Lễ Cúng Miếu / Top 3 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 2/2023 # Top View | Apim.edu.vn

Lễ Hội Miếu Bà Ngũ Hành

Lễ hội Miếu Bà Ngũ Hành Cùng với lăng ông Nam Hải và đình thần Thắng Tam, miếu Bà Ngũ Hành tạo thành một quần thể kiến trúc di tích và lễ hội tập trung tại khu đình thần Thắng Tam.  Miếu Bà Ngũ Hành được sáng lập và xây dựng vào năm Nhâm Thìn 1832, được vua Thiệu Trị tặng cấp 04 đạo sắc Thiên Y A Na Diễn Ngọc Phi Thượng Đẳng Thần vào năm 1845-1846. Vua Tự Đức tặng cấp 02 đạo sắc Thiên Y A Na Thần Nữ Thượng Đẳng Thần và Thủy Long Thần Nữ thượng đẳng thần vào năm 1850. Tên miếu được nhân dân gọi theo đối tượng thờ cúng chính trong miếu, được ghi rõ trên bức hoành treo trước cửa chính điện: “Ngũ Hành miếu”. Nhiều người gọi miếu Ngũ Hành là miếu Bà ngũ hành, còn ngư dân địa phương thường gọi là miếu Bà (các đối tượng thờ trong miếu đều là bà).

Lễ hội Miếu bà Ngũ hành được tổ chức hàng năm trong ba ngày, từ 16 đến 18 tháng 10 âm lịch.Thông thường từ 6 giờ sáng ngày 16 tháng 10, người ta tổ chức lễ nghinh Bà. Đám rước gồm có chủ lễ, học trò lễ, dân làng với kiệu, bàn thờ bài trí ngũ sự, trầu cau, hoa quả, rượu trà, cờ ngũ hành, chiêng trống, đoàn múa lân… Ra miếu hòn Bà – bãi Sau nghinh Bà về Miếu Ngũ Hành cúng lễ.

Điều đặc biệt của lễ nghinh Bà ngũ hành khác với nghinh Ông là đám rước đi bộ trên đất liền, không dùng ghe, kể cả khi hòn Bà (nằm cách bờ biển chừng 50 mét, vì vậy người ta thường chọn khi thủy triều xuống mới ra nghinh Bà). Từ hòn Bà, đám rước theo đường Thùy Vân, qua đường phan Chu Trinh ra đường Hoàng Hoa Thám về khu đình thắng chúng tôi khi nghinh Bà về đến miếu, khoảng 8 giờ – 8 giờ 30 tổ chức nghi cúng giỗ tiền hiền – hậu hiền.Trước khi cúng chính lễ, khoảng 11 giờ tổ chức Bóng rỗi, chầu mời, với ý nghĩa mời Bà về dự lễ và múa dâng mâm vàng, mâm bạc cho bà.

Đúng 12 giờ trưa bắt đầu nghi lễ cúng ngũ hành. Đây là chính lễ, vừa cúng nghinh vừa cúng tạ thần. Bắt đầu vào lễ cúng, người ta đánh ba hồi chiêng trống ( một chấp sự đánh chiêng, một chấp sự đánh trống). 8 học trò lễ và 6 đào thài thực hiện những nghi thức truyền thống. Trước bàn thờ ngũ hành bốn phụ nữ quỳ chuẩn bị tế lễ: gồm 1 chánh tế, 1 bồi tế, hai bên là đông hiếu và tây hiếu. Tiếp theo là 4 người trang phục lính hầu, tay cầm mác. Chủ lễ cúng thần dâng một tuần hương, ba tuần rượu, một tuần trà. Người ta chuẩn bị một Bà cốt, chủ tế cúng nguyện và bà nhập vào bà cốt. Thông qua bà cốt, thần sẽ chuyển tải những điều cần mách bảo cho dân làng. Sau cùng chủ lễ hóa văn tế (gọi là sớ). Những người tham dự cúng lễ lần lượt lạy tạ Bà và bày tỏ những ước nguyện của mình và gia đình, cầu mong Bà độ trì và giúp đỡ.

Bên cạnh việc tổ chức nghi lễ, thường là hát bội: diễn các vở Phan Thế Ngọc đả lôi đài, Sở Văn cứu giá, mai trắng xe duyên, xử án phi giao, lễ tôn soái Dương Kim Huệ … Ngay trong buổi chiều của ngày cúng lễ đầu tiên, ban quý tế đã tổ chức lễ đại bội và đến khoảng 3 giờ chiều diễn sơ cổ kịch bản. Dân làng Thắng Tam thường gọi là lễ trình tuồng. Sau đó là bóng rỗi, múa mâm vàng, mâm bạc dâng Bà.

Di tích, lễ hội miếu Bà Ngũ Hành có chiều hướng thu hút đông đảo người tham dự, không chỉ cộng đồng dân cư thành phố Vũng Tàu mà còn nhiều cộng đồng dân cư khác trong Tỉnh và cả nhiều du khách thập phương trở thành phong tục tốt đẹp của địa phương, của lễ hội. Di tích có những đặc điểm riêng gắn liền với lịch sử, tín ngưỡng, phong tục tập quán của cư dân Vũng Tàu là điểm tựa tinh thần, nơi vui chơi giải trí, giao lưu cộng cảm và trao truyền đạo lý.

TTTTXTDL

Lễ Hội Miếu Bà Chúa Xứ

Núi Sam nằm cách thành phố Châu Đốc (tỉnh An Giang) 5 km, là nơi có quần thể di tích lịch sử văn hoá với chùa cổ Tây An, miếu Bà Chúa Xứ, chùa Hang, lăng Thoại Ngọc Hầu… Lễ hội Bà Chúa Xứ ( còn gọi là lễ Vía Bà) được tổ chức hàng năm bắt đầu từ đêm 23/4 âm lịch đến 27/4 âm lịch.

Khách hành hương đến lễ hội có thể đi theo đường bộ từ Long Xuyên lên Châu Đốc theo tỉnh lộ 10, rẽ vào 7km là tới núi Sam; hoặc đi bằng đường thủy từ Cần Thơ, Sóc Trăng lên hay từ Sài Gòn xuống.

Đêm 23/4 là lễ tắm và thay xiêm y cho tượng Bà. Nước tắm tượng là nước thơm, bộ y phục cũ của Bà được cắt nhỏ ra phân phát cho khách trẩy hội và được coi như lá bùa hộ mệnh giúp cho người khoẻ mạnh và trừ ma quỷ. Tiếp theo là lễ rước bốn bài vị từ lăng Thoại Ngọc Hầu về miếu Bà. Lễ Túc Yết được tổ chức vào lúc 24 giờ ngày 25 rạng ngày 26. Lễ được tiến hành theo trình tự: dâng hương, chúc tửu, hiến trà, đọc văn tế. Sau đó bài văn tế được hoá cùng với một ít giấy vàng bạc. Tiếp ngay sau lễ Túc Yết là đến lễ Xây Chầu – Hát Bội do do một người sành nghi lễ và có uy tín trong ban tế tại miếu Bà thực hiện cùng đào kép hát bội cầu nguyện cho quốc thái dân an, mưa thuận gió hoà. 4 giờ sáng ngày 26/4 lễ Chánh Tế được tiến hành (lễ nghi được tiến hành giống lễ Túc Yết). Chiều ngày 27/4 bài vị Thoại Ngọc Hầu được đưa về lăng. Chương trình hát bội cũng chấm dứt. Kết thúc lễ cúng vía bà.

Lễ Vía Bà hằng năm thu hút rất đông khách thập phương. Đến với lễ hội hội họ vừa được tham dự lễ hội dân gian phong phú để xin cầu tài cầu lộc, đồng thời họ có dịp để du ngoạn, chiêm ngưỡng cảnh trí thiên nhiên ở An Giang.

Lễ Hội Miếu Bà Chúa Xứ Ở An Giang

Núi Sam nằm cách thị xã Châu Đốc (tỉnh An Giang) 5 km, là nơi có quần thể di tích lịch sử văn hoá với chùa cổ Tây An, miếu Bà Chúa Xứ, chùa Hang, lăng Thoại Ngọc Hầu… Lễ hội Bà Chúa Xứ ( còn gọi là lễ Vía Bà) được tổ chức hàng năm bắt đầu từ đêm 23/4 âm lịch đến 27/4 âm lịch.

Khách hành hương đến lễ hội có thể đi theo đường bộ từ Long Xuyên lên Châu Đốc theo tỉnh lộ 10, rẽ vào 7km là tới núi Sam; hoặc đi bằng đường thủy từ Cần Thơ, Sóc Trăng lên hay từ Sài Gòn xuống.

Đêm 23/4 là lễ tắm và thay xiêm y cho tượng Bà. Nước tắm tượng là nước thơm, bộ y phục cũ của Bà được cắt nhỏ ra phân phát cho khách trẩy hội và được coi như lá bùa hộ mệnh giúp cho người khoẻ mạnh và trừ ma quỷ.

Tiếp theo là lễ rước bốn bài vị từ lăng Thoại Ngọc Hầu về miếu Bà. Lễ Túc Yết được tổ chức vào lúc 24 giờ ngày 25 rạng ngày 26. Lễ được tiến hành theo trình tự: dâng hương, chúc tửu, hiến trà, đọc văn tế. Sau đó bài văn tế được hoá cùng với một ít giấy vàng bạc.

Tiếp ngay sau lễ Túc Yết là đến lễ Xây Chầu – Hát Bội do do một người sành nghi lễ và có uy tín trong ban tế tại miếu Bà thực hiện cùng đào kép hát bội cầu nguyện cho quốc thái dân an, mưa thuận gió hoà. 4 giờ sáng ngày 26/4 lễ Chánh Tế được tiến hành (lễ nghi được tiến hành giống lễ Túc Yết). Chiều ngày 27/4 bài vị Thoại Ngọc Hầu được đưa về lăng. Chương trình hát bội cũng chấm dứt. Kết thúc lễ cúng vía bà.

Lễ Vía Bà hằng năm thu hút rất đông khách thập phương. Đến với lễ hội hội họ vừa được tham dự lễ hội dân gian phong phú để xin cầu tài cầu lộc, đồng thời họ có dịp để du ngoạn, chiêm ngưỡng cảnh trí thiên nhiên ở An Giang.

Cúng Miếu Của Người Tà Mun Tây Ninh

Lễ cúng miếu chính thức diễn ra vào ngày 16 tháng 11 âm lịch hằng năm ở các xóm có người Tà Mun sinh sống. Đây là lễ cúng tạ ơn vị thần bảo hộ đất đai mùa vụ và các chiến sĩ trận vong giữ gìn cương thổ…

Người dân tộc Tà Mun ở Tây Ninh hiện nay đa phần theo tôn giáo Cao Đài. Trong suốt quá trình cộng cư, họ chịu ảnh hưởng khá sâu sắc văn hóa đời sống của người Khmer từ cách ăn mặc đến nếp sinh hoạt tinh thần. Nhưng không phải vì vậy mà họ hòa tan vào các dân tộc khác, ngược lại, họ luôn ý thức giữ gìn, bảo tồn những gì thuộc về bản sắc độc đáo riêng của mình. Cúng miếu là một nghi lễ điển hình nhất của họ.

Lễ cúng miếu chính thức diễn ra vào ngày 16 tháng 11 âm lịch hằng năm ở các xóm có người Tà Mun sinh sống. Đây là lễ cúng tạ ơn vị thần bảo hộ đất đai mùa vụ và các chiến sĩ trận vong giữ gìn cương thổ… Mặc dù chính thức là ngày 16.11, nhưng trước đó một ngày, mọi người trong xóm đã chuẩn bị. Cúng miếu là công việc chung của mọi người trong xóm chứ không phải là việc riêng lẻ của từng hộ gia đình. Vì vậy, mọi người, mọi nhà đều có nghĩa vụ và trách nhiệm như nhau, cùng nhau góp tiền, cùng nhau làm, sắm sanh mọi lễ vật để cúng bái.

Trong lễ cúng miếu của người Tà Mun, vị thần trung tâm là ông Tà. Ông Tà của người Tà Mun vừa là thần đất vừa là tổ tiên của họ. Miếu Tà của người Tà Mun thường được xây cất dưới gốc cây cổ thụ. Khu miếu thường có hai ngôi miếu một to một nhỏ đối diện nhau. Trước ngày cúng chính thức một ngày thì các cụ già trong xóm sẽ đến miếu quét dọn, rửa các vật thờ cúng cho sạch sẽ và làm lễ xin Tà cho phép làm lễ cúng vào ngày mai. Đó là một nghi thức không thể thiếu, vì họ quan niệm phải xin phép thì Tà mới chứng giám và phù hộ.

Cũng trong ngày này, các thanh niên tập trung lại tại nhà già làng để làm cây bông. Cây bông trong lễ cúng miếu cũng như cây cờ trong các lễ hội vậy. Bà con người Tà Mun chọn một cây tre nhỏ hoặc cây trúc to dài độ 1,5 mét, cắt bằng hai đầu. Đầu trên chẻ đều rồi banh ra giống như cái lồng hái trái cây và họ để trầu cau têm sẵn vào đó. Trên thân cây cứ cách độ một tấc sẽ buộc một vòng dây, họ chẻ các nan trúc cho tưa mỏng ra như hình những cành hoa và cắm so le vào các vòng dây đó kèm theo một ít tiền lẻ. Cây bông có ý nghĩa tượng trưng cho việc báo hiệu lễ cúng, trầu cau và tiền lẻ có ý nghĩa là hóa cho những vong hồn lang thang không nơi nương tựa, thiếu ăn thiếu mặc.

Sáng sớm hôm sau, những người phụ nữ trong xóm vận những bộ quần áo đẹp nhất sẽ đi ra chợ mua đồ cúng. Trong lễ cúng này có năm thứ quan trọng là hoa tươi, cái đầu heo, gà, xôi nếp và voi, ngựa làm bằng cây chuối.

Ngoài ra còn có trái cây và rượu trắng. Đối với lễ cúng miếu, bà con Tà Mun lựa chọn hoa rất kỹ, họ quan niệm mua được hoa đẹp càng nhiều thì càng gặp nhiều điều may mắn. Voi và ngựa sẽ được một người khéo tay trong xóm làm ra bằng thân cây chuối và tàu lá chuối, họ cho rằng voi và ngựa là những con vật mà các chiến sĩ của họ ngày xưa trong quá trình giữ gìn cương thổ, chống giặc ngoại xâm đã sử dụng. Do vậy, khi cúng thần thì cúng luôn như một sự tri ân sâu sắc…

Sau khi đi chợ xong, về xóm, tất cả mọi người cùng làm cho hoàn tất các lễ phẩm. Khoảng ba giờ chiều thì mọi người đến nhà già làng làm lễ rước cây bông và bưng các đồ cúng ra miếu. Họ đi thành hai hàng có trật tự từ nhà già làng ra đến miếu.

Đi đầu đoàn cúng là một bé gái cầm bó hoa và một cụ bà, tượng trưng cho cái đẹp và sự sinh sôi tiếp nối trong cuộc sống, đây là một nét của tục thờ mẫu còn sót lại trong văn hóa của người Tà Mun xưa. Kế tiếp là già làng cầm cây bông và mọi người bưng bê mâm đầu heo, gà luộc, xôi và hoa trái cùng đi theo. Sau cùng là hai người cầm voi, ngựa giả. Ra đến miếu, họ bày trí các thức cúng vào trong miếu. Cái đầu heo ở vị trí trung tâm cúng cho Tà thần, còn gà, xôi cúng cho các chiến sĩ trận vong, trái cây thì cúng cho những vong hồn xiêu lạc…

Người thắp hương cúng đầu tiên bao giờ cũng là một cụ ông lớn tuổi nhất trong xóm, sau đó mới đến già làng… rồi đến tất cả mọi người. Nghi thức cúng đơn giản, lời cầu khấn chung quy là tạ ơn Tà bảo hộ đất đai mùa vụ, cầu cho mưa thuận gió hòa, lúa và cây trái được bội thu…

Sau khi cúng xong, mọi người bày biện thức ăn ra ăn uống tại sân miếu, vừa ăn vừa trò chuyện vui vẻ như một sự tổng kết mùa vụ sau một năm làm lụng của mọi người trong xóm… Xưa kia vào dịp này, trai gái thường ăn mặc thật đẹp xếp thành vòng tròn ca múa vui chơi cho đến khi mặt trời lặn mới thôi.

Năm nào cũng vậy, cứ vào 16.11 âm lịch là bà con dân tộc Tà Mun làm lễ cúng miếu, cho dù năm đó trúng mùa hay mất mùa. Nếu năm trúng mùa thì mọi người góp tiền cúng cả con heo và nhiều gà, xôi để tạ ơn thần, mong năm sau sẽ tiếp tục được bội thu. Còn năm mất mùa thì chỉ có cái đầu heo và xôi, gà ít lại, cầu mong cho năm tới sẽ được khá hơn.

Mặc dù trong lễ cúng miếu Tà là nhân vật trung tâm, nhưng bà con còn tri ân luôn cả tổ tiên, những người hy sinh vì đất nước, những vong hồn hiu quạnh không chỗ tựa nương. Tính nhân văn cao cả nằm ở chỗ đó. Lòng trung thành, sự chân thật, không quên cội nguồn luôn ẩn chứa trong trái tim bà con dân tộc Tà Mun.