Văn Khấn Ngày Giỗ Hết Năm 2

Giỗ Hết – Lễ Đại Tường

Giỗ Hết còn gọi là Lễ Đại Tường, là ngày giỗ sau ngày mất 2 năm. Đây là ngày giỗ quan trọng không kém gì ngày giỗ đầu và ngày tang lễ. Thời gian này người thân, con cháu trong gia đình vẫn còn vương vấn nỗi nhớ nhung, sầu thảm. Lễ giỗ hết được tổ chức trang nghiêm,vẫn mặc tang phục, đầy đủ họ hàng, con cháu để thể hiện lòng thành kính với người đã khuất và cũng để cùng nhau chia sẻ nỗi đau thương của đại gia đình.

Cũng giống như ngày giỗ đầu, trong ngày giỗ Hết, gia đình chuẩn bị hương, hoa, cỗ mặn và mua sắm rất nhiều vàng mã hình tiền, vàng, các vật phẩm tượng trưng cho quần áo, đồ dùng, nhà cửa, xe cộ, đặc biệt không thể thiếu các hình nhân. Theo văn hóa tâm linh, các vật phẩm này sau khi hóa vàng sẽ được gửi xuống âm gian, vong linh nhận được chỉ dùng phần nhỏ, còn phần lớn mang đi biếu các “quan Âm phủ” để tránh bị phiền nhiễu, các hình nhân không phải để thế mạng mà để hóa thân thành người hầu, theo giúp việc cho các linh hồn.

Sau khi làm lễ tạ và hóa vàng, gia đình bày bàn ghế, thức ăn mời họ hàng, người thân và bạn bè dùng bữa. Lễ Đại Tường thường được làm cầu kỳ, linh đình, mời nhiều khách khứa hơn so với lễ Giỗ Đầu (Tiểu Tường). Trong lễ này con cháu vẫn mặc tang phục, mọi người đều giữ vẻ trang nghiêm, đau sót trước nỗi mất mát của gia đình.

Lễ Trừ Phục – Lễ Đàm Tế

Sau Lễ Đại Tường 3 tháng, gia đình sẽ chọn ngày tốt để làm lễ Trừ Phục (Lễ Đàm Tế). Đây là lễ để bỏ tang, người thân sẽ mang tang phục đem đi đốt hết. Sau lễ này, người thân trong gia đình có thể trở lại cuộc sống thường nhật, có thể tổ chức hoặc tham gia tiệc tùng, người vợ (hoặc chồng) có thể đi bước nữa.

Văn khấn ngày giỗ Hết

Trước khi khấn vong linh người đã khuất, gia đình phải đọc văn khấn thần linh là các vị Thổ thần, Táo quân, Long mạch… trước:

Văn khấn Thần linh

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.

Con kính lạy Đức Đương cảnh Thành hoàng chư vị Đại Vương.

Con kính lạy ngài Đông Trù Tư mệnh Táo phủ Thần Quân.

Con kính lạy các ngài Thần linh, Thổ địa cai quản trong xứ này.

Con kính lạy chư gia tiên Cao Tằng Tổ tiên nội ngoại họ …..

Tín chủ (chúng) con là: …..

Ngụ tại: …..

Nhân ngày mai là ngày Giỗ Hết của …..

Tín chủ con cùng toàn thể gia khuyến tuân theo nghi lễ, sửa biện hương hoa lễ vật dâng cúng các vị Tôn thần.

Cúi xin các vị Bản gia, Thổ Công, Táo phủ Thần quân, Ngữ phương, Long mạch và các vị Thần linh, hiển linh chứng giám, thụ hưởng lễ vật, phù hộ cho toàn gia chúng con an ninh khang thái, vạn sự tốt lành.

Chúng con kinh thỉnh các Tiên linh, Gia tiên họ …..và những vong hồn nội tộc được thờ phụng vị cùng về hâm hưởng.

Chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin được phù hộ độ trì.

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Văn khấn vong linh

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.

Con kính lạy Đức Đương cảnh Thành hoàng chư vị Đại Vương.

Con kính lạy ngài Đông Trù Tư mệnh Táo phủ Thần Quân.

Con kính lạy các ngài Thần linh, Thổ địa cai quản trong xứ này.

Con kính lạy chư gia tiên Cao Tằng Tổ Khảo, Cao Tằng Tổ Tỷ, Tổ Tiên nội ngoại họ …..

Tín chủ (chúng) con là: …..

Ngụ tại: …..

Hôm nay là ngày …..tháng …..năm …..

Chính ngày Giỗ Hết của …..

Thiết nghĩ …..vắng xa trần thế, không thấy âm dung. Năm qua tháng lại vừa ngày Giỗ Hết. Ơn võng cực xem bằng trời biển, nghĩa sinh thành không lúc nào quên. Càng nhớ công ơn gây cơ tạo nghiệp bao nhiêu, càng cảm thâm tình, không bề dãi tỏ. Nhân ngày chính giỗ, chúng con và toàn gia con cháu, nhất tâm sắm sửa lễ vật kính dâng, đốt nén tâm hương dãi tỏ tấc thành.

Thành khẩn kính mời …..

Mất ngày …..tháng …..năm …..

Mộ phần táng tại: …..

Cúi xin linh thiêng giáng về linh sàng, chứng giám lòng thành, thụ hưởng lễ vật, độ cho con cháu bình an, gia cảnh hưng long thịnh vượng.

Tín chủ lại mời vong lonh các vị Tiền chủ, Hậu chủ trong đất này cùng tới hâm hưởng.

Tín chủ con lại xin kính mời các cụ Tổ Tiên nội ngoại, Tổ Khảo, Tổ Tỷ, Bá thúc, Huynh Đệ, Cô Di, Tỷ Muội và toàn thể các Hương linh gia tiên đồng lai hâm hưởng.

Chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin được phù hộ độ trì.

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Văn Khấn Ngày Giỗ Hết Năm 2 – Lễ Đại Tường Chuẩn Nhất

Trong văn hóa cổ truyền dân tộc Việt Nam, khi trong gia đình có người mất, phải làm 3 ngày giỗ: giỗ đầu, giỗ hết và giỗ thường. Ngày giỗ hết có ý nghĩa gì, cách sắm lễ và đọc văn khấn như nào đúng với tập tục truyền thống, mời các bạn tham khảo.

Giỗ Hết – Lễ Đại Tường

Giỗ Hết còn gọi là Lễ Đại Tường, là ngày giỗ sau ngày mất 2 năm. Đây là ngày giỗ quan trọng không kém gì ngày giỗ đầu và ngày tang lễ. Thời gian này người thân, con cháu trong gia đình vẫn còn vương vấn nỗi nhớ nhung, sầu thảm. Lễ giỗ hết được tổ chức trang nghiêm,vẫn mặc tang phục, đầy đủ họ hàng, con cháu để thể hiện lòng thành kính với người đã khuất và cũng để cùng nhau chia sẻ nỗi đau thương của đại gia đình.

Cũng giống như ngày giỗ đầu, trong ngày giỗ Hết, gia đình chuẩn bị hương, hoa, cỗ mặn và mua sắm rất nhiều vàng mã hình tiền, vàng, các vật phẩm tượng trưng cho quần áo, đồ dùng, nhà cửa, xe cộ, đặc biệt không thể thiếu các hình nhân. Theo văn hóa tâm linh, các vật phẩm này sau khi hóa vàng sẽ được gửi xuống âm gian, vong linh nhận được chỉ dùng phần nhỏ, còn phần lớn mang đi biếu các “quan Âm phủ” để tránh bị phiền nhiễu, các hình nhân không phải để thế mạng mà để hóa thân thành người hầu, theo giúp việc cho các linh hồn.

Sau khi làm lễ tạ và hóa vàng, gia đình bày bàn ghế, thức ăn mời họ hàng, người thân và bạn bè dùng bữa. Lễ Đại Tường thường được làm cầu kỳ, linh đình, mời nhiều khách khứa hơn so với lễ Giỗ Đầu (Tiểu Tường). Trong lễ này con cháu vẫn mặc tang phục, mọi người đều giữ vẻ trang nghiêm, đau sót trước nỗi mất mát của gia đình.

Lễ Trừ Phục – Lễ Đàm Tế

Sau Lễ Đại Tường 3 tháng, gia đình sẽ chọn ngày tốt để làm lễ Trừ Phục (Lễ Đàm Tế). Đây là lễ để bỏ tang, người thân sẽ mang tang phục đem đi đốt hết. Sau lễ này, người thân trong gia đình có thể trở lại cuộc sống thường nhật, có thể tổ chức hoặc tham gia tiệc tùng, người vợ (hoặc chồng) có thể đi bước nữa.

Văn khấn ngày giỗ Hết

Trước khi khấn vong linh người đã khuất, gia đình phải đọc văn khấn thần linh là các vị Thổ thần, Táo quân, Long mạch… trước:

Văn khấn Thần linh

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.

Con kính lạy Đức Đương cảnh Thành hoàng chư vị Đại Vương.

Con kính lạy ngài Đông Trù Tư mệnh Táo phủ Thần Quân.

Con kính lạy các ngài Thần linh, Thổ địa cai quản trong xứ này.

Con kính lạy chư gia tiên Cao Tằng Tổ tiên nội ngoại họ …..

Tín chủ (chúng) con là: …..

Ngụ tại: …..

Nhân ngày mai là ngày Giỗ Hết của …..

Tín chủ con cùng toàn thể gia khuyến tuân theo nghi lễ, sửa biện hương hoa lễ vật dâng cúng các vị Tôn thần.

Cúi xin các vị Bản gia, Thổ Công, Táo phủ Thần quân, Ngữ phương, Long mạch và các vị Thần linh, hiển linh chứng giám, thụ hưởng lễ vật, phù hộ cho toàn gia chúng con an ninh khang thái, vạn sự tốt lành.

Chúng con kinh thỉnh các Tiên linh, Gia tiên họ …..và những vong hồn nội tộc được thờ phụng vị cùng về hâm hưởng.

Chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin được phù hộ độ trì.

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Văn khấn vong linh

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.

Con kính lạy Đức Đương cảnh Thành hoàng chư vị Đại Vương.

Con kính lạy ngài Đông Trù Tư mệnh Táo phủ Thần Quân.

Con kính lạy các ngài Thần linh, Thổ địa cai quản trong xứ này.

Con kính lạy chư gia tiên Cao Tằng Tổ Khảo, Cao Tằng Tổ Tỷ, Tổ Tiên nội ngoại họ …..

Tín chủ (chúng) con là: …..

Ngụ tại: …..

Hôm nay là ngày …..tháng …..năm …..

Chính ngày Giỗ Hết của …..

Thiết nghĩ …..vắng xa trần thế, không thấy âm dung. Năm qua tháng lại vừa ngày Giỗ Hết. Ơn võng cực xem bằng trời biển, nghĩa sinh thành không lúc nào quên. Càng nhớ công ơn gây cơ tạo nghiệp bao nhiêu, càng cảm thâm tình, không bề dãi tỏ. Nhân ngày chính giỗ, chúng con và toàn gia con cháu, nhất tâm sắm sửa lễ vật kính dâng, đốt nén tâm hương dãi tỏ tấc thành.

Thành khẩn kính mời …..

Mất ngày …..tháng …..năm …..

Mộ phần táng tại: …..

Cúi xin linh thiêng giáng về linh sàng, chứng giám lòng thành, thụ hưởng lễ vật, độ cho con cháu bình an, gia cảnh hưng long thịnh vượng.

Tín chủ lại mời vong lonh các vị Tiền chủ, Hậu chủ trong đất này cùng tới hâm hưởng.

Tín chủ con lại xin kính mời các cụ Tổ Tiên nội ngoại, Tổ Khảo, Tổ Tỷ, Bá thúc, Huynh Đệ, Cô Di, Tỷ Muội và toàn thể các Hương linh gia tiên đồng lai hâm hưởng.

Chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin được phù hộ độ trì.

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Văn Khấn Giỗ Đầu, Giỗ Thứ 2 Tại Nhà

Văn khấn Thổ thần, Táo Quân, Long Mạch và các vị Thần linh trước khi giỗ đầu hoặc giỗ thứ 2.

Nam Mô A Di Đà Phật (3 lần)! – Con kính lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương. – Con kính lạy đức Hoàng Thiên, Hậu Thổ, chư vị Tôn thần. – Con kính lạy ngài Bản gia Táo quân, ngài Bản gia Thổ Công, Long Mạch, Thần Tài. – Con kính lạy các ngài Thần linh cai quản trong xứ này. Hôm nay là ngày… Tín chủ chúng con là…. Nhân ngày mai là ngày giỗ đầu (giỗ thứ 2) của… Chúng con cùng toàn thể gia quyến tuân theo nghi lễ, sắm sửa hương hoa, lễ vật kính dâng lên trước án tọa Tôn thần cùng chư vị uy linh, kính cẩn tâu trình. Kính cáo Bản gia Thổ Công, Táo Quân, Long Mạch và các Thần linh, cúi xin chứng minh, phù hộ cho toàn gia chúng con an ninh khang thái, vạn sự tốt lành. Kính thỉnh các Tiên linh, Gia tiên chúng con và những vong hồn nội tộc được thờ phụng vị cùng về hâm hưởng. Chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin được phù hộ độ trì. Nam Mô A Di Đà Phật! (3 lần, 3 lạy)

Văn khấn ngày giỗ đầu, giỗ thứ hai

Nam Mô A Di Đà Phật (3 lần)! – Con kính lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương. – Con kính lạy đức Đương cảnh Thành Hoàng chư vị Đại Vương. – Con kính lạy ngài Đông Trù Tư Mệnh Táo phủ Thần quân. – Con kính lạy các ngài Thần linh, Thổ Địa cai quản trong xứ này. – Con kính lạy chư Gia tiên Cao Tằng Tổ tiên nội ngoại họ… Tín chủ chúng con là…. Hôm nay là ngày…. Chính ngày giỗ đầu (hoặc giỗ thứ hai) của… Năm qua tháng lại, vừa ngày húy lâm. Ơn võng cực xem bằng trời biển, nghĩa sinh thành không thể nào quên. Càng nhớ công ơn gây cơ tạo nghiệp bao nhiêu, càng cảm thâm tình, không bề giãi tỏ. Nhân ngày chính giỗ, chúng con và toàn gia con cháu, nhất tâm sắm sửa lễ vật kính dâng, đốt nén tâm hương giãi tỏ tấc thành. Thành khẩn kính mời…. Mộ phần táng tại…. Cúi xin linh thiêng giáng về linh sàng, chứng giám lòng thành, thụ hưởng lễ vật, độ trì cho con cháu bình an, gia cảnh hưng long thịnh vượng. Tín chủ con lại xin kính mời các cụ Tổ tiên, Tổ khảo, Tổ tỷ và toàn thể các hương linh Gia tiên đồng lai hâm hưởng. Tín chủ lại mời vong linh các vị Tiền chủ, Hậu chủ trong đất này cùng tới hâm hưởng. Chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin được phù hộ độ trì. Nam Mô A Di Đà Phật! (3 lần, 3 lạy)

Văn Khấn Trong Lễ Tang, Giỗ Đầu, Giỗ Thứ 2

Theo quan niệm xưa: Người chết là bắt đầu cuộc sống ở một thế giới khác ”Sống gửi – Thác về”. Bởi vậy, theo tục xưa trong tang chế có rất nhiều nghi lễ để tiễn đưa vong hồn người đã khuất sang thế giới bên kia được trọn vẹn, chu đáo, thể hiện lòng thành, làm trọn đạo hiếu

Trong phần này, chúng tôi xin giới thiệu văn khấn ở những nghi lễ quan trọng từ khi người mất tới khi được 100 ngày.

Phần văn khấn từ giỗ đầu (tròn một năm sau ngày mất) chúng tôi chuyển sang phần văn khấn khi cúng giỗ.

1) Văn khấn lễ Thiết Linh:

Lễ Thiết Linh là lễ sau khi lập xong bàn thờ tang, đặt linh vị

2) Văn khấn lễ Thành Phục:

Lễ Thành Phục là lễ sau khi gia đình thân nhân mặc đồ tang, tề tựu quanh linh cữu.

3) Văn khấn lễ Chúc Thực:

Lễ Chúc Thực là lễ dâng cơm khi còn để linh cữu ở nhà.

4) Văn khấn Lễ cáo Long Thần Thổ Địa:

Là lễ cúng Long Thần Thổ Địa trước khi đào huyệt.

5) Văn khấn lễ Thành Phần:

Lễ Thành Phần là lễ khi đắp xong mộ.

6) Lễ Hồi Linh:

Lễ Hồi Linh là lễ rước ảnh hoặc linh vị từ mộ về.

7) Vản khấn lễ Chầu Tổ (Triều Tổ lễ cáo):

Sau khi làm lễ Hồi Linh ở bàn thờ tang xong thì làm lễ cáo yết với Tổ Tiên ở bàn thờ chính, nếu là gia đình nhà con thứ thì yết cáo tại nhà thờ của chi họ, nơi thờ ông bà nội, hoặc cụ nội.

9) Lễ Chung Thất và Tốt Khốc:

Lễ Chung Thất là lễ 49 ngày. Lễ Tốt Khốc là lễ 100 ngày.

10) Lễ Triệu tịch Điện văn:

Lễ Triệu tịch Điện văn là lễ cúng cơm trong 100 ngày.

11) Lễ Tiểu Tường, Đại Tường (Giỗ Đầu, Giỗ thứ Hai):

Giỗ Đầu và Giỗ thứ Hai là hai lễ giỗ rất quan trọng.

12) Văn khấn lễ Đàm Tế (Tức là lễ hết tang Trừ phục):

Sau 2 năm và 3 tháng dư ai, chọn một ngày tốt làm lễ: Đắp sửa mộ dài thành mộ tròn, cất khăn tang, huỷ đốt các thứ thuộc phần lễ tang, rước linh vị vào bàn thờ chính, bỏ bàn thờ tang.

13) Văn khấn lễ rước linh vị vào chính điện và yết cáo Tiên Tổ:

Cách tiến hành nghi lễ: chép sẵn linh vị mới phủ giấy (hoặc vải) đỏ, khi Đàm Tế ở bàn thờ tang xong, thì đốt linh vị cũ cùng với bảng đen phủ quanh khung ảnh và văn tế. Sau đó rước linh vị, bát hương và chân dung (nếu có) đưa lên bàn thờ chính, đặt ở hàng dưới. Trường hợp nhà không có bàn thờ chính thờ gia tiên bậc cao hơn thì không phải làm lễ này mà yết cáo gia thần và yết cáo Tổ ở nhà thờ tổ.

14) Lễ Cải Cát:

Lễ Cải Cát là lễ sang Tiểu, sửa mộ, dời mộ.

Văn khấn lễ Thiết Linh Văn khấn lễ Thành Phục Văn khấn Lễ cáo Long Thần Thổ địa Văng khấn lễ Hồi Sinh. Văn khấn lễ Chầu Tổ (Triều Tổ lễ cáo)

Phong Tục Giỗ Bác Hồ Ngày 2/9

Từ nhiều năm nay, cứ đến ngày 2/9 nhiều gia đình người Việt Nam lại tổ chức lễ giỗ Bác Hồ trang trọng, thành kính.

Tại tỉnh Trà Vinh, 45 năm nay, gia đình cụ Cao Văn Đằng (khóm 9, thị trấn Càng Long) vẫn thầm lặng tự tổ chức lễ giỗ cho Bác. Sau khi cụ Đằng mất, mỗi năm đến ngày 2/9, các con của cụ vẫn đều đặn thắp nén nhang và nấu một ít món ăn dâng lên Bác để bày tỏ lòng thành kính.

Đã thành truyền thống hàng năm, lễ kỷ niệm ngày Quốc khánh 2/9 được chính quyền và nhân dân Càng Long tổ chức trang trọng gắn với ngày giỗ Bác Hồ.

Ông Kim Phước Hiền ở ấp Long Hội xã Tân An, Càng Long tâm sự: “Từ sau ngày Bác mất, hàng năm đến ngày Quốc khánh 2/9, gia đình đều tổ chức ngày lễ giỗ Bác Hồ như cách thể hiện lòng tôn kính với vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc. Cũng nhờ Bác soi đường dẫn lối để cho đồng bào được sinh sống dễ dàng, cha tôi cũng nói rằng tất cả chúng ta đứng trong đất nước Việt Nam phải kính thờ Bác, công ơn của Bác không thể nào kể hết. Vì thế, hàng năm chúng tôi làm mâm cơm cúng để ghi nhớ công ơn Bác Hồ”.

Tại ngôi nhà số 6B đường Đinh Bộ Lĩnh, phường Phú Cường, Thị xã Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương, chính quyền địa phương cùng gia đình ông Nguyễn Hậu Tài và người dân trang trọng tổ chức lễ giỗ Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ thiên tài của dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới vào mỗi dịp 2/9. Đây là lễ giỗ do ông Nguyễn Hậu Tài tổ chức nhiều năm nay.

Ông cho biết sẽ gìn giữ lễ giỗ này hàng năm và con cháu ông sẽ tiếp tục thay ông gìn giữ lễ giỗ khi ông không còn điều kiện sức khỏe. Ngoài ra, trong nhiều năm tổ chức lễ giỗ Bác, ông Hậu còn kết hợp tổ chức tọa đàm Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.

Ông Phạm Văn Sinh, thôn 3, xã Ngọc Liên (Ngọc Lặc) dọn dẹp chuẩn bị cho ngày Tết Độc lập. (Ảnh: Xuân Cường)

Trong khi đó, ngày 2/9, hàng trăm người dân cù lao Tân Phong (Tiền Giang) mang gà, vịt, thịt, cá… đến nhà ông Trần Thanh Bình tổ chức nấu, nướng dâng lễ vật cúng giỗ Bác Hồ.

Năm 1998 ông Bình bắt đầu làm giỗ Bác vào dịp 2/9. Đến năm 2014, được sự hỗ trợ của người thân và con cháu, ông đã xây dựng khu nhà để thờ Bác Hồ. Ngôi nhà được xây dựng với diện tích 45m2, mái lợp ngói, nền lát gạch men. Phía giữa nhà ông Bình cho xây dựng một bậc thờ tam cấp, cao hơn 1,6m, rộng 1,5m. Phía trong bậc tam cấp là bức tường được thiết kế hình ngôi sao năm cánh, trong đó có nhiều hoa văn, văn hóa tượng trưng cho 54 dân tộc anh em và bản đồ Việt Nam.

Ông Tám Bình giải thích về bậc tam cấp: “Phía trên để thờ thân sinh của Bác Hồ, cụ Nguyễn Sinh Sắc; cấp thứ hai để thờ Bác Hồ và cấp thứ ba thờ Đại tướng Võ Nguyên Giáp cùng các anh hùng liệt sĩ…”

Ông hy vọng, đây sẽ là nơi giáo dục truyền thống cho các em thiếu nhi, học sinh. Ông mong muốn, các cấp chính quyền địa phương cũng như người dân luôn luôn ghi nhớ công lao của Bác và là động lực để giúp quê hương, đất nước phát triển.

Từ nhiều năm nay, cứ đến chiều ngày 1/9, bà Nguyễn Thị Lan (Hồng Châu, TP Hưng Yên, Hưng Yên) lại đi chợ sắm sửa hoa quả, đồ cúng để chuẩn bị cho ngày giỗ Bác vào sáng 2/9. Bà Lan cho hay, mỗi năm vào ngày 2/9, nhà bà lại sắm sửa mâm cơm thắp hương Bác Hồ, để tưởng nhớ công lao to lớn của “Người cha già dân tộc” đối với nhân dân Việt Nam. Đây cũng là dịp cả gia đình sum họp, đoàn viên.

Có thể nói, từ đỉnh Lũng Cú, cho tới đất mũi Cà Mau, từ đất liền ra tới hải đảo, phong tục làm giỗ Bác vào ngày 2/9 của nhiều gia đình đã trở thành nét văn hóa truyền thống không thể phai mờ. Trong nhiều gia đình Việt, bàn thờ tổ tiên cũng là bàn thờ Bác để thể hiện tấm lòng thành kính, biết ơn và yêu thương vô bờ bến đối với Bác vì Bác đã sống trọn đời vì nước vì dân, vì Bác “đã làm rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta”.

Nam Yên