Ý Nghĩa Của Cúng Phát Tấu / Top 8 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 2/2023 # Top View | Apim.edu.vn

Phong Thủy Việt: Phát Tấu Nghi

Phát tấu nghi

(cử tám)

Pháp chủ: chiên đàn hải ngạn, nô nhiệt minh hương. Gia Đu tử mẫu, lưỡng vô lương, hỏa nội đắc thanh lương; chí tâm kim tương, nhất chú biến thập phương. Nam mô Hương – vân – Cái Bồ -tát ma ma ha tát (3 lần)

(Thích ca tán rằng)

Pháp – chủ tụng: Chí tâm tán lễ, Thích – Ca Mâu -Ni Phật, vi tam giới sư, tứ sinh phụ, Ngọc hào nghi tế hiện; kim khẩu diệu pháp, Nhuận quần sinh, như hủ mộc chiêm cam lộ. Bát thập chưởng tùy hình, tam thập nhị tướng cụ. Đại từ đại bi năng cứu khổ. Ngà kim khể thủ lễ. Duy nguyện thùy gia hộ. Đương lai thế, xả Diêm – phù, sinh tịnh-độ; Nguyện Tín – chủ, bảo bình an, tăng phúc tuệ.

Tả đọc: Âm dương sứ giả tối anh linh, Mật triển uy quang ứng khẩn thành. Hữu đọc: Tề trì công văn như điện xiết, Phi đằng tấu sự nhược phong hành, Kình quyền tuân phụng Như-lai sắc Thủ phủng căng lân Tín- chủ tình, Nghinh thỉnh chư thánh lai giáng phó, Xuyền kỳ Tín- chủ bảo an ninh Tiếp dẫn vong linh sinh Tịnh – độ, Lĩnh chiêm công đức xuất u minh Nam mô Việt Nam giới Bồ- tát ma ha tát (3 lần)

Pháp chủ: cung văn: Phật công đức sơn, duy cao duy tủng pháp trí tuệ hải tối quảng tối thâm. Hà sa vô dĩ tỷ kỳ đa; kiếp thạch nan dỹ tận (Pháp chủ thỉnh đến đây)

Phù dĩ: Pháp duyên quang khải, thành ý tinh kiền, dục nghinh Hiền thánh dĩ lai lâm, tu dương tứ phương nhi thanh tịnh. Tiên bằng pháp thủy, quán sái đạo tràng, nhất chính tài chiêm, thập phương ca khiết, ngã Phật giáo tạng trung, hữu sái tinh đà na ly, cẩn đương trì tụng.

(Niệm đại bi thần chú và sái tịnh cử tám)

Dương chi tịnh thủy, biến sái tam thiên; tính không bát đức, lợi nhân thiên; pháp giới quảng tăng duyên, diệt tội tiêu khiên, hỏa diệm hóa hồng liên.

mô Thanh lương địa Bồ tát, ma ha tát.

Bên hữu: Thiết dĩ kim lô ái đãi, ngọc triện phiêu giao : Đạm hà bá mãn càn khôn; thanh toàn thân thế giới. Quần sinh văn thử, khoát nhiên tâm địa khai minh chư thánh huân chi, trực hạ tính thiên lăng triệu. Phù hương giải do lai tự đắc, bất lương ná cá tài thành; chỉ tại cừ sinh; khởi đắc giá nhân chủng tựu. Phần thời, vô tỵ khổng; biến xứ, hữu đần quan. Danh khoa đệ nhất chiên đàn; hiệu viết vô song lan sạ. Như lai giáo hữu, đại tín nhiên hương châm ngôn cẩn đương trì tụng.

Tả đọc: Giới hương định hương dữ tuệ hương Giải thoát giải tri kiến hương

Hữu đọc: Quang minh vân đài biến pháp giới Cúng dàng thập phương chư thánh chúng mô hương vân cái bồ tát ma ha tát.

Pháp chủ: Thiết dĩ: Tam thiên thế giới chân diệu thể năng thông: tứ đại bộ châu, phiến niệm tinh thành khả dạt. Thủy trung phi dị, kim cổ hà thù. Thần công oát vận diệu vô phương Thánh lực viên dung na gián cách. Tùy duyên ứng hóa thăng thiên nhập địa tự sát na phó cảnh uy linh, cứu tử độ sinh như khoảnh khắc kim tắc phả quảng hội khái, bất nhị môn khai Trần Hiền, mật chi khoa nghi; khiến minh dương chi pháp tịch. Dục nghinh hiền thánh, tu tạ thần công. Giáo hữu phụng thỉnh chân ngôn, cẩn đương trì tụng.

Tả hai câu: Dĩ thử chân ngôn thân triệu thỉnh Trực phù sứ giả nguyện văn chi

Hữu hai câu: Trượng thừa Tam bảo lực gia trì Thử nhật kim thi lâm pháp hội,

Pháp chủ: nam mô, Bộ bộ đế lị già lị đá lị đát đá nga đá da (3 lần) Pháp chủ: Thượng lại triệu thỉnh chân, ngôn tuyên dương dĩ kính, Tín chủ kiển thành thượng hương bái thỉnh.

(Tín chủ dâng hương khấn, cử tám )

Giới đỉnh chân hương phần khởi xung thiên thượng. Tín chủ kiền thành nhiệt tại kim lô phóng. Khoảnh khắc nhân huân tức biến mã thập phương thích nhật Gia-Du miễn nạn tiêu tai chướng, nam mô hương cúng dàng Bồ tát ma ha tát Hương hoa thỉnh. Pháp chủ: Nhất tâm phụng thỉnh, nội hoài thực tướng, ngoại hiển uy linh. Hộ chính pháp ư sơn chung, sát phàm tình ư thế giới Linh sơn hội thượng, thỉnh Phật yết đế thần vương, Phật quốc môn hạ tấu sự tất tiệp công tào. Kim chi na-cha sứ giả, kinh ngưỡng phi thiên phù quang. Nhất thiết buộc thuộc thánh chúng nhiêm hộ trai đàn. Duy nguyện thượng tuân, Như lai giáo sắc, hạ mẫn tín chủ khẩn tình lai tự phong, khứ như xiết điện. Hương hoa thỉnh. Tả thỉnh: Nhất tâm phụng, phi đằng kim quyết, lai võng ngân hà. Quyền hành chỉ xích, nhi thượng đế bạc phong; ứng niệm khẩn tình nhi vạn dân hàm nại. Thiên kinh môn hạ, tấu sự niên trị công tào, Bảo-lệ Hoa quang sứ giả kính ngưỡng Tứ thiên phù quan. Nhất thiết bộ thuộc thánh chúng nghiêm hộ trai đàn. Duy nguyện: Thượng tuân Nhu lai giáo sắc hạ mẫn tín chủ khẩn tình. Lai tự phi phong, khú nhu xiết điện, (hoa) Hương hoa thỉnh. Hữu đọc: Nhất tâm phụng thỉnh Uy phong lẫm liệt; khí nhuệ hiên ngang, phụng từ tình đạt, Địa phủ Xâ la; Ban phù mạnh tiến, Thái sơn ngự án. Địa phủ môn hạ, tấu sự nguyệt trị công tào Quan Thái sơn ngự án. Địa phủ môn hạ, tấu sự nguyệt trị công tào Quan sơn la sát xứ giả, kính ngưỡng địa hành phù quan. Nhất thiết bộ thuộc thánh chúng, nghiêm bộ đàn tràng Duy Nguyên, thượng tuân;

Như-lai giáo sắc, hạ mẫn tín chủ khẩn tình. Lai tự phi phóng khứ như xiết điện. Hương hoa thỉnh.

Tả đọc: Nhất tâm phụng thỉnh. Khứ lai thủy phủ nôi; xuất nhập tại ba tâm Tam sơn lãng uyển dĩ yêu chiều; cửu quyết tinh cung nhi vi nhiễu. Thủy phủ môn hạ, tấu sự nhật trị Công Tào. Phiêu lưu mạnh liệt sứ giả, kính ngưỡng không hành phu quan. Nhất thiết bộ thuộc thánh chúng. Duy nguyện, thượng tuân: Nhu lai giáo sắc hạ mẫn tín chủ khẩn tình. Lai tụ phi phong khứ như xuất diện. Hương hoa thỉnh.

Hữu đọc: Nhất tâm phụng thỉnh. Chu toàn Ngũ nhạc, biên lịch chư tỵ. Thành duy vạn vật chi cơ; thiện sát, nhất thời chi sự. nhạc phủ môn hạ, tấu sự thời trị Công tào, ân cần từ hạ sứ giả kính ngưỡng Thổ địa phù quang, nhất thiết bộ thuộc thánh chúng. Duy nguyện thượng tuân:

Như lai giáo sắc, hạ mẫn TÍn chủ khẩn tình. Lai tự phi phong. Khư như xuất điện, hương hoa thỉnh. Ngũ vị sứ giả giáng đạo tràng Thụ thủ hương hoa phả cúng dàng; Bất xả uy quang tát chứng minh Bất xả uy quang tát chứng minh

Nam mô Vân lai tập bồ tát ma ha tát (3 lần)

Pháp chủ: Phục vọng, loan dư vân tập; Phượng giá phong biền, tinh nhân vị thứ dĩ an nhiên đăng sán phô bài nhi gián liệt, Nguyện gián đan thành chi khẩn, thiểu thân bạc cúng chi nghi. Giáo hữu cúng dàng chân ngôn cẩn đương trì tụng. (niệm chú thiên thực ba biến)

Nam mô, tát phạ đát tha, nga đá phạ rô chỉ đế án tam bạt la, tam bạt la hồng.

Nam mô tô rô bà da, đát tha nga đá giá, đát điệt tha, án tô rô tô rô bát la tô rô, bát la tô rô sa bà ha.

Nam mô Phả cúng dàng Bồ tát ma ha tát (3 lần)

Pháp chủ: Khâm duy; Sứ giả, chức tam tỵ tới, công nghệ tứ châu. THỊ phất tiến, thính phất văn, dương dương ứng hòa, dảo tất thông, cầu tất ứng trạc từ hiền triết. Tấu truyền trượng bỉ thần công, thân thỉnh nại từ hiền triết. Thắng kỳ hạ giá, giám nạp trung thành Phàm hữu dĩ cáo trần, vọng uy quang nghi thính cảnh, cụ hữu quan văn, cẩn đương tuyên đọc.

(Đọc quan điệp bạch rằng)

Pháp chủ bạch:Tư giả cảm phiền ngũ vị sứ giả; tê chấp tinh văn. Cung thỉnh chư Phật, Bồ tát, tam giới thánh hiền, mẫn niệm thử trai nhân, phả thân vị đầu tiến.

Pháp chủ bạch: Thương lai, công văn dĩ lị, tuyên đọc vân chu, lượng mộc…

Thánh từ, khất thùy nạp thụ. Kim hữu công văn dụng bằng hỏa hóa, ngưỡng lao đại chúng, phúng tụng chân thuyên. Hồi hương chân thực tế, thnanhf tựu Phật quả Bồ đề.

(Niệm tâm kinh hỏa điệp xong tán Kinh Tâm-kinh)

Bát nhã tâm kinh, Quán Tự tại, cố tâm vô quản ngại, việt siêu khổ hải. Đại minh thần chú, diệt trừ tai, ngũ uẩn không, pháp thể chu sa giới, (cử tán) Pháp-chủ bạch: Thánh từ quảng-đại cảm ứng vô sai, tịch quang tam muội biến hà sa, nguyên bất ly già ra, phúc đẳng trai gia, kim địa dũng liên hoa

Nam mô tăng phúc tuệ Bồ tát ma ha tát.

Pháp chủ bạch: Thượng lai tu thiết ngỗ pháp đàn, Pháp tấu biểu quan công đức, vô hạn thù thắng lượng nhân. Khể thủ hòa nam Tam-tôn thánh-chúng

Ý Nghĩa Của Lễ Cúng Giao Thừa:ý Nghĩa Của Lễ Cúng Giao Thừa

Nếu xem giao thừa là khoảnh khắc bắt đầu một năm mới thì ta cũng có thể xem đó là sự kết thúc của một năm cũ. Cho nên giao thừa có nghĩa là cũ giao lại, mới đón lấy. Cũng vì ý nghĩa đó để hoàn thành việc bàn giao để lại những cái cũ ta có lễ trừ tịch.

Trừ tịch là giờ phút cuối cùng của năm cũ chuẩn bị bước qua năm mới. Với ý nghĩa để lại những cái cũ, những cái xui và bắt đầu một năm mới thì ta làm lễ trừ tịch.

Lễ trừ tịch còn có ý để “trừ khử ma quỷ” đó cũng là ý nghĩa của từ “trừ tịch”. Vì thời điểm trừ khử vận xui và đón mừng những điều mới xảy ra ngay vào lúc giao thừa nên còn được gọi là lễ giao thừa.

Theo dân gian lưu truyền thì mỗi một năm đều có một ông (thần) coi khiển việc nhân gian, hết năm thì ông này bàn giao lại cho ông kia cho nên ta sẽ cúng để tiễn ông cũ và đón ông mới.

Lễ trừ tịch (lễ giao thừa) được tiến hành cúng ở ngoài trời vì người xưa hình dung trong lúc cựu vương hành khiển bàn giao trách nhiệm trông coi việc nhân gian cho tân vương luôn có quân đi, quân về trong không trung tấp nập. Do đó việc cúng ngoài trời sẽ giúp “lễ trừ khử tà ma” linh thiêng hơn.

Giây phút cúng giao thừa của các gia đình với hoa quả, xôi gà, bánh trái sẽ được thực hiện ngoài trời, với lòng thành khẩn tiễn người nhà trời cai quản mình năm cũ và đón người nhà trời mới cai quản nhân gian trong năm mới.

Cũng vì ý nghĩa việc bàn giao của nhà trời diễn ra trong khẩn trương nên các vị không thế khề khà măm bát trong nhà được và vì thế sẽ không thể chứng giám lòng thành khẩn của gia chủ.

Mâm cúng tiêu biểu

– Gà trống tơ luộc – Bánh chưng – Xôi (gấc). – Trái cây (chuối, quít…) – Đèn nến – Vàng mã (ra tiệm vàng mã hỏi cúng trừ tịch hay cúng giao thừa) – Trầu cau – Rượu/trà (Rượu trước sau đến trà) – Một chiếc mũ chuồn mua của hàng mã, chính là mũ để cúng tế vị thần. – Nhang đèn.

Ý Nghĩa Của Việc Cầu An

Như vậy, khi cầu an nên hiểu căn bản của năm thứ tham nêu trên; giảm bớt ít thì an ít, giảm bớt nhiều thì an nhiều. Nếu tham luyến không còn thì bình an vô sự, đó là tôn chỉ của đạo Phật, là chân lý cứu cánh của đạo Phật, chứ Phật không phải là người ban phước giáng họa. Giáo lý của đạo phật là phương thuốc hay, khi Ngài chẩn đoán được tâm bệnh của chúng sinh (nguyên nhân bất an), Ngài giúp cho toa thần dược để trị liệu.

Khi nói về tinh thần từ bi cứu khổ của đạo Phật vốn đã in đậm trong tâm khảm của người con Phật. Hay nói xa hơn, bất kỳ sự xuất hiện một tôn giáo nào, tôn chỉ và mục đích cũng nhằm vào sự cứu khổ (cứu rỗi), hầu đem lại sự an lạc cho mọi người hiện sống và sau khi chết, linh hồn được siêu độ (siêu rỗi) nơi sở nguyện nào đó.

Chung quy con người có khổ đau, họ mới đến với tôn giáo để cầu xin, hoặc để an ủi và làm điểm tựa của tinh thần. Còn tôn giáo cũng thế, vì con người có khổ đau, các bậc Thánh triết mới tự tìm ra một giải pháp: gọi là chân lý, rồi đem chân lý ấy hướng dẫn con người đi dần đến chỗ thoát khổ, lấy lại sự an lạc và giải thoát. Nhưng tôn chỉ và mục đích mỗi tôn giáo đều có đường hướng khác nhau.

Đơn cử như tôn giáo này hướng dẫn rằng: Nếu tin tưởng và cầu xin ta, ta sẽ ban ân và cứu rỗi cho thoát ly khổ đau. Tôn giáo nọ hướng dẫn: Phải cầu nguyện cúng kiếng, vái van thật nhiều thì thần linh sẽ phù hộ cho tai qua nạn khỏi, đem lại sự an lạc như chỗ mong cầu.

Tôn giáo khác lại hướng dẫn: Phải thi ân làm phước, tế lễ cùng thần linh thật nhiều thì thần linh sẽ phù trợ cho thoát khỏi khổ đau, hoặc phải coi tuổi tác, ngày giờ, xuất hành, khai trương, gả cưới, xây dựng, phương hướng bếp núc, cửa nẻo, phòng ốc, phong thủy Đông, Tây, Nam, Bắc, coi có phạm vào ngũ quỷ, tuyệt mạng, lục sát, họa hại hay không để tránh.

Tìm đặt lại các cung tốt: sinh khí, phục vì, diên niên, thiên y… cho đúng thì sẽ đem lại lợi lạc và an vui v.v… hoặc đêm đêm phải lạy cúng Bà Đất, Ông Trời, Thượng Động Cố Hỷ, Chúa Xứ, Vạn Ban Ngủ Hành, Thất vị Nương Nương, Cửu Phẩm Lịnh Bà, Lịnh Cô, Thổ Địa, Thổ Thần, Thổ Trạch, Thổ Công, Thổ Chủ, Thổ Táo, Thổ Kỳ, Thần Hoàn Bổn Cảnh.v.v… để cầu xin ban rỗi cho những điều mong cầu tùy tâm khấn nguyện.

Tóm lại: Con người có nhiều khổ đau, từ tinh thần lẫn vật chất, mới đi đến chỗ tín ngưỡng, để nhờ đấng tha lực nào đó tiếp giải quyết cho cuộc đời họ, đồng thời họ cũng tựa vào đức tin, họ mới có đủ niềm tin và nghị lực để phấn đấu trong cuộc sống. Chung quy chỉ vì bốn chữ bình an và lợi lộc.

Riêng có một tôn giáo, tôn giáo này không chủ trương ban phước giáng họa, tôn chỉ nhằm hướng dẫn cho con người hiểu được nhân quả và nghiệp báo, để họ tự cải hóa trong cuộc sống hằng ngày, để tìm đến an lạc và giải thoát mọi khổ đau. Còn mục đích của tôn giáo này chỉ cho con người thấy rõ được nguyên nhân từ đâu đem lại sự bất an trong cuộc sống. Nguyên nhân này từ tha lực đem đến, hay tự mình gây nên, rồi chuốc lấy, tôn giáo đó chính là đạo Phật. Thế thì, đạo Phật vẫn có chủ trương CẦU AN và CẦU SIÊU.

Vậy chúng ta muốn cầu an cho ta, cho gia đình, trước hết ta phải tìm hiểu nguyên nhân nào làm cho chúng ta KHÔNG AN. (Vì không an nên mới đi CẦU AN). Trong kinh tạng và rải rác trong giáo lý, Phật dạy: “Tâm bất tham luyến, ý bất điên đảo”… (trong bài Sám Nhứt Tâm). Sở dĩ không an do tâm tham và luyến còn ý, lúc nào cũng điên đảo vọng tưởng. Vì do lòng tham dục, luyến ái và vọng tưởng, kết quả bị khổ đau.

Tiền bạc, ngọc ngà, châu báu… các thứ này nó luôn cám dỗ con người không biết sao gọi là đủ, có một trăm nó muốn một triệu, có một triệu nó muốn một tỷ, nó không lúc nào dừng lại vì “túi tham không đáy”. Khi lòng tham dấy khởi, thì ý nó phải ước mơ vọng tưởng, để đạt cho kỳ được, nếu đạt không được thì lo nghĩ trằn trọc, quên ăn, bỏ ngủ…, lâu ngày thần trí bất minh, lúc tính toán không sáng suốt, phán quyết việc gì thất bại nhiều hơn thành công.

Còn thân xác vì biếng ăn bỏ ngủ, tuy ăn đầy đủ, nhưng lúc ăn đầu óc vẫn nghĩ lo. Do đó, tuyến não thùy bị chi phối, không tiết chế cho bộ phận mật, gan, trợ cho thức ăn mau tiêu hóa, lâu ngày đau bao tử. Lúc ngủ suy tính mông lung, giấc ngủ chập chờn cho đến khi mỏi mòn, ngủ trong uể oải sinh ra nhiều bệnh tật.

Đây là nguyên nhân bất an thứ nhất, do lòng tham tài không biết đủ. Đức Phật dạy: ” Đa dục vi khổ ” (nhiều tham muốn là khổ) (Bát Đại Nhơn Giác 2)

Chữ sắc ở đây theo pháp tướng tôn thì có hai thứ sắc.

a. Sắc đẹp: đối tượng của thể xác, do lòng tham vọng không lường, hay so sánh. Đã có vợ có chồng cùng nhau chung sống rồi, thế nhưng lòng tham không muốn vô bờ bến, khi gặp người khác phái nó muốn chiếm hữu để đáp ứng sự thỏa mãn. Một khi lòng dấy lên thì ý nó phải vọng tưởng ước mơ, để rồi tìm mọi lời lẽ, mọi thủ thuật, bất chấp thuần phong mỹ tục, vợ con, bạn bè…, nói chung là bàn quan thiên hạ.

Nhưng khi đối tượng từ chối không đáp ứng lại được, thì bấy giờ tinh thần lúc nào cũng mơ mộng, thể xác biếng ăn, thẫn thờ tương tư. Rồi nó lây họa cho gia đình, làm cho cha mẹ lo lắng, vợ con buồn khổ, lâu ngày trở nên quạo quọ, cau có, làm cho bản thân và gia đình xào xáo, mất hạnh phúc, bất an.

b. Sắc pháp: Chỉ chung mọi hình tướng như : Nhà cửa, xe cộ…

Chung quy lại, nhu cầu vật chất, nếu tâm không biết đủ, ý dấy lên so sánh và ước muốn. Thấy nhà người kia đẹp hơn, thì muốn xây dựng lại cái nhà của mình bằng hoặc đẹp hơn người đó. Thấy xe người kia model mới, ta phải đua đòi sắm mới cho bằng được.v.v…, vì tham vọng đua đòi model này model nọ, rồi khởi tâm tiền vay bạc tháng để đáp ứng nhu cầu, lúc tham muốn đó nó che lấp tâm trí, tính sai nước cờ kinh tế, để rồi nhắm mắt mở mắt đến tháng đóng lãi, nợ nần chồng chất, mất ăn mất ngủ. Do lòng tham sắc không biết đủ nêu trên làm cho khổ đau. Đó là nguyên nhân bất an thứ hai.

Danh vọng, danh dự, danh tước gọi chung là danh tướng. Danh tướng từ nơi bản ngã mà sinh ra. Đức Phật dạy, danh vốn không thật có, nó là giả danh, hư vọng.

Ví dụ: tên của mình Nguyễn Văn A, vốn nó không có. Nếu nó thật có, thì lúc mẹ vừa sinh ra thì nó phải có tên là A đi. Như vậy, tên A đã không có ngay từ đầu, xong cha mẹ lại đặt cho nó cái tên A, từ đó nó có tên A rồi chấp nhận ta là tên A.

Ai đụng đến tên A, chửi đến tên A thì bênh vực nổi nóng lên, có thể chết sống vì cái tên giả danh A kia. Và chưa đủ, nó còn tham tên, muốn mọi người phải biết đến tên tuổi của mình, thán phục mình, khom cúi trước mình và địa vị phải trên mọi người v.v… Vì tham vọng như thế nên phải so tài đấu trí, khôn dại, thế thần … để thỏa mãn danh tước.

Muốn thỏa mãn danh vị bất chấp mọi thủ đoạn, mưu tính; hoặc luồn cúi như Hàn Tín, thủ đoạn như Tào Tháo, sát phạt như Napoléon như Hitlèr v.v… dẫm trên xương máu của mọi người. Chung quy chỉ vì danh vị. Một khi không đạt được thì thất vọng ê chề, đâm ra mê tín, xây nhà, sửa hướng, trấn bếp, coi tay, di dời mồ mả ông bà… để địa vị vững vàng thăng cao.

Người tham danh không biết dừng nghỉ, ý niệm luôn luôn củng cố danh vị cho mình, mải mê khoác chiếc áo danh lên mình ngã tướng, để rồi khổ đau, lo âu, sợ hãi. Hậu quả chất chồng thù oán… Cổ đức dạy: “Càng cao danh vọng, càng dài gian nan”. Đây là nguyên nhân không an thứ ba.

Phàm là con người có thân xác, cần phải ăn uống để nuôi dưỡng nó. Nhưng nếu để tâm tham, xen lẫn vào thì rất là ty tiện hèn hạ (tham ăn). Một khi tâm tham nổi lên làm mất đạo nghĩa, nhân cách và sĩ diện con người. Ví dụ: Sáng ra chợ chỉ vì một con cá, đôi bên có thể cãi vã với nhau và dập thúng lên đầu nhau. Anh em ruột thịt tham nhau một tấc đất có thể đâm chém lẫn nhau, xã hội chỉ một trái ớt, trái cà cũng cự cãi gây gỗ. Tục ngữ có câu:

“Miếng ăn là miếng tồi tàn Mất ăn một miếng lộn gan lên đầu”

Thế nhưng lòng tham con người vô hạn, ý nghĩ luôn luôn tính toán hơn thiệt. Chịu khó xét soi cho kỹ: một tấc đất có thể làm giàu được không? Có thể lưu giữ cho con cháu hưởng thụ đời đời hay không? Đừng nói chi cọng rau trái ớt, chỉ thưởng thức ngoài chót lưỡi chút xíu, khi nuốt sâu xuống 3 tấc nó là vật gì? Có thơm ngon không? Có đạo nghĩa lý thú không?… Tất cả đều thúi tha đáng ghét. Nhưng vì lòng tham che lấp, làm cho tối tăm tâm trí, làm cho gia đình thù hận nhau, xã hội mất phẩm chất văn hóa, quốc gia mất đạo đức văn minh, thế giới gây chiến, tàn hại sinh linh, tất cả cũng chỉ vì tham ăn. Đây là nguyên nhân bất an thứ tư.

Thùy là giấc ngủ mê, người sống trong u tối mê lầm gọi là mê ngủ hay say ngủ, phải luôn luôn tỉnh thức, cho tâm trí minh mẫn. Người tham ngủ (Thùy) biết việc đó là sai lầm, là nguy hiểm vẫn dấn thân vào, hành động cố chấp làm theo ý riêng của mình, bất chấp mọi lời khuyên bảo, đến khi đụng việc mới tỉnh ngộ là chuyện đã rồi. Sự mê ngủ này nó hàm chứa 4 loại tham: tài, sắc, danh, thực nêu trên. Vì mê lầm không nhận thức được tiền tài có nghĩa hay vô nghĩa, sắc đẹp, danh vọng, ăn uống v.v… bởi nhân tố đó gây ra khổ đau lầm lạc. Đó là nguyên nhân bất an thứ năm.

Do năm nguyên nhân không an nêu trên, nó làm cho ta điên đảo trong cuộc sống, vọng tưởng những chuyện ảo huyền, tâm lúc nào cũng nơm nớp tính toan; thân hệ lụy kiệt sức mỏi mòn. Phật dạy: “Đa dục vi khổ, sanh tử bì lao, trùng tham dục khởi…”

Nếu tài, sắc, danh, thực, thùy không đáp ứng lại thì khổ đau quằn quại, còn điều nào được như ý thì tâm luyến ái không muốn buông bỏ, tâm lúc nào cũng luyến tiếc của cải, vật chất, chức tước, địa vị, ăn uống, ngủ nghỉ (mê lầm). Sự luyến ái bao giờ nó cũng vun vén cho “cái ta” (bản ngã), nào là nhà của ta, tiền bạc của ta, xe cộ của ta, vợ của ta, chồng của ta, con cháu của ta, danh vị của ta v.v. và v.v…

Phật dạy: ” Con là nợ, vợ chồng là oan gia, của cải, nhà cửa là nghiệp báo “. Vì vô lượng kiếp đến nay, chúng sinh mãi vùi đầu trong giấc ngủ say, lấy giả cho là thật, rồi cứ ôm ấp luyến tiếc. Rốt cuộc, cũng do tham luyến làm cho không an. Vì không an, nên mới ghi danh sách cúng thập tự, bá tự để CẦU AN, đến miếu môn cầu khấn ban cho những điều an. Đa số cúng kiến, vái van đều cầu cho gia đình tự thân được bình an, tai qua nạn khỏi.

Trở lại ý nghĩa cầu an trong tinh thần đạo Phật. Phật dạy: ” Thiểu dục vô vi thân tâm tự tại ” (bớt lòng tham muốn thì thân và tâm an lạc tự tại).

Như vậy, khi cầu an nên hiểu căn bản của năm thứ tham nêu trên; giảm bớt ít thì an ít, giảm bớt nhiều thì an nhiều. Nếu tham luyến không còn thì bình an vô sự, đó là tôn chỉ của đạo Phật, là chân lý cứu cánh của đạo Phật, chứ Phật không phải là người ban phước giáng họa. Giáo lý của đạo phật là phương thuốc hay, khi Ngài chẩn đoán được tâm bệnh của chúng sinh (nguyên nhân bất an), Ngài giúp cho toa thần dược để trị liệu.

Nếu người bệnh muốn hết bệnh thì nên ứng dụng toa lương dược mầu nhiệm này. Chứ còn cầm chén thuốc mà cứ nói: “Thuốc hay quá, thuốc hay quá” (vái van an bình) mà không chịu uống (không thực hiện năm điều tham luyến nêu trên) thì bệnh bất an vẫn hoàn bất an, uổng công vô ích, vô tình đưa đạo Phật vào con đường thần quyền mê tín.

Thích Nhật Quang (Chùa Long Phước, Lấp Vò, Đồng Tháp)

Thích Nhật Quang

Sự kiện nổi bật

Tìm kiếm

Ý Nghĩa Của Mâm Ngũ Quả

Mâm ngũ quả là loại mâm lễ vật thường có năm loại quả khác nhau, số năm thể hiện ước muốn đạt ngũ phúc lâm môn, cụ thể là Phú, Quý, Thọ, Khang, Ninh. Còn theo phong thủy truyền thống năm loại quả này sẽ có năm màu sắc khác nhau tượng trưng cho nguồn của cải năm phương mà con cháu muốn dâng lên kính dâng tổ tiên cũng như các vị thần linh. Mâm ngũ quả thường bắt gặp trong các dịp cúng kị, tết cổ truyền, cúng tổ tiên, cúng Mụ, Cúng thần, cúng dinh cô …Từng vùng miền với loại thổ nhưỡng khí hậu đặc trưng riêng, sản vật riêng và quan niệm mà người ta chọn các loại quả thích hợp đẹp nhất, ngon nhất để bày cúng.

PHONG TỤC CÚNG NGŨ QUẢ TỪNG VÙNG MIỀN

NGƯỜI MIỀN BẮC

Người Miền Bắc quan niệm rằng việc bày mâm ngũ quả phải theo thuyết Ngũ hành trong văn hóa phương Đông là vạn vật dung hòa cùng trời đất. Thổ thì màu vàng, Hỏa thì màu đỏ, Thủy sẽ là màu đen, Mộc thì màu xanh, Kim là màu trắng. Do đó, thông thường mâm ngũ quả ngày Tết ở miền Bắc có 5 loại quả là chuối xanh, quýt, hồng, bưởi đào.

 Mâm quả truyền thống thường được bày trí : Quả Chuối ở dưới cùng, đỡ lấy toàn bộ các loại quả khác. Chính giữa là quả bưởi hoặc phật thủ vàng. Các loại quả bày xung quanh. Những chỗ còn trống cài xen kẽ táo xanh, quýt vàng hoặc những quả ớt chín đỏ. Do hoa quả, trái cây ngày càng đa dạng nên mâm ngũ quả ngày càng phong phú hơn, người ta cũng không câu nệ cứng nhắc “ngũ quả” nữa mà có thể là bát, cửu, thập quả, thêm chùm nho mọng, thêm táo xanh, ớt đỏ, hồng xiêm… Dù bày biện nhiều loại quả hơn nhưng người ta vẫn gọi là “mâm ngũ quả”.

MÂM NGŨ QUẢ MIỀN TRUNG

Cuộc sống nghèo khó phải đối mặt với nhiều thiên tai, khí hậu khắc nghiệt nên đối với họ không câu nệ hình thức, có gì cúng nấy nên tùy mỗi nhà có loại quả gì thì họ sẽ bày trong mâm ngũ quả loại quả đó. Thông thường mâm ngủ quả miền Trung có mãng cầu, quýt, quả sung, dưa hấu, chuối …

MÂM NGŨ QUẢ MIỀN NAM

Người miền Nam bày mâm ngũ quả theo mong muốn “Cầu sung vừa đủ xài” ước mong năm mới đủ đầy, sung túc, tương ứng với 5 loại quả: Mãng cầu, sung, dừa, đu đủ, xoài. Ngoài ra, còn có thêm quả thơm (dứa) với mong muốn con cháu đầy nhà và một cặp dưa hấu xanh vỏ đỏ lòng để cầu may mắn.Và theo quan niệm của người miền Nam thì trong mâm ngũ quả không bày những quả này bởi phát âm của loại quả đó mang ý nghĩa không tốt như quả chuối, lê, cam, quýt.

Mâm ngũ quả ngày Tết là nét văn hóa đặc trưng của người Việt, dù có khác nhau giữa các vùng miền nhưng trên hết đều thể hiện sự thành kính hướng về nguồn cội, tổ tiên và ước mong một năm mới an khang, hạnh phúc và đủ đầy.