Tục Lệ Cúng 35 Ngày / Top 3 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 1/2023 # Top View | Apim.edu.vn

Tục Lệ Cúng Mụ 7 Ngày Là Gì?

Cúng mụ là 7 ngày là một trong rất nhiều nghi lễ được người Việt xem trọng và gìn giữ cho đến tận ngày nay. Lễ cúng mụ thường được diễn ra nhiều lần trong một năm theo từng mốc thời gian nhất định như: đầy cữ, đầy tuần, đầy tháng, 3 tháng 10 ngày và lễ cúng đầy năm. Bài viết này sẽ giới thiệu đôi nét về lễ cúng mụ 7 ngày.

Nguồn gốc và ý nghĩa của lễ cúng mụ 7 ngày

Cúng mụ 7 ngày còn có một tên gọi khác là cúng mụ đầy tuần. Đây là lễ cúng tiếp theo sau cúng đầy cữ kể từ thời điểm người mẹ hạ sinh em bé. Mục đích của lễ cúng này là để tạ ơn các bà Mụ, báo cáo gia tiên và cầu xin những điều tốt đẹp nhất đến với con trẻ.

Cúng mụ 7 ngày cũng được lý giải dựa trên những quan niệm dân gian truyền thống và sự tích về các bà Mụ. Theo đó, một em bé khi còn nằm trong bụng mẹ đến khi chào đời và tròn đầy 1 năm tuổi sẽ được sự che chở và nâng niu của 13 bà Mụ, còn gọi là “Mẹ sinh”. 13 bà Mụ và cũng là 13 vị Tiên Nương phụ trách vấn đề sinh đẻ. Tuy mỗi người đảm nhiệm những công việc khác nhau nhưng đều chịu trách nhiệm chung nếu có bất kì khiếm khuyết nào.

Lễ cúng mụ là dịp quan trọng để các bậc cha mẹ bày tỏ sự trân trọng, biết ơn đối với công lao của các bà Mụ trong việc săn sóc con em mình; là dịp để báo cáo ông bà tổ tiên vỀ sự xuất hiện của một thành viên mới trong gia đình và cũng là cơ hội để cầu khấn cho em bé được nhiều điều may mắn nhất, trước hết là một sức khỏe đủ đầy để tiếp tục chặng đường phát triển đầu tiên của cuộc đời. Nhưng qua đó, ta có thể cảm nhận được những nét độc đáo trong sinh hoạt văn hóa truyền thống tinh thần của nhân dân. Đó là tình cảm gia đình, sự kính trọng dành cho các bậc tổ tiên, sự trân quý dành cho những người lớn tuổi và sự yêu thương con nhỏ vô bờ bến. Truyền thống ấy đã ăn sâu vào trong tâm thức người Việt và cho đến ngày nay, nó vẫn còn mang những hơi thở rất riêng, rất đậm nét, không phải nơi đâu cũng có được.

Những lưu ý khi thực hiện lễ cúng mụ 7 ngày

Vì luôn coi trọng các nghi lễ truyền thống nên trước khi tiến hành, người Việt rất cẩn thận và chuẩn bị sao cho chu toàn nhất có thể, từ việc chọn lựa thời gian đến công tác chuẩn bị lễ vật, sắp xếp đồ cúng, chọn người cúng…

Thông thường, sau khi người mẹ hạ sinh, gia đình sẽ tổ chức lễ cúng mụ cho em bé vào ngày thứ 7 (đối với con trai) và ngày thứ 9 (đối với con gái). Thời điểm thích hợp được chọn là vào buổi sáng hoặc buổi tối. Bởi theo quan niệm dân gian, buổi sáng là thời điểm vừa tỉnh dậy sau một đêm ngủ dài, con người đã nạp đủ năng lượng nên vô cùng tỉnh táo và tập trung. Đây là lúc con người dễ dàng đưa ra được các quyết định đúng đắn và sáng suốt nhất. Ngược lại, chiều tối, tuy không phải là thời gian lý tưởng để làm việc nhưng lại là thời điểm lý tưởng để con người nghỉ ngơi sau một ngày làm việc vất vả. Lúc này, tinh thần sẽ thư giãn hơn, thoải mái hơn, thong dong hơn và nhẹ nhàng hơn. Vì những lẽ đó mà buổi sáng và chiều tối là hai thời điểm thường được lựa chọn để thực hiện các nghi thức cúng lễ.

Lễ vật là những thứ không thể thiếu trong bất kì nghi thức cúng lễ nào. Về cơ bản, so với cúng mụ đầy tháng hay đầy năm thì lễ vật cúng mụ 7 ngày không có quá nhiều sự khác biệt như: xôi, chè, lễ mặn, hương, hoa thơm, ngũ quả, vàng mã, đũa hoa,… Và cũng tùy theo từng truyền thống gia đình, phong tục địa phương mà mỗi nơi có sự thay đổi ít hoặc nhiều. Nhưng dù là cầu kì hay đơn giản thì yếu tố quan trọng nhất vẫn nằm ở sự thành tâm và tôn kính của người làm lễ đối với các bậc thần linh, tổ tiên và những người đã khuất.

Sau khi đã chuẩn bị đầy đủ lễ vật, việc cần thiết tiếp theo là sắp xếp lễ vật vào mâm cúng sao cho hài hòa và hợp lý nhất. Người khấn cúng là người có uy tín thay mặt gia đình, dòng họ gửi đến tổ tiên, các vị thần linh tấm lòng thành kính và cầu xin mọi sự may mắn, thuận lợi cho con trẻ.

Sau lễ cúng, các thành viên trong gia đình quây quần bên mâm cơm gia đình, dành cho em bé và bà mẹ những lời chúc tốt đẹp nhất, cùng hy vọng về một sự khởi đầu mới, tương lai sáng lạn đối với em bé.

Dù là lễ cúng mụ đầy tháng, đầy năm hay lễ cúng mụ 7 ngày, ta đều có thể thấy được sự chuẩn bị cẩn trọng và chu đáo của từng thành viên trong gia đình đình trước một nghi thức cúng lễ quan trọng.

Tục Lệ Cúng Đất Của Người Dân Huế

Tục lệ cúng đất của người dân Huế

Cúng đất còn có tên là lễ ” Tạ thổ kỳ yên”. Cúng đất là lễ dâng cúng cho các vị thần Đất và các vị thần phối thuộc, mỗi năm diễn ra hai lần vào một ngày tốt trong tháng 2 và tháng 8 âm lịch.

Vậy thì vì sao ở Huế có tục lệ cúng đất mà những nơi khác lại không có? Tương truyền, khi Công chúa Huyền Trân được gả cho vua Chế Mân của nước Chiêm Thành vào năm 1306, Đại Việt ta nhận được sính lễ từ vua Chăm là vùng đất 2 châu: Châu Ô, Châu Lý (Châu Rí). Tính theo ngày nay là vùng đất phía Nam tỉnh Quảng Bình cho đến phía Bắc tỉnh Quảng Ngãi. Như vậy, cư dân ở vùng đất này vốn là cư dân của Vương quốc Chămpa, theo suy nghĩ của người Đại Việt lúc bấy giờ vùng đất này là vùng đất xa lạ, họ chưa quen thổ nhưỡng, khí hậu, địa hình cho nên khi vào đây lập nghiệp họ mang trong mình sự tôn kính đối với người dân bản địa và các vị thần linh ở đây. Từ đó, họ có lệ cúng Đất như là việc mong thần linh và những linh hồn người bản địa từng cư ngụ ở đây phù hộ độ trì, chấp thuận cho sự có mặt làm ăn sinh sống của cư dân Đại Việt ta.

Qua đó, ta thấy rằng Lễ cúng Đất không chỉ có ở Huế mà cả vùng từ Quảng Bình đến Quảng Ngãi. Nhưng ngày nay, ở các vùng đó vì nhiều lí do họ không còn cúng đều như ở Huế nữa. Là vùng đất xứ Kinh kỳ đầy tâm linh, Huế vẫn giữ nét truyền thống ấy một cách đầy thành kính.

Một lễ cúng đất đầy đủ nhất có đến 3 bàn: bàn thượng, bàn trung và bàn hạ. Mỗi bàn đều có hương đèn, hoa quả, cau trầu rượu, giấy vàng mã. Bàn thượng đặt bộ áo thổ thần, vật thực gồm con gà, bát xôi, xung quanh là xôi chè. Bàn trung đặt hai bộ áo bà, năm bộ áo ngũ phương, lễ vật gồm miếng thịt heo luộc, đĩa xôi, ba đĩa cua trứng luộc chín, có miếng thịt tợ đặt lên trên và mâm cỗ cúng cơm, đặt biệt có đĩa rau khoai luộc, chén nước ruốc và xâu cá, thịt nướng. Bàn hạ đặt áo, cháo, gạo, muối, khoai, sắn, đậu lạc…Ba bàn đặt trước nhà, gia chủ đứng từ trong nhà lạy ra. Danh sách dâng cúng và khấn vái gồm đất nhà cửa của gia chủ cho đến thần suối, thần giếng và tổ tiên làng xã, gia tộc. Đặc biệt là dâng cúng những cô hồn người Chăm từng cư trú, những oan hồ không ai thờ tự…

Khi gần xong lễ, gia chủ sẽ sớt một ít vật thực, và một số thực phẩm nói trên vào cái bẹ chuối gập thành hình cái đãy nhỏ cùng ít áo giấy âm binh đem treo ở góc vườn. Vàng mã thì đốt đi, cháo thánh, gạo muối vãi lên trên khi lửa đốt sắp tàn.

Lễ cúng này biểu tỏ nét đẹp trong tâm thức của cư dân Huế nhằm cầu nguyện âm siêu, dương thái, cuộc sống an lành.

Theo Thiêu Trúc (KPH)

Tìm Hiểu Tục Lệ Cúng Người Chết Sau 100 Ngày Tại Việt Nam

Thờ cúng tổ tiên là nét văn hóa lưu truyền lâu đời tại Việt Nam, thể hiện lòng tôn kính đối với những người thân đã khuất, hướng về cội nguồn và lấy đó làm động lực để sống tốt. Người chết sau 100 ngày cũng được cúng bái cẩn thận để tưởng nhớ và tiễn biệt họ yên tâm lên đường rời xa cõi trần gian.

Cúng người chết sau 100 ngày là phong tục quen thuộc của người Việt

Tại sao cúng người chết sau 100 ngày?

Người dân Việt quan niệm người khi chết đi cũng giống như khi còn sống, giữ những thói quen sinh hoạt và ăn uống theo lối cũ. Do đó, ngay cả khi đã mất, họ cũng thường về đúng bữa cơm để cùng ăn với gia đình của mình.

Chính bởi người Việt luôn coi trọng những bữa cơm đầm ấm, quây quần cùng gia đình mà đối với người chết, con cháu trong nhà vẫn tưởng nhớ đến người đã khuất, bày biện mâm cơm cúng để gọi họ về cùng dùng bữa cơm tụ họp.

Tương tự như tục lệ cúng 49 ngày, cúng người chết sau 100 ngày cũng mang ý nghĩa riêng. Theo quan niệm của người Trung Quốc thuở xưa, linh hồn của người đã khuất sau khi chết phải chịu thử thách vượt qua được 10 cánh cửa dưới địa ngục mới được xét xem có được đầu thai hay phải chịu tội. Mỗi cánh cửa này là một lần người đã khuất phải chịu phán xét những điều xấu, những tội lỗi gặp phải khi còn sống.

100 ngày đầu tiên sau khi mất, người chết phải vượt qua các cánh cửa địa ngục khó khăn, thử thách

Những mốc cửa cực kỳ quan trọng là cửa thứ 7, tương ứng với 7 tuần đầu tiên sau khi mất (tục cúng 49 ngày); cửa thứ 8 tương ứng với 100 ngày sau khi chết (tục cúng 100 ngày). Sau đó là các cửa thứ 9 (1 năm sau khi mất) và cửa cuối cùng thứ 10 (2 năm sau khi mất).

Mỗi cột mốc quan trọng ngày, người chết đều phải trải qua thử thách khó khăn. Do đó, tục lệ cúng 100 ngày sau khi chết mang ý nghĩa san sẻ khó khăn, người sống muốn giúp người đã chết vượt qua các cửa ải để được đầu thai sang kiếp sau.

Chuẩn bị mâm cúng người chết sau 100 ngày

Không cần quá cầu kỳ khi chuẩn bị mâm cúng người chết sau 100 ngày vì chỉ cần thành tâm dâng cúng là đã đủ làm người đã khuất yên lòng. Bữa cơm cúng người chết sau 100 ngày chuẩn bị giống như một bữa cơm gia đình thông thường và mời đầy đủ các thành viên trong gia đình tới quây quần cùng ăn uống.

Mâm cúng người chết sau 100 ngày chỉ cần đơn giản như bữa cơm gia đình

Nên nhớ trong vòng 100 ngày sau khi mất, con cháu trong nhà luôn nhớ mỗi ngày vào bữa cơm dâng lên ban thờ người đã khuất một bát cơm úp đầy kèm thêm một số món ăn gia đình thường ngày. Thắp hương để gọi người đã khuất về ăn rồi cắm đôi đũa vào giữa bát cơm, khấn cúng cẩn thận rồi rót một chén nước đầy là đã xong.

Đối với lễ cúng 100 ngày, sửa soạn mâm cỗ cúng như bữa cơm gia đình, nếu cẩn thận thịnh soạn hơn thì nên chuẩn bị những món ăn như một bữa cỗ đủ đầy để mời người thân đến cùng tụ họp tưởng nhớ người đã khuất. Hương hoa, rượu, hoa quả cũng là những lễ vật không thể thiếu.

Tìm Hiểu Tục Lệ Cúng Giỗ Xưa Nay Của Người Việt

Ngày giỗ còn gọi là húy nhật hay kỵ nhật, là ngày mất của một người tính theo âm lịch, là dịp để con cháu và người thân hàng năm tổ chức cúng cơm tưởng nhớ đến người đã khuất, đồng thời cùng nhau gặp mặt nhận họ nhận hàng và bàn bạc những công việc chung của gia đình, dòng họ.

Cúng giỗ tổ tiên, ông bà, cha mẹ, được coi là việc báo hiếu, là ngày con cháu tưởng nhớ đến công lao sinh thành, xây nền đắp móng của các bậc tổ tiên, và để cầu xin vong linh các bậc tiền bối phù hộ độ trì cho con cháu, cho gia đình, dòng họ.

Giỗ Đầu, Giỗ Hết và Giỗ Thường

Trong tục lệ cúng giỗ, căn cứ thời gian qua đời của người quá cố người ta lưu ý đến 3 ngày giỗ với những nghi thức khác nhau, đó là: Giỗ Đầu, Giỗ Hết và Giỗ Thường.

Giỗ Đầu còn gọi là lễ Tiểu Tường, là ngày giỗ đầu tiên, tổ chức sau ngày người mất đúng một năm. Đây là thời gian còn nằm trong kỳ tang chế, nên ngày giỗ vẫn còn mang không khí buồn thảm, bi ai.

Trong ngày Giỗ Đầu, người ta thường tổ chức rất trang nghiêm. Con cháu vẫn mặc đồ tang phục (ngày nay đa số chỉ đeo băng tang trên ngực), một số gia đình lúc tế lễ và khấn gia tiên, thân nhân của người quá cố vẫn khóc than, tạo không khí nhớ thương buồn thảm. Khách đến ăn giỗ luôn ăn mặc chỉnh tề, giữ thái độ trang nghiêm, không cười đùa hoặc có những cử chỉ thiếu sự nghiêm túc.

Giỗ Hết còn gọi là lễ Đại Tường, là ngày giỗ sau ngày người mất hai năm. Theo tục lệ thì thời gian này cũng vẫn nằm trong kỳ tang chế nên người ta vẫn tổ chức lễ giỗ với nghi thức trang nghiêm.

Ngày giỗ hết được cho là ngày giỗ quan trọng nhất trong tất cả những ngày giỗ đối với người qua đời, bởi nó đánh dấu một bước ngoặt trong cuộc đời của người còn sống cũng như đối với vong linh của người đã khuất. Chính vì vậy Giỗ hết thường được tổ chức long trọng, con cháu, người thân thường có mặt đông đủ, khách mời dự cũng được mở rộng.

Sau lễ Giỗ Hết ba tháng (tức sau 27 tháng để tang người mất), người nhà sẽ chọn một ngày tốt để làm lễ Đoạn tang (hết tang). Lễ Đoạn tang còn gọi là lễ Đàm tế hay lễ Trừ phục (bỏ hết mọi đồ tang phục). Trong lễ này người ta làm ba việc chính sau đây:

– Sửa sang, đắp điếm cho mộ phần to đẹp thêm.

– Đốt hủy các thứ thuộc phần tang lễ như: khăn áo, băng tang, gậy chống, rèm sô, câu đối, trướng điếu…, bỏ bàn thờ vong để rước linh vị vào bàn thờ gia tiên.

– Cáo yết tổ tiên để xin cho rước bát hương vào bàn thờ gia tiên.

Sau khi làm lễ, người nhà đưa linh vị, di ảnh và bát hương thờ vong linh người quá cố vào thờ chung ở bàn thờ gia tiên theo thế thứ sắp đặt. Người ta cũng có thể lấy 3 chân nhang ở bát hương người quá cố cắm chung vào bát hương hội đồng ở bàn thờ gia tiên thay cho việc chuyển cả bát hương lên.

Sau lễ này người đang sống sẽ trở lại cuộc sống thường nhật, có thể tham gia các tổ chức hội hè, đình đám, vui chơi; người vợ có chồng chết có thể đi bước nữa.

Trong cuộc sống hiện nay, nhiều người đã có những nhận thức mới, đa số đều thực hiện sau Giỗ Hết là bỏ tang chế. Đặc biệt, đối với những người chết được hỏa táng thì người ta cho rằng họ đã sớm được “sạch sẽ” nên lễ Đoạn tang sẽ tiến hành ngay sau Giỗ Hết chứ không phải chờ thêm 3 tháng nữa, thậm chí có gia đình ngay sau lễ Tốt Khốc (100 ngày) đã đưa di ảnh và chân hương lên thờ chung ở bàn thờ gia tiên.

Giỗ Thường còn gọi là ngày Cát kỵ, là ngày giỗ sau ngày người mất từ ba năm trở đi. Cát kỵ nghĩa là Giỗ lành. Trong lễ giỗ này, con cháu mặc đồ thường phục, không còn mặc tang phục nữa. Đây là dịp để con cháu sum họp vừa để tưởng nhớ người đã khuất, vừa vui vẻ nhận biết người thân, giới thiệu họ hàng, bàn những chuyện về gia đình, dòng họ. Thường thì ngày Cát kỵ được tổ chức nhỏ gọn hơn, chủ yếu trong phạm vi gia đình chứ không mời khách khứa rộng rãi như hai kỳ Giỗ Đầu và Giỗ Hết.

Lễ Tiên thường và ngày Chính kỵ

Trong một kỳ giỗ, người ta thường tiến hành 2 lễ quan trọng là lễ Tiên thường và lễ Chính kỵ.

Lễ Tiên thường còn được gọi là ngày cúng Cáo giỗ, cúng trước ngày người quá cố qua đời. Trong ngày này, con cháu cáo giỗ để mời người đã khuất hôm sau về hưởng giỗ, xin phép Thổ công cho vong hồn người quá cố và Gia tiên nội ngoại về hưởng giỗ cùng cháu con. Ngày này con cháu, người thân cũng thường sắp lễ ra mộ, vừa là thăm viếng, sửa sang phần mộ, vừa trực tiếp mời vong linh người thân, đồng thời cáo thỉnh thần linh, thổ địa cai quản nghĩa trang cho phép vong linh thân nhân được về hưởng giỗ.

Tiên thường có nghĩa là nếm trước. Ý nghĩa ban đầu của lễ Tiên thường là con cháu sắm sanh một ít lễ vật, dâng lên mời gia tiên nếm trước. Lễ Tiên thường thường được cúng vào buổi chiều ngày hôm trước. Ngày này, từ sáng sớm bàn thờ được dọn dẹp, lau chùi sạch sẽ để bày mâm biện lễ, chuẩn bị cho việc cúng bái buổi chiều. Trong lễ Tiên thường, khi khấn, chủ lễ phải kính cáo Linh Thần Thổ Địa trước, rồi mới khấn mời Gia tiên sau. Bắt đầu từ lúc đó bàn thờ luôn phải duy trì đèn nhang, hương khói cho đến hết lễ Chính kỵ vào ngày hôm sau.

Có một điều chú ý là, lễ Tiên thường chỉ được áp dụng đối với Giỗ Trọng, tức giỗ những người hàng trên hoặc ngang hàng trưởng gia như kỵ, cụ, ông, bà, cha, mẹ, chồng, vợ, anh, chị, em… Còn đối với Giỗ Mọn, tức giỗ những người hàng dưới trưởng gia như con, cháu, chắt, chít… thì không cần cúng Tiên thường mà chỉ cúng ngày Chính giỗ.

Trước đây Lễ Tiên thường được tổ chức rất long trọng. Những gia đình có điều kiện còn làm cỗ mời bà con thân thích, thông gia, xóm giềng đến ăn giỗ vào ngày này. Ngày nay, trong nhịp sống hiện đại, lễ Tiên thường được tổ chức đơn giản đi nhiều. Trên bàn thờ chủ yếu bày hương hoa, trầu cau, trái cây , rượu nước và một số vật phẩm chay tịnh như phẩm oản, xôi chè để kính cáo Gia thần và khấn mời vong linh Gia tiên, mang đúng ý nghĩa là cúng Cáo giỗ. Bây giờ không nhiều người làm cỗ cúng và mời khách trong Lễ Tiên thường mà tập trung vào ngày Chính kỵ.

Ngày Chính kỵ còn được gọi là Chính giỗ, là ngày mất của người quá cố. Tùy theo điều kiện từng gia đình, lễ Chính kỵ có thể được tổ chức quy mô to nhỏ khác nhau. Nhà giàu thì tổ chức làm giỗ linh đình, mời người thân trong dòng họ, bạn bè gần xa, anh em bằng hữu về dự giỗ. Nhà nghèo thì chỉ cần lưng cơm, đĩa muối, quả trứng, tuần nhang và vài món ăn giản dị cúng người đã mất. Lòng kính trọng, tiếc thương đối với người đã khuất phụ thuộc vào việc con cháu phải nhớ ngày mất để làm giỗ, không phụ thuộc vào việc giỗ lớn hay nhỏ. Thân bằng, cố hữu của người quá cố nếu có tình nghĩa, thấy lưu luyến thì nhớ ngày giỗ chủ động đến thắp nén hương, không cần phải đợi có lời mời.

Một điều quan trọng trong Lễ Chính kỵ là trên bàn thờ phải có bát cơm úp và một quả trứng luộc kèm gia vị. Ý nghĩa của việc này được chi phối bởi thuyết Âm Dương, thể hiện sợi dây tình cảm giữa người đang sống và người quá cố. Theo luận thuyết, sự vật có Âm Dương hài hòa thì mới phát triển sinh sôi. Ở bát cơm úp, phần chìm dưới bát thuộc Âm, phần nổi trên thuộc Dương. Quả trứng luộc cũng vậy, lòng đỏ bên trong thuộc Âm, lòng trắng bên ngoài thuộc Dương. Trong quả trứng còn mang mầm sống, thể hiện ý nguyện của con cháu là các bậc tiền bối qua đi sẽ luôn nảy sinh ra thế hệ mới kế tục.

Sau khi cỗ cúng và đồ lễ bày biện xong xuôi, gia chủ khăn áo chỉnh tề, bước vào thắp hương, khấn bái. Khác với lễ Tiên thường, trong lễ Chính kỵ gia chủ cần phải khấn mời vong linh người được hưởng giỗ trước, tiếp theo mời Gia tiên nội ngoại, từ bậc cao nhất đến thấp nhất, sau đó mới cáo thỉnh Gia thần cùng về hâm hưởng.

Khách đến dự giỗ thì đặt đồ lễ lên bàn thờ, thắp nén hương vái 3 vái rồi đọc lời khấn. Khấn xong vái thêm 4 vái nữa.

Đợi hết ba tuần hương, gia chủ đứng trước bàn thờ để lễ tạ bằng ba vái ngắn rồi lấy đồ vàng mã đem đi hóa. Sau đó hạ lễ, mời khách khứa và mọi người thụ lễ (ăn giỗ). Sau khi ăn giỗ xong, gia chủ hạ lễ vật trên bàn thờ xuống, chia thành từng túi cho từng gia đình – thân khách gọi là lộc của Tổ tiên.

Theo đúng phong tục cổ truyền thì lễ Tiên thường phải cúng vào buổi chiều ngày hôm trước, lễ Chính kỵ phải cúng vào buổi sáng ngày chết (kể cả việc người đó chết vào buổi chiều hay tối). Tuy nhiên, ngày nay nhiều gia đình không câu nệ, có khi chuyển cúng Chính giỗ vào buổi chiều, thậm chí cúng trước một, hai ngày nếu đó là ngày nghỉ để tạo điều kiện thuận lợi cho con cháu được dự giỗ đông đủ. Vào sáng ngày Chính giỗ chỉ thắp hương tưởng nhớ người đã khuất và yết cáo Tổ tiên, Thần Phật.

Theo tục lệ thì con trai trưởng là người chịu trách nhiệm lo cúng giỗ bố mẹ. Đến ngày giỗ, con cháu sẽ tập trung ở nhà ông trưởng để làm giỗ. Trường hợp con trai trưởng mất thì tổ chức tại nhà cháu đích tôn. Nếu người được giỗ là hàng cao thì con cái, cháu chắt đến nhà trưởng tộc làm giỗ. Con gái và con trai thứ chịu trách nhiệm góp giỗ cho con trai trưởng. Các cháu, chắt cũng là những người đóng góp thêm để giảm bớt gánh nặng chi phí cho trưởng chi hay trưởng tộc. Lễ gửi góp giỗ lớn hay nhỏ tùy thuộc vào hoàn cảnh và mối quan hệ với người chết của từng gia đình. Trước đây, gần đến ngày giỗ, những người đóng giỗ thường đem tiền, gạo đến góp cho trưởng chi để chuẩn bị tổ chức giỗ. Một số gia đình, dòng họ còn có ruộng hương hỏa, cày cấy lấy phần lợi nhuận cho người làm giỗ.

Ngày nay có nhiều đổi khác, con cháu thường góp giỗ bằng tiền và các đồ lễ vật khác như: vàng hương, trái cây, bánh kẹo… Cũng có người gửi giỗ là những vật phẩm thuộc sở thích của người quá cố. Một số gia đình tổ chức giỗ trong phạm vi hẹp lại phân công mỗi anh chị em trong nhà chuẩn bị một vài món theo sở trường từng người rồi đem đến tập trung lại bày cỗ… Những người sống ở xa không có khả năng về dự giỗ thì gửi đồ lễ cho trưởng họ và cúng vọng mời vong linh người quá cố về hưởng giỗ tại nhà mình. Bây giờ có nhiều người góp giỗ không đưa trực tiếp cho trưởng họ mà để phong bì thắp hương trên bàn thờ, điều này không đúng với tục lệ, mặt khác khi gia chủ thu dọn đồ lễ dễ rơi vãi, thất lạc.

Theo sách Thọ Mai Gia Lễ thì ông bà ta có tục lệ “Ngũ đại mai thần chủ”, tức việc cúng giỗ chỉ thực hiện trong 5 đời theo phép “Ngũ đại đồng đường”. 5 đời là tính cả đời người chịu trách nhiệm cúng giỗ, nên thực tế thì chỉ cúng có 4 đời là: Cao, Tằng, Tổ, Phụ, tức 4 đời tính từ dưới lên là: cha mẹ, ông bà, cụ (hay cố) và kỵ (hay can). Các đời trên Cao tổ khảo (tức kỵ/can) gọi chung là Tiên tổ thì không cúng giỗ nữa mà nhập chung vào kỳ xuân tế, hoặc phụ tế vào ngày giỗ của Thuỷ tổ. Người chịu trách nhiệm cúng giỗ sẽ mang thần chủ của cụ đời thứ 6 đem đi chôn và sửa lại thần chủ của các đời bên dưới bằng cách nâng lên một bậc, cụ đời 6 được rước vào nhà thờ họ để khấn chung với cộng đồng Gia tiên trong các dịp giỗ chạp, tết lễ.

Những người theo thuyết Luân hồi thì cho rằng, sau năm đời vong linh người quá cố được siêu thoát, đầu thai hóa kiếp trở lại nên không cần thiết phải cúng giỗ nữa mà nạp chung vào kỳ xuân tế.

Những người đã đến tuổi thành thân, thành nhân nhưng khi chết chưa có vợ hoặc mới có con gái, chưa có con trai hoặc có con trai nhưng con trai cũng chết, trở thành phạp tự (không có con trai nối giòng) thì vẫn được cúng giỗ. Người lo việc giỗ chạp là người cháu (con trai anh hoặc em ruột) được lập làm thừa tự. Người cháu thừa tự được hưởng một phần hay toàn bộ gia tài của người đã khuất. Sau khi người thừa tự mất thì con cháu người thừa tự đó tiếp tự.

Cũng có trường hợp nhà không có con trai, khi mất, tất cả gia tài thuộc về con gái. Khi đó con rể là người thừa tự. Việc cúng giỗ do con rể đảm nhiệm và sau này là cháu, chắt ngoại kế tục. Chúng ta được biết, trước đây không ít trường hợp do thừa tự nhà vợ mà một số người đã cải họ, mang họ ngoại, đến nhiều đời sau cháu chắt mới lấy lại họ gốc.

Xưa kia làng xã Việt Nam còn có tục lệ cúng Hậu. Cúng Hậu là hình thức cúng ruộng, tiền, vàng bạc, đồ thờ …. cho làng hoặc cho đình, chùa… để được cúng giỗ lâu dài sau khi “trăm tuổi về già”. Thông thường, người nào có tiền, có của mà không có con trai nối dõi, phụng thờ, để khỏi phải chịu cảnh “cướp cháo lá đa” thì ngoài việc lập người kế tự giữ gìn hương hoả, người ta còn cúng Hậu. Có người cúng Hậu để nhờ làng, đình, chùa, đền, miếu … cúng giỗ không chỉ cho bản thân mà còn cho cả những người thân trong gia đình. Cũng có người cúng Hậu để nâng cao uy tín, địa vị của bản thân, của dòng họ hoặc chỉ để nương bóng Thần Phật mong cả làng cúng giỗ mình thì hương hoả càng được lâu dài.

Ngày nay tục cúng hậu từ lâu đã không còn tồn tại nữa. Việc thừa tự cũng đã khác xưa. Những người được thừa hưởng tài sản của người mất theo luật thừa kế, không phân biệt con trai hay con gái đều có trách nhiệm chăm lo hương khói, giỗ chạp cho cha mẹ, ông bà.

Việc thờ cúng những người chết yểu

Những người chết khi chưa đến tuổi thành thân (nam dưới 16, nữ dưới 13), sau khi hết lễ tang, người nhà làm lễ yết cáo tổ tiên, xin được phụ thờ, khấn chung là Thương Vong Tòng Tự (dân gian gọi là Bà cô, Ông mãnh). Những người này không có lễ giỗ riêng, ai cúng giỗ chỉ là ngoại lệ. Có những gia đình bữa nào cũng xới thêm một bát cơm, một đôi đũa đặt bên cạnh mâm, coi như người thân còn sống trong gia đình. Ðiều này thuộc về tâm linh, niềm tưởng vọng đối với thân nhân đã khuất chứ không có trong gia lễ.

Cúng giỗ là một trong những phong tục truyền thống lâu đời của nhân dân ta. Mặc dù ngày nay có một số thay đổi về nghi thức cho phù hợp với cuộc sống thực tại, song nó vẫn luôn giữ được bản sắc văn hóa riêng của người Việt. Nghiên cứu để hiểu rõ thêm về tập tục của từng địa phương, trong từng thời kỳ sẽ giúp ta gạn đục khơi trong, tiếp thu được những tinh hoa của cha ông ta để lại, đồng thời vận dụng tốt hơn, phù hợp với cuộc sông hiện đại ngày nay. Chắc rằng đây cũng là một trong những việc làm bổ ích và cần thiết đối với mỗi người chúng ta.