Khoa Cúng Gia Tiên Và Bài Cúng Gia Tiên Ngày Tết

Cúng gia tiên là cách để chúng ta tưởng nhớ đến những người trong gia đình đã khuất. Là dịp thể hiện tấm lòng hiếu kính của con cháu đối với tổ tiên. Vậy khoa cúng gia tiên gồm những gì và những bài cúng trong dịp lễ.

Có thể nói khoa cúng gia tiên là những lễ cúng trong ngày mùng 1 và những ngày rằm, ngày lễ và tết. với ý nghĩa cầu mong cho tháng mới mọi điều may mắn và thành hơn hơn.

Vào ngày rằm là ngày thông suốt giữa mặt trăng và mặt trời với nhau dân gian ta quan niệm rằng khoa cúng gia tiên trong ngày này sẽ là thời điểm thích hợp nhất để gia tiên nghe hết được nguyện khấn của con cháu trong nhà. Hơn nữa trong ngày này còn thể hiện được mong muốn về con người sáng suốt và trong sạch, đẩy lùi những thứ xấu và ý nghĩ không tâm tịnh trong lòng. Vì thế các khoa cúng gia tiên vào ngày này là lúc để kính hiếu và bày tỏ lòng biết ơn của con cháu đối với những người đã khuất.

Bài cúng gia tiên ngày tết như thế nào

Vào những ngày tết, trong mỗi gia đình Việt không thể thiếu mâm cỗ cúng để dâng lên các vị gia tiên trong ngày tết. Bài cúng gia tiên ngày tết như thế nào?

Bài cúng gia tiên ngày tết cũng khá đơn giản bạn có thể tham khảo theo như sau:

Nam mô A Di Đà Phật: khấn 3 lần Con lạy chín phương trời, con lạy mười phương chư phật và chư phật mười phương. Con xin kính lạy Đức Đương Lai Hạ Sanh Di Lặc Tôn Phật. Con xin kính lạy các cụ là Tổ Khảo, các cụ Tổ tỷ, các bá thúc huynh dệ, đường thượng liên tinh và các hương hồn hai bên nội ngoại tộc. Hôm nay là ngày mùng 1 của tháng giêng năm 2024. Gia đình chúng con là: đang sinh sống tại. Hôm nay, theo tuế luật và âm dương vận hành đã đến tuần Nguyên Đán. Ngày mùng 1 đầu xuân năm mới. Con cháu trong gia đình tưởng niệm ân đức của Tổ tiên như trời rộng biển cao. Vì thế chúng con cùng toàn các con cháu trong gia đình sắm sửa lễ vật cùng với oản quả và hương hoa kính dâng trước án. Con kính mới các vị các cụ Cao Tằng, các cụ Tổ khảo, tổ tỷ và các vị bá thúc huynh đệ, cùng với các cô dì chú bác, anh em nam nữ nội ngoại xin xót thương con cháu, có linh thiêng thì về linh sàng. Phù hộ cho gia đình con cháu một năm mới an khang, an thái, thịnh vượng phát tài, mọi chuyện thuận lợi, thanh thông. Tín chủ chúng con cũng đồng tâm kính mời các vị vong linh, các vị tiền chủ, các vị hậu chủ trong đất này cùng về để hâm hưởng. Phù hộ cho con cháu trong nhà bách sự được như ý, vạn sự cát hưởng. Chúng con với lễ bạc tâm thành, cúi xin trước án xin được phù hộ. Nam mô A Di Đà Phật: Khấn 3 lần.

Cúng gia tiên ngày tết như thế nào

Những ngày tết lễ vật sắm sửa để cúng gia tiên ngày tết được chuẩn bị thật chu đáo để thể hiện được tấm lòng lành của con cháu trong gia đình. Những lễ vật trên ban thờ cúng gia tiên ngày tết bao gồm: Mâm ngũ quả, trà, thuốc, bánh kẹo, bánh trưng hoặc bánh tét, rượu, nước, nhang, đèn, nến thắp sáng và mâm cỗ bao gồm các món ăn mặn.

Khoa Cúng Thần Linh Và Gia Tiên 2

26/09/2024 – 3:19 PM

Lê Công

713 Lượt xem

KHOA CÚNG THẦN LINH VÀ GIA TIÊN 2

KHOA CÚNG GIA ĐƯỜNG (Hán Việt – cúng Thần linh, Gia tiên ở nhà) chùa Liên hoa thôn Đặng Xuyên, xã Đặng Lễ, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng yên

Chân thân tự lập nhất hát Tần thân, Chí tâm tị tổ, tất dao văn, tuỳ xứ hiện chân nhân, thành ý ân cần, Liệt vị hội Tinh thần.

Nam mô Hương Vân cái Bồ tát Ma ha tát. (3 lần)

ooo

Phù dĩ:   Hương hoa đấu thể, Đăng chúc liên huy. Đại chúng chí thành, Đồng xưng tán lễ.

  000

Thân sinh Tổ đức ngưỡng nham nham – Giá liễu tiền tam dữ hậu tam

Thiên thượng nguyệt minh phong thượng bạch

Thuỷ trung giám vị hải trung hàm – Vô phương ứng hiện vân phi lĩnh

Bất muội Hư linh nguyệt ấn đàm –  Kim nhật Đạo tràng thân khải thỉnh

Nguyện thuỳ Phương tiện giám Chân cam.

Nam mô Dẫn Linh hồn Bồ tát Ma ha tát. (3 lần)

ooo

Phù dĩ: Pháp diên Quang khải, thành ý Phương ân, dục triệu thỉnh ư Tiên linh, tu gia trì ư Pháp thuỷ. Phù thuỷ giả: Nguyên tòng tính xuất, Bản tại Tâm sinh, năng linh phân khí chi tiêu không, phổ sử Pháp duyên nhi Thanh tịnh. Giáo hữu khiết tịnh Chân ngôn, cẩn đương phúng tụng.

Khể thủ quy y Tô tất đế – Đầu diện đỉnh lễ Thất câu chi

Ngã kim xưng tán Đại Chuẩn đề – Duy nguyện Từ bi thùy gia hộ.

Nam mô Sap ta Nam – Sam dac Sam But đa – Cô ti Nam – Tat đi da tha:

        Ôm. Ca lê Cu lê Cun đê. Sva ha. (3 biến)

(Nam mô Tát đá nẫm Tam miểu, Tam Bồ đà, Câu chi nẫm Đát điệt tha:

Úm. Triết lệ Chuẩn đề. Sa bà ha)

000

Hiệu hiệu Kim ba hàm Ngọc trản – Phi phi Bạch lộ sái Quỳnh tương Kim bằng Bí ngữ lực gia trì – Cấu uế Đàn tràng tất Thanh tịnh.

      Ôm. Ba tê tra sThi tha ra na đi stra. Sva ha. (3 lần)

(Úm. Bắc đế tra, thiên thần la na, địa tra. Sa bà ha)

       Nam mô Ly cấu Địa Bồ tát Ma ha tát. (3 lần)

ooo

Thiết dĩ: Văn công gia pháp, bị tường tế tự chi nghi. Phù tử di thư, cụ tải tang thân chi lễ. Nhiên tồn châm trước, cố dụng khoa nghi, phù nghi giả Tam ma đề địa, bá Tam giới chi bao hàm. Nhất niệm Chân tâm, quảng Thập phương chi biến chiếu. Quang minh bất muội, Thanh tịnh vô trần, dụng thời chủng chủng Tâm sinh, thu xứ huyền huyền Pháp tạng. Thị cố tiên trình kê thiệt, thứ hiến ngưu đầu. Thử hương dã Sắc – Không bất nhị, Tính – Tướng vô song. Thanh tịnh Căn nguyên, bất giả tài bồi chi lực. Hi kì chủng tính, toàn bằng tri kiến chi công. Giáo hữu Nhiên hương Chân ngôn, cẩn đương phúng tụng.

ooo

Tâm hương nhất chú mãn Càn khôn – Tán xứ Quang thông vạn cổ tồn

Liễu nhiễu hư không tuỳ xứ hiện – Tổ tông ứng hiện xuất huyền môn

Nam mô Hương Cúng dàng Bồ tát Ma ha tát. (3 lần)

ooo

Cung văn: Tam tài định vị, độc Nhân Tối linh, Thiên sinh Nhân, Nhân thành Thiên, tự hữu huyền vi chi thử lí. Tử kế Phụ, Phụ kế Tổ, Nguyên lai phồn diễn chi Chính tông. Lục thuận Lục hành, tưởng Tiên đức tài bồi chi chỉ. Ngũ thường Ngũ phúc, diễn hậu côn ấm tý chi hưu.

Tư thần Chúng đẳng ổi dĩ vi khu nhục thừa di thể. Thuộc mao li lý phủ dục mông quyến ái chi tình; bão tất xuyên y cố phục hà cù lao chi niệm. San ân Sơn trọng, ẩm đức hà thâm. Tư nhân lệnh tiết chi lương thời, kính trần mao giản thức chiêu tố khổn, kiền phụng Linh thân đoàn viên như tại. Tuy mạc đổ vu Tiên dung, cảm niệm truy ân lượng tất tri ư thành ý. Giáo hữu Phổ Triệu tập Chân ngôn, cẩn đương phúng tụng.

ooo

Dĩ thử Chân ngôn thân triệu  thỉnh – Tiên tổ Nội ngoại dao văn tri

Trượng thừa Tam bảo lực gia trì – Thử nhật kim thời lai giáng phó.

ooo

TRIỆU THỈNH CHÂN NGÔN:

Nam mô Bu pu Tê ri – Ca ri Ta ri – Ta tha ga ta da. (3 lần)

(Nam mô bộ bộ đế lỵ già ly đá lỵ đát đá nga đá da)

ooo

Thượng lai triệu thỉnh Chân ngôn tuyên dương dĩ kính. Chúng đẳng kiền thành, phần Hương nghinh thỉnh. Hương hoa thỉnh.

ooo

 (1) Nhất tâm phụng thỉnh: Quyền tư Lục hợp, Vị liệt Tứ duy; khử Hung uế ư Tha phương, tập Trinh tường ư Thử giới. Cung duy: Bản Gia Ngũ phương Thổ công, Sơn Thần Địa chủ, Thổ phủ Thần kỳ, Thanh long Bạch hổ, Chu tước Huyền vũ Thần quan; Cửu cung Bát quái, Sơn hướng, Nhị thập tứ Sơn, Nhị thập tứ Hướng, Nhị thập tứ Khí, Nhị thập bát Tướng, Thất thập nhị Hầunhất thiết Uy linh Tịnh cập Thái âm Tư mệnh Táo phủ Thần quân, Nguyên hoàng Phu nhân, tả Chiêu tài Đồng tử, hữu Tiến bảo Nương quân; Địa phươngĐịa chủ, Bản cảnh Thành hoàng, Chúa cảnh Bản xứ, Tứ duy Lục hợp, Đạo lộ Thần quan. Phả cập Tiền hậu Địa chủ, cấm kỵ đẳng Thần nhất thiết Uy linh Chư tư Bộ chúng – Tọa hạ.

Duy nguyện: Trấn an Cảnh nội, thủ hộ Gia trung, giáng phó Đàn duyên thụ tư cúng dàng. Hương hoa thỉnh.

ooo

 (2) Nhất tâm phụng thỉnh: Bách sự kiệm cần, nhất sinh Từ thiện, Tử kính đình nội, di di bá trọng chi tổn trì. Đan quế giai tiền tỉnh tỉnh nhi tôn chi thằng xích, việt tòng chu hỗ mỗi tưởng như tồn. Ân tư cần tư cảm đức mạc thù ư Hậu địa; Khí ngã Vong ngã kỳ ai đồ dụ ư Hạo thiên. Tư nhân lệnh tiết chi Lương thời; thật thiết thời tư chi cảm, cẩn trượng song lâm chi Giáo pháp, dụng thù vĩnh kiếp chi Ân thâm.

Cung duy: Thủy Tổ, Tổ chi, Cửu huyền Thất tổ, Tổ cô Hội đồng, Tổ mãnh Hội đồng, Cao cao cao Tổ khảo, Cao cao cao Tổ tỷ, Cao cao Tổ khảo, Cao cao Tổ tỷ, Cao tằng Tổ khảo, Cao Tằng Tổ tỷ mỗ tộc Tổ tiên Chân linh Liệt vị vị tiền.

Duy nguyện: Tứ đại Quy ân Nhất tính trường minh, giáng phó Đàn duyên thụ tư cúng dàng. Hương hoa thỉnh.

ooo

(3) Nhất tâm phụng thỉnh: Tiên dung yểu điệu, Hoàng hậu phi phương, Hằng nga nhan sắc đản sinh ứng tích ư Nam bang, Thụy khí tường vân hiện thân tướng hóa hình ư Lệnh tộc. Đức tính nhu hòa thanh vô tú dị tại Thế thượng cúc phương lan sạn. Quả mãn triêu Thỏ ảnh Ô phi huyễn cảnh phi Không Tiên xa tảo giá chấn tộc Nội ngoại hiển dương, Đệ nhất đĩnh nhân hoàn yểu điệu vô song.

Cung duy: mỗ tộc Tổ cô Hoa nương hiển linh Thánh nữ vị tiền

Duy nguyện: Tinh minh xuất hiện, Linh khí giáng Thần, lai phó Đàn duyên thụ tư cúng dàng. Hương hoa thỉnh.

ooo

(4) Nhất tâm phụng thỉnh: Dương vi Thần âm vi quỷ, đồ Tạo hóa chi Hữu thường. Sinh viết ký, tử viết quy, ta nhân sinh chi Năng cơ thời quang dịch mại, Tiên viễn cảm Vong.

Cung duy: mỗ tộc Tổ lệnh công Cao lang Mãnh tướng Uy linh vị tiền.

Duy nguyện: Hư linh hữu cảm, Anh sảng nhược tồn, giáng phó Đàn duyên thụ tư cúng dàng. Hương hoa thỉnh.

(5) Nhất tâm phụng thỉnh: Đạo tôn Lục nghĩa, Đức trọng Ngũ luân. Khiêm dự kiêm cai, tam sự vô phạm vô ân, vinh hưởng nhất đường, tiết kiệm thu toàn Lục lễ chi hữu thủ hữu hiến. Giang chiêu thiên cổ, Đức hậu vạn niên; canh tường thiết ý phong mộc cảm tâm; Liệt vị thùy từ, chư Linh động giám.

Cung duy: mỗ tộc Gia tiên Khảo tỷ, Bá thúc Huynh đệ, Cô gì Tỷ muội, Cô bé Cậu bé Nội ngoại, Tại gia phả cập Tiền sinh Hậu hóa, Tảo sinh Tảo lạc, Hữu danh Vô vị, Hữu vị Vô danh, Hữu danh Hữu vị, Vô danh Vô vị, Khuyết danh Ẩn danh, Hữu sinh Vô dưỡng, Vô sinh Vô dưỡng… Đường thượng Lịch đại Nội ngoại Tổ tiên …tộc, Lục thân Quyến thuộc các thế các đời nhất thiết các chư Chân linh; Á thân Liệt thính viễn cận, tiên vong hậu hóa, hữu danh hữu hiệu, vô danh vô hiệu, đẳng đẳng Sảng linh, trùng trùng Quyến thuộc phả cập chư vị Tiền chủ Hậu chủ, Chân linh phảng phất, Y thụ Thảo mộc cư ngụ Trạch thổ.

Duy nguyện: Đồng quần Hợp tập, Hội chúng đoàn viên, giáng phó Đàn duyên thụ tư cúng dàng. Hương hoa thỉnh.

ooo

Thượng lai triệu thỉnh, ký mộc quang lâm, An tọa Chân ngôn, cẩn đương phúng tụng.

Thốn tâm kính niệm thiết đăng sàng – Ngũ nội thời thời diệc tán dương

Hiếu đại Gia sơ hà dĩ bảo – Thời trần bồ soạn nhất tam hương

Nam mô Vân Lai tập Bồ tát Ma ha tát. (3 lần)

ooo

Thượng lai An tọa Chân ngôn, tuyên dương dĩ kính, Tín chủ cẩn cụ phỉ nghi, Thượng hiến đàn tiền, phủ thùy nạp thụ, Tín chủ kiền thành, đô thân phụng hiến. Giáo hữu biến thực Chân ngôn cẩn đương trì tụng.

000

BIẾN THỰC CHÂN NGÔN:

  Nam mô Sa rva Ta tha ga ta A va lô ki tê. Ôm. Sam ba ra Sam ba ra. Hum.(3 lần)

(Nam mô Tát phạ đát tha nga đá Da, a phạ rô chỉ đế

Úm. Tam bạt la, tam bạt la hồng).

000

CAM LỘ THỦY CHÂN NGÔN:

Nam mô Sô rô Ba da – Ta tha ga ta da, Ta đja tha:

        Ôm. Sô rô Sô rô – Ha ra Sô rô – Ha ra Sô rô. Sva ha. (3 lần)

(Nam mô Tô rô bà ra, đát tha nga đá ra, đát điệt tha,

Úm. Tô rô, tô rô, bát ra tô rô, bát ra tô rô, sa bà ha)

000

PHẢ CÚNG DÀNG CHAN NGON

Vô lượng Nhân duyên nhất thiết cúng – Phổ thí Pháp giới chư Chúng sinh

Nhược dĩ Hương hoa phả cúng dàng – Duy năng thành tựu Phật Công đức.

000

Ôm. Ga ga nga, Sam ba va Va di ra. Hột. (3 lần)

(Úm. Nga nga nẵng tam bà phạ phiệt nhất la hộc)

   Nam mô Phả cúng dàng Bồ tát Ma ha tát. (3 lần)

          000

Thượng lai Cúng diên dĩ mãn, lễ thiết vân chu, cụ hữu Sớ văn, cẩn đương tuyên đọc. (Tuyên sớ). Thượng lai Văn sớ tuyên độc dĩ chu, nạp dữ Kim ngân chỉ tiền, dụng bằng hỏa hóa. (Hóa sớ…)

Nguyên phù phàm viết Nhân tâm thị danh Phật tính, hoạt bát như châu tại địa, Quang thước thước tự nguyệt đương thiên, chỉ tại cừ sinh khởi tòng địa xuất; tịch tịch bất ly ư tâm thượng, minh minh Tổng thị ư mục tiền; Thu thời nhất niệm bất sinh, tán xứ vạn bàn xuất hiện. Chân linh vấn thậm, Ma pháp xứ ngũ nhất Sơn hạ hảo tầm tung, bách xích hãn đầu thường tiến bộ. Sắc thị Không, Không thị Sắc; vô linh nhận giả thành Chân. Tâm tức Phật, Phật tức Tâm; thả tự hồi Quang phản chiếu. Di đà cảnh giới nhậm tiêu dao, Tịnh độ Liên đài thường tự tại. Giáo hữu biến thực Chân ngôn cẩn đương trì tụng.

ooo

VÃNG SINH TỊNH ĐỘ THẦN CHÚ:

Nam mô A mi ta ba da – Ta tha ga ta da. Tat da tha:

Ma ri tôt Ba vê – Am rta Sit đam Ba vê – Am rta Vi cra tê,

         Am rta Vi cra ta – Ga mi nê Ga ga na – Ki rờ ta Ca rê. Sva ha. (3 lần).

(Nam mô A di đa bà dạ, đá tha dà đá dạ, đá địa dạ tha, A di lị đô bà tì,

A di lị đá tất đam bà tì, A di lị đá tì ca lan đế, A di lị đá tì ca lan đá,

dà di nị, dà dà na, chỉ đa ca lệ. Sa bà ha)

ooo

Trịch cước Diêm phù tự thảo hài – Cánh vô nhất vật khả quan hoài

Viên minh Pháp tính siêu Tam giới – Nhất niệm Di đà thăng Bảo đài

Nam mô Sinh Tịnh độ Bồ tát Ma ha tát. (3 lần)

000

Thập phương tam thế Phật – A Di đà đệ nhất

Cửu phẩm độ Chúng sinh – Uy đức vô cùng cực

Ngã kim đại quy y – Sám hối Tam nghiệp tội

Phàm hữu chư Phúc thiện – Chí tâm dụng hồi hướng

Nguyện đồng niệm Phật nhân – Cảm ứng tuỳ thời hiện

Lâm chung Tây phương cảnh – Phân minh tại mục tiền

Kiến văn giai tin tiến – Đồng sinh Cực Lạc quốc

Kiến Phật liễu sinh tử – Như Phật độ nhất thiết

Vô biên Phiền não đoạn – Vô lượng Pháp môn tu

Thệ nguyện độ Chúng sinh – Tổng giai thành Phật đạo

Hư không hữu tận – Ngã nguyện vô cùng

Tình dữ Vô tình đồng viên Chủng trí.

ooo

Tự quy y Phật, đương nguyện Chúng sinh – Thể giải Đại đạo, phát Vô thượng Tâm. (1 lễ) 0

Tự quy y Pháp, đương nguyện Chúng sinh – Thâm nhập Kinh tạng, Trí tuệ như Hải. (1 lễ) 0

Tự quy y Tăng, đương nguyện Chúng sinh – Thống lý Đại chúng, nhất thiết vô ngại. (1 lễ)

ooo

Hòa nam Thánh chúng:

Nguyện dĩ thử Công đức – Phổ cập ư nhất thiết

 Ngã Đệ tử, Chúng sinh – Giai cộng thành Phật đạo.

ooo

Lê Công

 

Khoa Cúng Thần Linh Và Gia Tiên 3

26/09/2024 – 4:08 PM

Lê Công

603 Lượt xem

KHOA CÚNG THẦN LINH VÀ GIA TIÊN 3

CÚNG SÁM TẠ TỪ ĐƯỜNG TỔ TIÊN (Hán Việt) chùa Liên hoa thôn Đặng Xuyên, xã Đặng Lễ, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng yên

Hương phụng hiến cúng dàng Tiên tổ cập môn tông Tử hiếu chí thành, nghênh Tổ đức, nguyện kỳ Tiên tổ giáng Đường tiền, bảo hộ Tử tôn đa Cát khánh, Tứ thời bát tiết hưởng Thiên duyên.

Ôm. Ba tê tra. Sva ha. (3 lần)

(Úm. Bắc đế tra Sa bà ha)

Cung văn: Ẩm phương tuyền tụ tri tỉnh xuất, Nhu hương Đạo yến thức duyên sinh. Nhân cư Thiên địa chi gian, chiếu xuất vu tình ư vạn Địa.

Cung duy: Tổ tiên nhất thiết Liệt vị đẳng chư Tông môn, ân cần Thế nghiệp, Gia thanh trung hậu, di quyết tôn mưu. Yến dực trường lưu ư phong kỷ thích lạc; thổ hạch cao cửu luyến ư trà hình thiết tự. Mộc bản đồng căn kha diệp trung, khan hướng mậu cảm dụng lễ nghi; tận vật phi phong thức ngụ ư chí đan thành. Dục cầu bảo an cơ Miêu duệ, tu bằng cảm cách ư Tiên linh.

Tư nhân (xuân…) thiên (kỵ nhật…), đồng tộc (Đồng gia…) phụng nghinh Tông môn, cung trần phỉ lễ, mặc ngụ đan thành, phụng vong Tổ tiên giám cách. Giáo hữu Nhiên hương cẩn đương trì tụng.

Nhất chuyên Bảo hương cung kính lễ – Nguyện kỳ Tổ đức tác chứng minh,

Nhật nguyệt Tử tôn đa Cát khánh – Gia môn thịnh vượng Phúc hưng long.

Nam mô Hương cúng dàng Tổ tiên Bồ tát Ma ha tát. (3 lần)

000

TRIỆU THỈNH ĐA RA NI:

Nam mô Bu pu Tê ri – Ca ri Ta ri – Ta tha nga ta Da. (5 lần)

(Nam mô Bộ bộ đế lỵ giá lỵ, đát đa nga đá gia)

Dĩ thử Linh thanh thân triệu thỉnh – Ngưỡng kỳ Tổ đức tất văn tri,

Kim bằng Tam bảo Lực gia trì – Thử nhật kim thời lai giáng phó.

Ôm. Tri nin. Sva ha. (3 lần)

(Úm. Chi ninh Sa bà ha)

Thượng lai, triệu thỉnh Chân ngôn tuyên dương dĩ cánh. Tử tôn chí thành kiền thành phụng thỉnh. Hương hoa thỉnh.

Nhất tâm phụng thỉnh: Thiên chi hữu Nhật nguyệt, Quang chiếu Thập phương Nhân chi hữu Tổ tông, lưu thùy Vạn thế, Từ đường hương hỏa. Cầu Linh sảng dĩ lai lâm, Hương khí đan thành, bằng Tổ tông nhi chiếu giám. Phàm tâm cẩn bạch, Tuệ nhãn giao Quang; ngôn niệm thiết vi Nhân, tử cảm hạ Tông thân. Ngưỡng Càn khôn phụ tái chi Ân, cảm Tông tổ tài bồi chi Ấm. Dục cầu bảo an Miêu duệ, tu bằng cảm cách Tiên linh.

Cung duy: Vật bản hồ Thiền, Nhân bản hồ Tổ. Thế bất lăng vong Tộc ư tư tụ. Dịch thế chi Tông, Tông điều tuy viễn. Dĩ tự trung tư, Thiên tu chi Công đức do tồn; bất thăng vĩnh mộ sơ thủy Đồng căn Cộng bản. Nhi Tổ nhi tông, hậu lai biệt phái phân Chi, hữu môn hữu hộ. Cung thỉnh: Nội ngoại Gia tiên Cửu huyền Thất tổ, Cao cao Tổ khảo, cao cao Tổ tỷ, Tổ cô Hoàng mãnh nhất thiết Liệt vị Tôn linh. Phục hồi từ sở, Tả vị Hữu triêu ức niên chi sảng. Thúc bằng ai hồ kiến, khái hồ văn, dịch thế chi tinh thần. Dĩ tụ cung trần phỉ lễ, mạch ngũ ư đan thành.

Duy nguyện: Tổ tiên giám cách, nguyện Thân phục chỉ, hiếu phụng Xuân thu, giáng phó Từ đường thụ tư cúng dàng. Hương hoa thỉnh.

Nhất tâm bái thỉnh: Công cao Quảng đại, Đức thụ Tài bồi. Tử tôn khang cát dĩ hưng long, Đức thuộc Tổ tiên nhi hữu chuẩn. Cung duy: Nội ngoại Gia tiên, Tiên linh Bản phái. Hương kỳ phần đại anh hiền, hoặc văn thơ lễ, hoặc lược điền viên, phong thanh thu lập, văn vong lưu truyền, dư thanh đồng cảm, thức lễ mạc khiên. Gia tiên khí số chung anh tài năng tế mỹ, nhất thiết Liệt vị chư Tổ tông.

Duy nguyện: Tổ tông bất thác bảo hộ Tử tôn giáng phó Từ đường (Gia đường), thụ tư cúng dàng. Hương hoa thỉnh.

Nhất tâm bái thỉnh: Tổ tiên Liệt vị, Căn thâm mạt mậu, Đức hậu lưu Quang. Nghi chỉ thiệu bồi tích thế chi Âm công. Thương tại nhưng tồn, bằng tịch tục cổn, dĩ dư thanh do Trường xuân tam chi thủ bảo. Hữu tâm cảm cách Tổ đức lưu phương. Cung duy: Nội ngoại Tổ tiên hệ phái, chi ngành đẳng đẳng Tông môn nhất thiết Liệt vị.

Duy nguyện: Đức hậu trường lưu thiên vạn cổ, giáng phó Từ đường thụ tư cúng dàng. Hương hoa thỉnh.

000

Phục vọng: Tổ tiên Tiền sinh Hậu hóa, Tảo sinh Tảo lạc, Hữu Danh Vô Danh, Khuyết Danh U Danh, Hữu vị Vô vị, Hữu vị Vô Danh, Hữu Danh Vô vị, Vô sinh Vô dưỡng, Hữu sinh Vô dưỡng; Đường thượng Lịch đại nhất thiết Liệt vị Tổ tiên Nội ngoại …tộc, …tộc các chư Chân linh, đẳng đẳng sảng linh, trùng trùng Quyến thuộc Quang giáng Từ đường thụ kỳ lễ giáo.

000

Thượng lai, triệu thỉnh Chân ngôn tuyên dương dĩ kính. Giáo hữu An tọa Chân ngôn cẩn đương trì tụng.

Tổ tiên đồng lai lâm giáng phó – Hoát nhiên Tâm nguyện thính Già đà.

Tùy phương ứng hiện biến Quang minh – Giáng phó Đàn tràng An vị tọa.

Ôm. Tra ma ra. Sva ha.  (3 lần)

(Úm. Tra ma sa bà ha)

Nam mô Vân lai tập Bồ tát Ma ha tát. (3 lần)

Nam mô An vị tọa Bồ tát Ma ha tát. (3 lần)

An tọa Chân ngôn, tuyên dương dĩ kính, năng linh cúng cụ, nhất nhất vô biên, Thượng hiến Thánh từ, (Gia tiên Nội ngoại) phù thùy nạp thụ. Trạch chủ, Tín chủ, Tử tôn… kiền thành Thượng hương phụng hiến. Hữu biến thực Chân ngôn cẩn đương trì tụng, hóa vô vi hữu, biến thiểu thành đa.

000

BIẾN THỰC CHÂN NGÔN:

Nam mô Sa rva Ta tha ga ta – A va lô ki tê. Ôm. Sam ba ra – Sam ba ra.Hum.

(Nam mô Tát phạ đát tha nga đá phạ rô chỉ đế. Úm. Tam bạt la tam bạt la hồng)

000

CAM LỒ CHÂN NGÔN:

Nam mô Sô rô Ba da – Ta tha ga ta da – Tat da tha:

Ôm. Sô rô Sô rô – Ha ra Sô rô – Ha ra Sô rô. Sva ha. (7 lần)

      (Nam mô Tô rô bà ra đát tha nga đá ra đát điệt tha

     Úm. Tô rô tô rô bát ra tô rô bát ra tô rô sa bà ha)

Vô lượng Nhân duyên nhất thiết cúng – Phổ thí Pháp giới chư Chúng sinh

Nhược dĩ Hương hoa phả cúng dàng – Duy năng thành tựu Phật Công đức

000

PHẢ CÚNG DÀNG CHÂN NGÔN:

Ôm. Ga ga nga Sam ba va Va di ra. Hột. (7 lần)

(Úm. Nga nga nẵng tam bà phạ phiệt nhật la hộc)

Thượng lai phụng hiến Công đức dĩ chu. Kim hữu Sớ văn cẩn đương tuyên độc(Tuyên sớ).

Thượng lai Văn sớ tuyên độc dĩ chu, ngưỡng vọng Thánh từ phủ thùy thái nạp. Kim hữu Sớ văn dụng bằng hỏa hóa (Hóa sớ).

Ôm. Ba đa Rô rê Chi linh. Sva ha. (7 lần)

(Úm. Bạt đà lô lê Chi ninh Sa bà ha)

000

Tư thời Đàn nghi cáo tất, Pháp sự chu viên, trượng đà thừa cận, phản ư Tịch quang. Tử tôn chí thành, khấu đầu tiễn biệt. Thượng lai Sám tạ hiến cúng Tổ tiên Công đức vô hạn, Tử tôn khể thủ, kiền thành Tạ lễ.

st : Lê Công

 

Khoa Cúng Gia Tiên (Hoặc Xám Tạ Từ Đường)

Khoa cúng gia tiên (hoặc xám tạ từ đường)

Hương phụng hiến cúng dàng tiên tổ, cập tông môn tủ hiếu chí thành nghinh tổ đức, nguyện kỳ tiên tổ giáng tiền, bảo hộ tử tôn đa cát khánh tứ thời bát tiết hưởng thiên duyên: án bắc đế tra sa hạ (3 lần) Thiết dĩ từ đường nghiêm khiết, tịnh cúng phu trần lự bài biện tri phất nghiêm, khủng vãng lai chi câu uế, bằng tư pháp thủy, quán xái tổ đường, giáo hữu tịnh uế chân ngôn cẩn đương trì tụng. – Nhất bát thanh lương thủy – Quán xái tận tiền đường – Cung thỉnh tổ tiên giáng – Tất nhiên thường thanh định – án tra ma la thiện thần la địa tra sa hạ – Nam mô ly cấu địa bồ tát ma ha tát (3 lần) Cung văn, ẩm phương truyền tụ tri tỉnh xuất, nhu hương đạo yến thức điền sinh nhân cư thiên địa chi gian, chiếu xuất vu tình ư vạn địa. Cung duy tổ tiên nhất thiết liệt vị đẳng chư tông môn ân cần thế nghiệp gia thanh trung hậu di quyết tôn mưu yến dực. Trường lưu ư phong kỷ, thích tỷ lạc thổ hạc cao, cửu luyến ư trà hình, thiết tự, mộc bản đồng căn, kha diệp trùng khan hướng mậu, cảm dụng lễ nghi tận vật, phi phong thức ngụ chi thành, dục cầu bảo an cơ mưu duệ. Tu bẳng cảm cách ư tiên linh, tư nhân (xuân thu hạ đông) (hay ngày dỗ hay ngày lễ) đồng tộc phụng nghinh, cung chần phỉ lễ mặc ngụ đan thành, phụng vọng tổ tiên giám cách giáo hữu nhiên hương cẩn đương trì tụng. – Nhất chuyện bảo hương cung kính lễ – Nguyện kỳ tổ đức tác chứng minh – Nhật nhật tử tôn đa cát Khánh – Gia môn thịnh vượng phúc hưng long Nam mô hương cúng dàng tổ tiên bồ tát ma ha tát (3 lần) Thiết dĩ hạnh phùng tiết nhật gia tộc yếu nghinh, xuyên kỳ tổ đắc, giáng uy nghi, giáo hữu triệu thỉnh chân ngôn cẩn đương tri tụng. * Nam mô bộ bộ đế ly dá lý đá ly đát đá nga đá gia (7 lần) – Dĩ thử linh thanh thân chiêu thỉnh – Ngưỡng kỳ tổ đức tất văn chi – Kim bằng tam bảo lực gia trì – Thử nhật kim thời lai giáng phó Án chỉ linh sa ha (7 lần) * Thượng lai triệu thỉnh chân ngôn tuyên dương dĩ kính, tử tôn chí thành kiền thành phụng thỉnh. Hương hoa thỉnh. – Nhất tâm phụng thỉnh thiên chi hữu nhật nguyệt, Quang chiếu thập phương, nhân chi hữu tổ tông, lưu thùy vạn tuế, từ đường hương hỏa. Cầu linh sảng dĩ lai lâm, hương khí đan thành, bằng tổ tông nhi chiếu giám, phàm tâm cẩn bạch tuệ nhãn giao quan, ngôn niệm thiết vi nhân tử, cảm hạ tông nhân, ngưỡng càn khôn phụ tải chi ân, cảm tông tổ tài bồi chi ấm, dục cầu bảo an miêu duệ, tu bằng cảm cách tiên linh, cung duy vật bản hồ thiền, nhân bản hồ tổ, thế bất lăng vong, tộc ư tư tụ, dịch thế chi tông tông điều, tuy viễn, dĩ tự trung tư, thiên tu chi công đức do tồn, bất thăng vĩnh mộ sơ thủy đồng căn cộng bản, nhi tổ nhi tông, hậu lai biệt phái phân chi, hữu môn hữu hộ. Cung gia tiên cao cao to khảo cao cao tổ tỷ nhất thiết liệt vị tôn linh, phục hồi từ sở tả hữu chiêu, ức Niên chi sảng, thúc bằng, ai hồ kiến, khái hồ văn, dịch thế chi tinh thần, dĩ tụ cung trần phỉ lễ mạc ngũ đan thành. Duy nguyện, tổ tiên giám cách, nguyện thân phục chỉ, hiếu phụng xuân thu, giáng phó tổ đương chứng minh công đức. * Nhất tâm bái thỉnh. Công cao quảng đại đức thụ tài bồi tử tôn khang cát dĩ hưng long, đức thuộc tổ tiên chi hữu chuẩn. Cung duy gia tiên, tiên bản phái, hương kỳ phần đại anh hiền, hoặc văn thơ lễ, hoặc lược điền viên, phong thanh thụ lập, văn vọng lưu chuyền, dư thanh đồng cảm, thức lễ mạc khiên. Cung duy gia tiên,khí số chung anh, tài năng tế mỹ, nhất thiết liệt vị chư tổ tông Duy nguyện tổ tông bất thác bảo hộ tử tôn giáng tổ đường thụ tư cúng dàng. * Nhất tâm bái thỉnh. Tiên tổ vị căn thâm mạt đức hậu lưu quang, nghi chỉ thiệu bồi, tích thế âm công thương tại, nhưng tồn bằng tịch tục cổn dĩ dư thanh do trường xuân tam chi thủ bảo, hữu tâm cảm cách tổ đức lưu phương. Cung duy tổ tiên hê phái, chi ngành đẳng đẳng Tông môn nhất thiết liệt vị. – Duy nguyên đức hậu trường lưu, thiên vạn cổ giáng phó từ đường thụ tư cúng dàng. * Thượng lai triệu thỉnh chân ngôn tuyên dương dĩ kinh giáo hữu an tọa chân ngôn cẩn đương trì tụng. – Tổ đức lưu quang lai giang phó – Khoát nhiên tâm nguyệt thính gia đà – Tùy phương ứng hiện biến Quang minh – Nguyện giáng từ đường an vị tọa. Nam mô an vị tọa bồ tát ma ha tát (3 lần) + Phục vọng tổ tiên, nhất thiết liệt vị tiên linh đẳng đẳng sảng linh trùng quyến thuộc, quang giáng tổ đường thụ kỳ lễ vật, giáo hữu biến thực châm ngôn cẩn đương trì tụng, hóa vô vi hữu, biến thiểu thành đa. (Chú biến thực cam lộ thủy phổ cúng dàng)

BIẾN THỰC CHÂN NGÔN (Nam-mô: tát phạ đát tha nga, đá phạ rô chỉ đế, Án, tam bạt la, tam bạt la hồng) 3 biến

CAM LỘ THỦY CHÂN NGÔN: (Nam-mô: tô rô bà ra, đát tha nga đá ra, đát điệt tha, Án, Tô rô, tô rô, bát ra tô rô, bát ra tô rô, sa bà ha) 3 biến

PHẢ CÚNG DÀNG CHÂN NGÔN (Án, nga nga nẵng tam bà phạ phiệt nhất la hộc) 3 biến Nam mô Phả cúng Dàng Bồ tát Ma ha tát (3x) (Nếu có sớ thì đọc không thì thôi đọc tiếp đọc. Bên dưới tức đường phục vọng) + Thượng lai văn sớ tuyên đọc dĩ chu, sớ đôi tổ từ dụng bằng hỏa đốt (Tụng bát nhã hồi hướng) phục vọng. Cúi nghĩ rằng, vừng nhật nguyệt, mười phương rạng rỡ, đức tổ tông muôn thuở sáng ngời, ngửa trông phúc ấm lối đời, khẩn thần thần lại ngự lời từ đường, để con cháu lửa hương phụng sự, nghìn năm sau, xuân Tự Thu Thường, băn khoăn tự chỉ phế hoang, hôm nay con chúa sửa sang kính mời, kính thiết lễ triệ nghinh an vị, nước thần thông tẩy uế khia Quang, mừng ngày (xuân hạ thu đông) vừa sang, gần xa tụ hội họ hàng đông vui. Ơn trời đất cao dày che chở, ơn tổ tiên phù hộ độ trì, ơn nhờ đức Phật từ bi, ơn nhờ Thánh chúa thần kỳ chứng soi,cây vững cỗi vững chồi xanh lá. Nước trong nguồn bể cả sông sâu. Chữ Trung chữ Hiếu làm đầu, ai không tâm niệm vì đâu có mình, nhờ tiên tổ anh linh phù hộ dìu cháu con tiến bộ trưởng thành, trẻ già trai gái yên lành, học hàng thịnh vượng gia đình thêm xuân, buổi sơ khai một ngôi thủy tổ, đời nối đời chia hộ chia chi, cây cao bóng cả xum xê, lá rơi về cuội người về tổ tông, nghìn thu sau nối dòng mãi mãi, ai trồng cây ta hái quả ngon, vậy nên dạy cháu khuyên con, vun bề tổ trạch giữ tròn gia thanh, trong gia đình trên bình dưới thuận, trong họ hàng bách nhẫn thái hòa, xuân về thắm trổ muôn hoa, non sông gặp hội ơn ca thái bình, nay buổi lễ kính thành bái tạ, chư tiên linh trở lại từ đường, tả chiêu hữu mục theo hàng, tinh anh hội tụ khói nhang phụng thờ, tuy nén hương đương sơ lễ nhỏ, xin lượng trên thấu tỏ lượng tình, nguyện cầu phủ vạn linh, thập phương tam bảo chứng minh hộ trì, cầu tiên tổ uy linh giảm cách, bảo tử tôn xuân Vĩnh Thọ Trường. Khẩn thiết chí thành chí tâm bái tạ. Tử tôn thành bái tạ.

Hết

Một Góc Nhìn Khoa Học Về Cách Thức Thờ Cúng Gia Tiên

Phong tục thờ cúng tổ tiên là một nét văn hóa đặc sắc của người Việt, đã được hình thành từ rất lâu đời. Phong tục ấy không chỉ thể hiện truyền thống “uống nước nhớ nguồn” mà còn mang giá trị giáo dục sâu sắc cho các thế hệ. Việc cùng nhau bày tỏ lòng thành kính trước tổ tiên, các thành viên trong gia đình càng thắt chặt thêm sợi dây huyết thống.

Tuy nhiên, sau nhiều năm nghiên cứu, Tiến sĩ Vũ Thế Khanh (Tổng Giám đốc, kiêm Chủ tịch Hội đồng Khoa học

Liên hiệp Khoa học Công nghệ UIA, gọi tắt là UIA) lại cung cấp thêm một góc nhìn mới mà từ bấy lâu nay người ta vẫn chưa hiểu hết về phong tục tốt đẹp này.

Phong tục bắt nguồn từ nỗi lòng muốn báo hiếu tổ tiên

Trước tiên cần phải khẳng định rằng bài viết này chỉ nhằm đưa ra một vấn đề để mọi người tham khảo; bài viết không phản ánh quan điểm của những người làm báo Pháp luật & Thời đại, không có mục đích cổ xúy cho những quan điểm của những người tham gia chương trình khảo nghiệm của UIA. Những người tham gia khảo nghiệm cũng đều không khẳng định hay phủ định điều gì, mà chỉ nhằm làm rõ hơn một phong tục vốn đã rất tốt đẹp của người Việt; và nay mong muốn phong tục này được duy trì, tốt đẹp hơn nữa.

Tiến sĩ Khanh cho biết, để làm rõ hơn về phong tục cúng tổ tiên, bạn đọc trước tiên cần biết về khái niệm “thần thức”. Qua 20 năm nghiên cứu với hàng vạn ca khảo nghiệm, UIA cho rằng khả năng ngoại cảm của con người là có thật. Nói cách khác, những người tham gia nghiên cứu Chương trình khảo nghiệm cho rằng người ta khi chết đi thì vẫn còn lưu lại phần “thần thức”. Điều này trùng hợp với quan điểm của đạo Phật về thuyết luân hồi, cho rằng con người phải trải qua nhiều kiếp trước khi đến với miền cực lạc.

“Và với phong tục đẹp đẽ thờ cúng tổ tiên, dù vô tình hay hữu ý, chúng ta đều đã chấp nhận phần “thần thức” ấy song hành trong thế giới đương đại. Dựa trên những cơ sở này, Chương trình khảo nghiệm đã phát triển thêm một hướng mới. Qua hàng trăm ca giao lưu điển hình, những người nghiên cứu đi sâu tìm hiểu nhu cầu, ước muốn của phần “thần thức” và đặc biệt trong phong tục cúng lễ, đã có những phát hiện rất lý thú”, tiến sĩ Khanh nói.

Theo ông: ” Con người ta sinh ra, ai mà không có ông bà cha mẹ, cao hơn nữa là tổ tiên dòng tộc. Kể từ 9 tháng 10 ngày hoài thai đến khi ra đời rồi được nuôi nấng lớn khôn, con cái đã được các bậc sinh thành dành cho biết bao là yêu thương, công sức. Gia tiên tiền tổ nuôi dưỡng cháu con nhưng không bao giờ quá cần thiết đòi hỏi sự đền đáp trở lại (thi ân bất cầu báo). Vậy trong kiếp đời này, với công ơn sinh thành dưỡng dục, phận làm con cháu biết trả thế nào cho đủ? Cho đến khi các đấng sinh thành khuất núi, nhiều con cháu vẫn trăn trở vì chưa thỏa được nỗi lòng muốn báo hiếu mẹ cha. Và phong tục cúng lễ chính là sự tiếp nối ước vọng ấy dâng lên tiên tổ”.

Những người nghiên cứu trong Chương trình khảo nghiệm đã đưa ra khái niệm rằng với phần “thần thức” của gia tiên, cần phải đền đáp bằng cách “vay cá trả cần câu”: Cha mẹ cho con cái sinh mệnh, nhưng con cái không thể dùng sinh mệnh để hoàn trả được. Như thế, vay cá nhưng không thể trả bằng cá. Vả lại “vay cá trả cá” là lẽ thường tình. Vay cá và trả lại bằng cần câu (tức là trả bằng phương pháp, đường lối), mới là cách đền đáp công ơn trọn tâm vẹn ý. Họ thống nhất rằng cúng lễ bằng phương pháp “cúng tâm linh” chính là “chiếc cần câu” để phần “thần thức” của gia tiên tiền tổ tìm về được miền cực lạc.

Cúng đồ mặn hay đồ chay?

Nhiều năm nghiên cứu về vấn đề này, ông Khanh cho rằng mình đã có những trải nghiệm lạ. Vị tiến sỹ này chia sẻ rằng qua hàng vạn ca khảo nghiệm, ông đã rất ngạc nhiên khi phát hiện có tới 80% đối tượng tội phạm có xuất thân từ những gia đình có nguồn gốc làm nghề bất lương. (Có thể ví dụ như buôn bán ma túy, hành nghề cờ bạc hoặc làm giàu trên thân xác phụ nữ, làm nghề sát sinh…)

Theo ông, ở những gia đình đó, phần “thần thức” của gia tiên luôn bị ảnh hưởng bởi môi trường không lành mạnh, thì dù có cúng bái bằng mâm cao cỗ đầy đến đâu, cũng không thể siêu thoát. “Âm không siêu thì dương không thái”, vì thế trước hay sau, những gia đình đó cũng gặp những tai họa khó lường theo quy luật Nhân Quả.

Tiếp theo nhận định đó, ông Khanh cho rằng phong tục thờ cúng tổ tiên trong nhiều gia đình hiện nay chưa thực sự đúng cách. Qua tiếp xúc với nhiều gia đình, những người nghiên cứu trong chương trình này nhận thấy mâm cúng có nhiều đồ rượu, thịt tanh tưởi

sẽ khiến phần “thần thức” trở nên “nghiện” các thứ đó.

“Cần giải thích thêm rằng “thần thức” khi mới xuất ra khỏi thân tứ đại thường rất hoang mang, không có khả năng tự chủ. Lúc ấy, nếu các gia đình dùng những đồ cúng có nguồn gốc tanh hôi, sẽ vô tình làm cho “thần thức” của gia tiên rời xa khỏi sự thanh tịnh”, ông Khanh nói.

Ông Khanh lấy ví dụ ở những đám cúng giỗ lớn, rượu thịt ê hề nhưng vẫn hay xảy ra va chạm, cự cãi, thậm chí có thể đâm chém nhau. Là bởi đám cúng giỗ đó sẽ quy tụ các phần “thần thức” ưa thích tanh hôi, có “tác dụng ngược”, gây nên sự nóng nảy vô cớ, thiếu kiềm chế của những người tham gia bàn tiệc.

“Vậy nên trong mâm cúng lễ gia tiên, tốt nhất nên dùng những đồ ăn chay, thanh tịnh”, nhà nghiên cứu này nói. Ông Khanh diễn giải việc cúng chính là hình thức biến đồ lễ

“phạn thực” (là thức ăn của cõi hữu hình) chuyển thành “hỷ thực” (là thức ăn của cõi vô hình). Do vậy, nên thay thế những đồ ăn tanh hôi bằng đồ chay và một không khí thanh tịnh. Ví dụ như khi ta đang đói bụng, nếu nghe được một tin rất vui, cảm giác đói trước đó có thể dễ dàng tan biến. Phần “thần thức” cũng như vậy. Làm quen với môi trường thanh tịnh, được kính ngưỡng bằng những đồ “hỷ thực”, chính là cách tiếp thêm năng lượng tinh thần, để phần “thần thức” vượt lên một bậc mới của Trí Tuệ Bát Nhã

Nhưng đồ cúng lễ thanh tịnh thôi chưa đủ. Những người nghiên cứu trong chương trình này đề cao nhất cách thức dùng phương pháp nhà Phật để kính ngưỡng gia tiên. Cùng với kinh chú tốt lành, con cháu tham gia cúng lễ phải thật sự chay tịnh, thả tâm hồn rời bỏ “tham, sân, si”, chỉ một lòng hướng về gia tiên tiền tổ. Nhiều cuộc khảo nghiệm đã chỉ ra rằng phần “thần thức” chỉ thực sự hoan hỷ với những người thành tâm cúng lễ là con hiền, dâu thảo, cháu ngoan.

Trải qua nhiều lần được tắm mình trong “hỷ thực” và môi trường thanh tịnh như thế, phần “thần thức” của gia tiên sẽ dần được nâng về miền cực lạc. “Trong niềm kính ngưỡng với gia tiên, việc cúng lễ một cách đúng đắn, chính là cách để đền đáp công ơn trời biển của các đấng sinh thành”, ông Khanh kết luận.

Trước quan điểm của những nhà nghiên cứu trong chương trình này, khá nhiều người cũng bày tỏ băn khoăn vì khi mà ở mỗi vùng miền, mỗi dân tộc lại có một phong tục, cách thức thờ cúng tổ tiên khác nhau và việc tìm ra “mẫu số chung” là điều không tưởng.

Một người khác thì cho rằng, có những “thần thức” mà người ta vẫn gọi là ‘linh hồn” thì vẫn thích cúng mặn thì sao? Ông Khanh cho rằng đó là chuyện đương nhiên không có gì mâu thuẫn, ví dụ như người nào khi sống nghiện thuốc lá thì thần thức lúc mất đi cũng rất thèm thuốc lá. Người nào thèm tanh hôi rượu thịt thì khi mất đi cũng vẫn còn thèm rượu thịt tanh hôi. Vấn đề là ta cúng những thứ để thoả mãn cái ý thích của họ hay là cúng những thứ làm lợi ích cho sự giác ngộ Tâm Linh của họ? Nếu những thứ họ thích mà không có lợi cho Tâm linh của họ thì ta có nên “chiều theo” để mà cũng cho họ không?

Dù sao, các kết quả nghiên cứu này cũng mới chỉ là khía cạnh để biết, để tham khảo, còn việc thực hành theo hay không theo thì còn tuỳ thuộc vào tín ngưỡng và sự giác ngộ Tâm Linh của mỗi người