiềng thiềng tửu châm sơ tuần. Lễ nhị … bái.

* Nam mô nhứt tâm phụng thỉnh: Thượng Hạ Truy Hồn tam sứ giả, Đông Tây thủ mạng nhị Thần Quan. Tiếp độ phục vì Vong chánh …

– Duy nguyện: Tam đồ lộ viễn, tiếp triệu lai lâm. Vong Linh lai đáo Đàn Tiền, thính Pháp văn Kinh, thọ tài hưởng thực.

– Kiềng thiềng tửu châm nhị tuần. Lễ nhị … bái.

* Nam mô nhứt tâm phụng thỉnh: Ngũ Phương Ngũ Đế, Chúa Ngung Phương Thần, cập tùng Bộ Hạ lai đáo Đàn Tiền chứng minh pháp sự, thọ thử cúng dường, thùy từ gia hộ. Tiếp triệu phục vì Vong Chánh … . Lai đáo Mộ Phần, thính Pháp văn Kinh, thọ tài hưởng thực.

– Kiềng thiềng tửu châm tam tuần. Lễ nhị … bái.

* Giáo hữu biến thực biến thủy chơn ngôn:

Nẳng mồ tát phạ đác tha nga đa, phạ lồ chỉ đế. Án tam bạt ra, tam bạt ra hồng. (3 lần).

Nẳng mồ tô rô bà da, đác tha nga đa da, đát điệt tha. Án tô rô, tô rô, bác ra tô rô, bác ra tô rô, ta bà ha. (3 lần).

Án nga nga nẳng tam bà, phạ phiệt nhựt ra hồng. (3 lần).

– Nhất đích thanh lương thủy, năng trừ cơ khát tai.

– Kiềng thiềng trà châm bảo mãn. Lễ nhị … bái.

A-Di-Ðà Phật thân kim sắc

Tướng hảo quang-minh vô đẳng-luân

Bạch hào uyển-chuyển ngũ tu-di

Cám mục trừng thanh tứ đại hải.

Quang trung hóa Phật vô số ức,

Hóa Bồ-tát chúng diệc vô-biên

Tứ thập bát nguyện độ chúng-sanh

Cửu phẩm hàm linh đăng bỉ ngạn

Nam mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Đại Từ Đại Bi Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật.

Nam mô A Di Đà Phật. (108 lần)

Nam mô Quán Thế Âm Bồ Tát. (3 lần)

Nam mô Đại Thế Chí Bồ Tát. (3 lần)

Nam mô Địa Tạng Vương Bồ Tát. (3 lần)

Nam mô Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát. (3 lần)

(Vừa niệm Phật vừa dẫn Gia Đình kéo Gà đi quanh Mộ).

– Kim Kê thăng giáng, thần thức linh thông. Tiếp dẫn Vong Linh, giải trừ Quỉ Mị. Hung thần tốc xuất, kiết địa tân khai. Thổ Thần ủng hộ hình hài. Vong Giả tiêu diêu tự tại. (Cho Gà leo thang)

Thần Kê nhất thượng từng đàng Chư Phật chứng minh.

Thần Kê nhì thượng từng đàng Vong Giả siêu sanh Tịnh Độ.

Thần Kê tam thượng từng đàng Tang Chủ phước thọ tăng long.

(Cho Gà ăn đậu, uống rượu. Thả gà)

* Tụng Chú Táng Sa: (Rải đậu, Mè)

– Án a mộ già vĩ lô tả nẵng, ma ha mẫu nại ra ma nễ, bát nạp ma, nhập phạ lã, bát ra mạt đá dã hồng. (3 lần)

– Kiềng thiềng dĩ kim ngân phần hóa.

– Nẳng mồ a di đá bà dạ, đá tha già đá dạ, đá địa dạ tha, a di lị đô bà tỳ, a di lỵ đá tất đam bà tỳ, a di lỵ đá tỳ ca lan đế, a di lỵ đá tỳ ca lan đá, già di nhị già già na, chỉ đá ca lệ ta bà ha. (3 biến )

– Khai Mộ dẫn Vong sự tất. Tang Chủ kiềng thiềng lễ tất tứ … bái.

(Lấy 3 cây Nhang cắm vào Bài Vị).

– Qui khứ lai hề qui khứ lai.

Tây phương Tịnh độ bạch liên khai.

Nhứt trận hương phong xuy hốt đáo,

Hương hồn thừa thử bộ kim giai.

Hy vọng rằng, với những chia sẻ cụ thể của bài viết: Cách cúng, văn khấn, bài cúng mở cửa mả trên đây, thì sẽ giúp cho những gia chủ có được sự hiểu biết cần thiết khi chuẩn bị nghi thức này, sao cho đúng đắn và tươm tất nhất, để cho vong linh của những người đã mất được ra đi nhẹ nhàng mà không còn ván vương quá nhiều với trần gian hiện tại.

Bài Khấn Mở Cửa Mã

Văn Khấn Ban Tam Bảo, Bài Khấn Phủ Tây Hồ, Văn Khấn Đức ông, Bài Khấn Phủ Dầy, Văn Khấn Em Bé Đỏ, Văn Khấn Giỗ, Văn Khấn Giỗ Bố, Văn Khấn Giỗ Cụ, Văn Khấn Giỗ Đầu, Văn Khấn Hà Bá, Bài Khấn Phá Dỡ Nhà, Văn Khấn Hạ Bàn Thờ, Bài Khấn ông Táo, Văn Khấn Hạ Lễ, Văn Khấn Hán Nôm, Văn Khấn Đổ Mái, Văn Khấn Đền Phủ, Văn Khấn Đền Mẫu âu Cơ, Bài Khấn Sao Mộc Đức, Văn Khấn Cô 6, Văn Khấn Cô 9, Văn Khấn Cô Bơ, Văn Khấn Di Dời Mộ, Bài Khấn Rằm Tại Nhà, Bài Khấn Rằm, Văn Khấn Dỗ, Bài Khấn Ra Mộ, Văn Khấn Dỗ Bố, Văn Khấn Dỡ Nhà, Văn Khấn Dọn Về Nhà Mới, Văn Khấn Đền, Văn Khấn Đền Mẫu, Văn Khấn Khi Đi Đền, Bài Khấn ông Địa Thần Tài, Văn Khấn Mẫu Mẹ âu Cơ, Văn Khân Mở Cựa Mộ, Bài Khấn Mở Cửa Mã, Văn Khấn Nôm, Bài Khấn Mẫu âu Cơ, Bài Khấn Mẫu, Bài Khấn Lễ Tạ, Văn Khấn ở Đền, Bài Khấn Lễ Mẫu âu Cơ, Văn Khấn ô Địa, Bài Khấn Lễ Đổ Mái Nhà, Bài Khấn Lễ Đền, Bài Khấn Lễ ăn Hỏi, Bài Khấn Lễ, Văn Khấn Mẫu âu Cơ, Văn Khấn Mẫu, Văn Khấn M 1, Văn Khấn Khi Đi Phủ Tây Hồ, Văn Khấn Khi Lễ Đền, Văn Khấn Lầu Cô Lầu Cậu, Bài Khấn ở Yên Tử, Bài Khấn ở Phủ Tây Hồ, Bài Khấn ở Nhà, Văn Khấn Lễ Mẫu, Văn Khấn Lễ Mẫu âu Cơ, Bài Khấn ở Đền Mẫu, Bài Khấn ở Đền, Văn Khấn Lễ Tạ, Bài Khấn ở Ban Tam Bảo, Văn Khấn Lễ Tạ Đất, Bài Khấn Nôm, Văn Khấn Dời Mộ, Đơn Xin Hỗ Trợ Khó Khăn, Văn Khấn 16, Văn Khấn 2, Văn Khấn 2 ông Thần Tài, Văn Khấn 2/16, Văn Khấn 23, Văn Khấn 27/7, Con Quý Vị Gặp Khó Khăn Khi Đọc?, Văn Khấn 3 Tết, Văn Khấn 3.3, Văn Khấn 3/3, Các Bài Khấn âm Hán, Ca Sĩ Văn Khấn, Văn Khấn 3/3 Tại Mộ, Bài Văn Khấn Tẩy Uế, Văn Khấn 15/8, Văn Khấn 15 Rằm, Văn Khấn 15, Đơn Xin Trợ Cấp Khó Khăn, Đơn Kêu Cứu Khẩn Cấp, Mẫu Đơn Tố Cáo Khẩn Cấp, Mẫu Đơn Xin Trợ Cấp Khó Khăn, Từ Văn Bản Lao Xao Của Duy Khán, Văn Khấn, Văn Khấn 01 Tết, Văn Khấn 03/03, Văn Khấn 1, Văn Khấn 1 Tết, Văn Khấn 1/7 âm, Văn Khấn 1/8, Văn Khấn 12 Bà Mụ, Văn Khấn Bà Cô Tổ, Văn Khấn 30 Tết, Văn Khấn 4 Phủ,

Văn Khấn Ban Tam Bảo, Bài Khấn Phủ Tây Hồ, Văn Khấn Đức ông, Bài Khấn Phủ Dầy, Văn Khấn Em Bé Đỏ, Văn Khấn Giỗ, Văn Khấn Giỗ Bố, Văn Khấn Giỗ Cụ, Văn Khấn Giỗ Đầu, Văn Khấn Hà Bá, Bài Khấn Phá Dỡ Nhà, Văn Khấn Hạ Bàn Thờ, Bài Khấn ông Táo, Văn Khấn Hạ Lễ, Văn Khấn Hán Nôm, Văn Khấn Đổ Mái, Văn Khấn Đền Phủ, Văn Khấn Đền Mẫu âu Cơ, Bài Khấn Sao Mộc Đức, Văn Khấn Cô 6, Văn Khấn Cô 9, Văn Khấn Cô Bơ, Văn Khấn Di Dời Mộ, Bài Khấn Rằm Tại Nhà, Bài Khấn Rằm, Văn Khấn Dỗ, Bài Khấn Ra Mộ, Văn Khấn Dỗ Bố, Văn Khấn Dỡ Nhà, Văn Khấn Dọn Về Nhà Mới, Văn Khấn Đền, Văn Khấn Đền Mẫu, Văn Khấn Khi Đi Đền, Bài Khấn ông Địa Thần Tài, Văn Khấn Mẫu Mẹ âu Cơ, Văn Khân Mở Cựa Mộ, Bài Khấn Mở Cửa Mã, Văn Khấn Nôm, Bài Khấn Mẫu âu Cơ, Bài Khấn Mẫu, Bài Khấn Lễ Tạ, Văn Khấn ở Đền, Bài Khấn Lễ Mẫu âu Cơ, Văn Khấn ô Địa, Bài Khấn Lễ Đổ Mái Nhà, Bài Khấn Lễ Đền, Bài Khấn Lễ ăn Hỏi, Bài Khấn Lễ, Văn Khấn Mẫu âu Cơ, Văn Khấn Mẫu,

Ý Nghĩa Của Việc Cầu Siêu

Chữ “Siêu” có nghĩa vượt ra, vọt ra, hay thoát ra. Cầu siêu là cầu cho thân nhân quá cố của mình mau vượt ra THAM DỤC và LUYẾN ÁI, thoát ly luyến ái để vãng sinh nơi đâu đó, tùy theo sở nguyện.

Nhắc lại ý nghĩa cầu an phần trước, nếu hiện đời thoát ly được tham luyến thì an lạc, sau khi chết do nhân tố dứt trừ luyến tham, thần thức (linh hồn) chắc chắn sẽ siêu rỗi (vượt ra). Rồi cũng do nhân tố hiện đời niệm Phật thì thần thức được vãng sinh Tịnh Độ, tu Thập thiện được vãng sinh lên cõi Trời hưởng phước báu v.v… Không còn sinh tử luân hồi khổ đau nữa.

Tóm lại, hiện sống cầu an và cũng là cầu siêu cho chính mình rồi đó.

Nếu hiện đời chất chứa lòng tham tài, sắc, danh, thực, thùy, khởi tâm luyến ái không xả ly được. Do luyến ái, ôm ấp, giữ gìn, nhớ nhung… ghi vào Tàng thức (A Lại Da Thức) kết thành nghiệp. Nghiệp nó có sức hút (mạnh) lôi dẫn thần thức đi vào hướng đó (nghiệp lực).

Trong cảnh sách dạy: ” Hóc xuyên tước phi thức tâm tùy nghiệp “, nghiệp nó tùy thuộc nơi tâm, tâm hướng đâu nghiệp theo đó, như hướng bay của chim vậy. Có câu chuyện kể rằng:

Thuở đức Phật còn tại thế, có gia đình ông Phú trưởng giả nọ, rất mực cung kính cúng dường Phật. Thường ngày đi khất thực, Phật đi ngang qua nhà ông Phú trưởng giả. Ông ta sắm sửa thức ăn sẵn, chờ Phật đi ngang qua, Ông ra cung đón Phật vào để cúng dường.

Một hôm, Phật đi khất thực gần đến nhà, mà những người nấu bếp loay hoay chưa xong, ông trưởng giả phải xuống bếp để thúc hối. Lúc ấy, đức Phật đã đi đến trước cổng nhà, ông không kịp ra cung đón Phật, có con chó rất mực cưng yêu của ông trưởng giả, nó chạy ra vồ sủa đức Phật. Lúc bấy giờ, Phật dùng chánh định quán biết con chó và Phật dùng Phạm âm thuyết pháp cho con chó nghe, sau khi nghe xong, nó liền riu ríu đi thẳng vô nhà, đến chỗ bàn thờ nằm đó, mà nước mắt con chó chảy ròng ròng.

Khi ông trưởng giả dâng cúng cho Phật rồi, ông liền bạch Phật: “Bạch Đức Thế Tôn, hôm nay vì bận việc thúc hối bọn người nấu bếp nên không kịp ra cung đón đức Thế Tôn, lúc đó con chó của con nó ra vồ sủa, xong đức Thế Tôn dạy gì với nó mà bây giờ nó buồn hiu nằm nơi giường thờ mà hai hàng nước mắt rưng rưng? Ngưỡng bạch đức Thế Tôn chỉ dạy cho con được biết.

Phật mỉm cười và nói rằng: “Này ông trưởng giả, con chó ban nãy đâu phải ai xa lạ, chính là cha ruột của ông, lúc sinh tiền cha ông tu rất nhiều công đức. Lẽ ra, sau khi chết, thần thức sẽ sinh lên cõi Trời, để hưởng phước báu. Nhưng lúc cha ông hấp hối quá nhanh, không kịp trối lại cho ông. Số là cha ông lúc sinh thời có chôn cất một lu vàng nơi đít giường thờ. Do đó thần thức sắp rời khỏi xác lưu luyến lu vàng mà phải nhập thai vào con chó.

Từ ngày ông nuôi con chó này, ông rất mực cưng yêu và con chó không chịu ngủ ở đâu hết, chỉ nằm nơi giường thờ. Vậy ông phải mau sai người đào lên trước mặt con chó, để cha ông an lòng mà thác sinh nơi Thiên giới. Ông trưởng giả vâng lời làm y như vậy, quả nhiên lấy được lu vàng và 7 ngày sau con chó tự nhiên chết. Ông trưởng giả đến tịnh xá trình lên Phật. Phật nói nay cha ông thoát khỏi kiếp chó, sinh về cõi Trời rồi đấy.

Câu chuyện trên cho thấy tâm lưu luyến có hại vô cùng. Lúc sinh tiền luyến ái con cái, sau khi chết, nghiệp thức cũng lẩn quẩn bên con cái, hoặc làm con của con mình, hoặc làm chó, làm mèo để gần gũi bên con. Cho đến nhà cửa, sự sản, chồng vợ v.v… Cũng thế, quan trọng trong lúc sinh tiền chớ nên tham và luyến, sau khi xả báu thân này chắc chắn siêu thoát, khỏi phải nhờ con cháu đi cầu siêu. Hiểu được vậy ta hãy tự siêu đi, không ai siêu tiếp cho ta được.

1. Nghiệp chướng của chúng sinh vô lượng kiếp đến nay xâu kết tham luyến rất nặng nề. Hôm nay mới hiểu đạo, nên phát tâm xả bỏ nghiệp tham luyến trong một đời, chưa hẳn đã dứt hết. Tuy nhiên, nhờ có ý thức xả ly và tập tành xả ly. Nếu trong lúc chết, nghiệp tham luyến nhiều kiếp nó có dấy khởi lên ngăn che chánh niệm (chướng). Trong lúc đó, nếu có chư tăng đến khai thị hoặc con cháu nhắc nhở, thì thần thức nghe qua và thức tỉnh lại, dẹp bỏ cấu trần luyến nhiễm, hướng tâm niệm Phật cũng được siêu thoát. Nhưng nhớ rằng phải tập tu hiện đời cho thuần quen đi đó là tự lực siêu độ.

2. Theo trong kinh Địa Tạng, đức Phật dạy: “Người quá cố linh hồn đọa lạc nơi chốn u đồ, khổ đau không kể xiết, linh hồn luôn luôn hướng về thân nhân con cái, họ rất mong con cái tu tạo phước đức để hồi hướng, thì người chết kia có được một phần nhẹ nhàng.

Với ý nghĩa cầu an, cầu siêu cho ta thấy tinh thần đạo Phật chú trọng vào định thuyết Nhân – Quả. Đức Phật đã chứng đắc chân lý Nhân – Quả đó, Ngài chỉ dạy cho chúng sinh thấy được Nhân – Quả để chuyển đổi nhân thiện sẽ gặt quả lành, nhân ác sẽ gặt quả dữ. Tự chúng sinh gieo nhân nào gặt quả ấy. Phật, Thánh không thể nhúng tay mà hoán cải được. An hay bất an, siêu hay chẳng siêu cũng thế!

Nguyên nhân do tâm THAM và LUYẾN, ý theo đó ĐIÊN ĐẢO vọng tưởng làm cho thân tâm không an. Vậy cầu an có nghĩa là cắt đứt lòng tham luyến, không cho tâm điên đảo, mơ mộng, khi đó đã an ổn và cũng từ cái nhân hiện đời thân tâm an ổn. Sau khi chết chắc chắn sẽ được siêu thoát ra khỏi cái vòng tham luyến, tâm lúc bấy giờ an trụ trong chính niệm thì phải giải thoát thôi.

Thích Nhật Quang (Chùa Long Phước, Lấp Vò, Đồng Tháp)

Thích Nhật Quang

5. Ý Nghĩa Của Việc Cúng Nước

Đặc tính của nước là trong sạch, phẳng lặng, thuần khiết. Chính vì thế khi ta cúng nước lên Phật, liền nghĩ đến tâm của ta phải thanh tịnh, bình đẳng, trong sạch như nước. Trong cuộc sống chúng ta đối nhân xử thế, ứng xử giao tiếp người, sự, vật, tâm chúng ta không nên có sự phân biệt giàu-nghèo, sang-hèn, trí-ngu. Như vua Võ Tắc Thiên nói: “Con người lúc mới sinh ra đều giống nhau, đều bình đẳng. Khi trưởng thành khoác lên mình chiếc áo lông bào thì gọi là vua. Còn nếu khoác lên mình chiếc áo rách thì gọi là ăn mày “. Trong nhà Thiền cũng có một mẫu chuyện rất nổi tiếng, đó là: “Lục Tổ Huệ Năng đến huyện Huỳnh Mai yết kiến Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn để cầu pháp. Khi gặp, Ngũ Tổ hỏi: ” Ngươi từ đâu đến? Ðến đây cầu việc gì?”. Huệ Năng đáp: ” Con từ Lĩnh Nam đến. Ðến đây chỉ cầu làm Phật, không cầu việc gì khác“. Tổ tiếp: ” Ngươi là người xứ Lĩnh Nam lại là dân man rợ, thành Phật thế nào được!“. Huệ Năng đáp: ” Con người tuy có phân chia Nam Bắc, chớ Phật tánh vốn không có Nam Bắc. Cái thân man rợ này đối với hòa thượng tuy chẳng giống nhau, nhưng cái tánh Phật đâu có khác!”.

Qua kinh tạng Pàli, trở về thời Ấn- độ lúc bấy giờ. Đức Phật phủ nhận sự phân chia giai cấp xã hội và kỳ thị giới tính. Ngài dạy hành động (hay việc làm) nói lên giá trị của mỗi người là Bà La Môn, Sát Ðế Lợi, Phệ Xá hay Thủ Ðà La, mà không phải là dòng dõi hay chủng tộc. Càng hiểu rõ được cái giá trị tôn trọng quyền bình đẳng tột cùng của Đức Phật Thích Ca đã nói : “Không có giai cấp trong dòng máu cùng đỏ, không có hận thù trong giọt nước mắt cùng mặn“.

Qua ba mẫu chuyện trên ta thấy cách ứng nhân xử thế của người xưa thật đẹp, thật cao thượng. Ngày nay trong cuộc sống, trong công việc tuy có sự phân biệt giám đốc, nhân viên, người chủ, giúp việc, v.v…, nhưng nếu chúng ta biết ứng xử với nhau theo tinh thần ” bổn phận của người Phật tử tại gia ” thì cuộc sống sẽ tốt đẹp.

Bổn phận chủ đối với người giúp việc trong nhà, phải có đủ 5 điều:

– Chủ nhà trước khi sai khiến người giúp việc làm gì, trước phải biết họ đói, no, ấm, lạnh thế nào để họ có đủ sức khỏe và vui lòng làm lụng.

– Lúc nào người giúp việc bị bệnh hoạn, phải chăm non thuốc thang và để cho họ được nghỉ ngơi, để bồi bổ sức khỏe lại.

– Khi họ có phạm lỗi gì, phải xét coi họ cố ý hay vô tình. Nếu vô ý lầm lỡ, thì nên dung thứ. Nếu họ quyết lòng phá hại, thì phải làm nghiêm trách hẳn hoi, với lời lẽ thanh nhã, cho họ biết lỗi để chừa.

– Khi họ tiện tặn tích góp được số tiền riêng, không nên tìm cách thâu đoạt.

– Khi muốn thưởng công lao cho họ, phải giữ mực công bình, tùy công lao của mỗi người mà phân chia cho cân xứng.

Bổn phận người giúp việc đối với chủ nhà, cũng phải có đủ 5 điều kiện:

– Mỗi buổi sáng phải thức dậy trước chủ nhà, không đợi kêu.

– Phải biết phần việc nào của mỗi ngày, cứ y như thường lệ mà thi hành, không đợi chủ sai bảo.

– Khi làm việc phải thận trọng đồ dùng của chủ, không làm cẩu thả, hư hao.

– Phải hết lòng kính mến chủ nhà, lúc chủ ra đi, phải ân cần đưa tiễn; lúc chủ trở về, phải vui mừng tiếp đón.

– Không nên chỉ trích, nói xấu chủ với người ngoài.

Cúng nước đến Phật, Hòa thượng Tịnh Không khuyên chúng ta nên cúng ly nước bằng thủy tinh, trong suốt, có thể từ bên ngoài nhìn thấy nước bên trong. Nên cúng nước suối hoặc nước lạnh, không nên cúng nước đun sôi để nguội, nước trà hoặc các loại nước có màu. Nhìn thấy nước chúng ta phải liên tưởng đến tâm thanh tịnh, bình đẳng của chính mình. Ứng nhân xử thế giao tiếp phải dùng tâm bình đẳng. Ngài nói các vật cúng khác (bông, trái cây, nhang, đèn,….) có thể thiếu, không cần thiết, nhưng đặc biệt ly nước cúng Phật thì không thể thiếu. Do tâm thanh tịnh sanh ra công đức, tâm thanh tịnh sanh trí tuệ, tâm thanh tịnh vượt thoát luân hồi.