Cúng Dường Cha Mẹ / Top 6 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 3/2023 # Top View | Apim.edu.vn

Cúng Dường Cha Mẹ Là Cúng Dường Phật

Bông hồng màu đỏ trong mùa báo hiếu, đó là sự nhắc nhở mọi người rằng hạnh phúc cho chúng ta khi còn có cha và mẹ để được phụng sự, cha mẹ là ruộng phước điền lớn nhất để chúng ta gieo mầm phúc đức. Đức Phật dạy rằng: “Gặp thời không có Phật xuất thế thì cúng dường cha mẹ giống như cúng dường Phật vậy.” Cha mẹ chúng ta còn sống thì chính là Phật đang ở tại nhà mình, do vậy phải hết lòng cung kính phụng dưỡng.

Bông hồng màu trắng nhắc đến những ai đã mất mẹ, đó là điều đáng buồn, nhưng không hẳn là chúng ta không còn có phương thức nào để báo hiếu. Vì theo quan điểm đạo Phật, sống không phải là bắt đầu, chết không phải là chấm dứt tất cả. Nếu chúng ta có lòng hiếu thảo, có đời sống đạo đức thì vẫn thực hiện trọn vẹn trách nhiệm của người con đối với các bậc cha mẹ. Đối với cha mẹ qua đời thì hãy phát tâm tu tạo phước đức, làm các điều lành để hồi hướng siêu độ cho cha mẹ được sanh về cảnh an lạc.

Báo Hiếu là lý tưởng của Bồ Tát Đạo, khi chúng ta học kinh Vu Lan Bồn, Kinh Báo Hiếu Phụ Mẫu và Kinh Địa Tạng thì thấy rõ được phương pháp báo hiếu đúng theo tinh thần Phật dạy. Trong kinh ấy, chúng ta nhận thức rõ được ý nghĩa của nhân quả chi phối đời sống con người. Nếu như sống với tâm ô nhiễm thì chắc chắn chiêu cảm đời sống khổ đau trong ác đạo, nếu sống với tâm thanh tịnh, biết phụng sự Tam Bảo thì được cảnh sống an lạc trong hiện tại và tương lai.

Chúng ta ý thức sâu sắc rằng, giáo lý nhân quả thuyết minh hiện trạng đời sống nhân sanh và mọi diễn biến vũ trụ vạn vật. Ở trong Kinh Vu Lan Bồn nhắc đến Bà Thanh Đề, mẹ của Ngài Mục Kiền Liên, do hiện kiếp tham lam và bỏn xẻn nên sau khi chết đọa lạc vào cảnh giới ngạ quỷ.

Trong Kinh Địa Tạng có hai hình ảnh nổi bật đó là mẹ của Thánh Nữ Bà La Môn vì tội hủy báng Tam Bảo mà đọa lạc vào địa ngục; mẹ của Quang Mục Bồ Tát do hiền kiếp sát sanh hại vật không tin nhân quả, sau khi chết cũng bị đọa vào địa ngục thọ khổ báo. Kinh Địa Tạng cũng được xem là kinh báo hiếu trong Phật môn “Phật môn chi hiếu kinh”, nhấn mạnh phương pháp báo hiếu mà còn thuyết minh ý nghĩa tính chất nhân quả trong hai lĩnh vực thiện ác của chúng sanh. Nhận thức đúng đắn nguyên lý nhân quả mới có thái độ báo hiếu thiết thực nhất.

Người học Phật chân chính, sống đúng theo pháp Phật, một lòng sắt son phụng sự Tam Bảo, thì người đó mới hiểu rõ ý nghĩa báo hiếu. Muốn có công đức báo ân cha mẹ là phải phát Bồ Đề Tâm. Đó là cái tâm rộng lớn hướng đến lý tưởng làm Phật mà thực hiện hạnh nguyện cứu giúp và dìu dắt chúng sanh cùng tu đạo giải thoát.

Phương pháp cứu tội nhân trong địa ngục, theo Kinh Vu Lan chép rằng mẹ Ngài Mục Kiền Liên, bà Thanh Đề bị đọa trong địa ngục, Mục Kiền Liên dù là tu chứng lục thông, thần thông đệ nhất cũng không có phương cách gì cứu mẹ. Đức Phật dạy Ngài Mục Kiền Liên phát tâm rộng lớn hiến cúng dường phẩm vật lên Đức Phật và Hiền Thánh Tăng, nhờ phước đức và oai lực đó mà bà Thanh Đề được sanh về cõi an lành.

Trong Kinh Địa Tạng, Thánh Nữ Bà La Môn phát tâm cúng dường Tam Bảo, nhất tâm niệm đức Phật Giác Hoa Định Tự Tại, nhờ công đức đó mà cứu mẹ thoát khỏi cảnh địa ngục khổ đau. Thánh nữ đã phát nguyện: “Nguyện cùng tận thì gian vị lai, có bao kẻ tội khổ, con xin tìm đủ cách mà làm cho họ giải thoát”.

Cũng tương tự như thế, Ngài Quang Mục phát tâm cúng dường chùa tháp, nhất tâm niệm Phật, nhờ công đức đó mà cứu mẹ thoát khỏi địa ngục. Từ đó Quang Mục phát tâm rộng lớn cứu độ chúng sanh đang khổ đau thoát khỏi cảnh đau khổ. Thánh Nữ Bà La Môn và Quang Mục Bồ Tát đều là tiền thân của Ngài Địa Tạng hành Bồ Tát Đạo.

Do vậy muốn có năng lực cứu độ chúng sanh trong địa ngục, điều căn bản là phải phát lòng từ bi rộng lớn với tâm bình đẳng mới chuyển hóa nghiệp thức người đã mất. Lòng từ bi là ý nghĩa căn bản của Bồ Đề Tâm, của nguyện lực hạnh Bồ Tát Đạo, là nhân tố cứu khổ ban vui cho mọi loài chúng sanh và thành tựu giác ngộ viên mãn.

Đức Phật dạy rằng: “Dù tại gia hay xuất gia, dù Thanh văn hay chư Phật đều có bổn phận đền ơn cha mẹ, vì tâm hiếu là tâm Phật”. Báo hiếu là điều kiện cốt lõi của đạo lý giải thoát. Trong Kinh Nguyên Thủy hay Kinh Đại Thừa, Đức Phật nhấn mạnh rằng biết hiếu thảo với cha mẹ là tạo được vô lượng phước đức.

Ở trong Kinh Địa Tạng nhấn mạnh rằng, bất hiếu với cha mẹ là đọa địa ngục A Tỳ, ai hiếu kính cha mẹ sẽ được phước đức thù thắng. Ở trong Kinh Quán Vô Lượng Thọ, Đức Phật nhấn mạnh rằng người nào phát tâm niệm Phật cầu vãng sanh nhất định phải tu tam phước, hiếu thuận với cha mẹ là điều phước thứ nhất trong ba phước giúp cho người thành tựu nguyện lực vãng sanh.

Chúng ta hãy noi gương của Đức Phật, sau khi thành đạo lên cung trời Đao Lợi thuyết pháp cho thánh mẫu Ma Gia, về hoàng cung thuyết pháp cho vua cha là vua Tịnh Phạn trước lúc lâm chung. Ngài Xá Lợi Phất là đệ nhất trí tuệ trong hàng đệ tử Phật, một cuộc đời theo Phật xuất gia đến năm ngài 80 tuổi, trước khi ngài nhập diệt, từ giã cõi đời giả tạm này, đã đảnh lễ xin Phật về nhà thuyết pháp độ mẹ già 100 tuổi rồi mới nhập Niết Bàn.

Ngài Địa Tạng báo hiếu cho mẹ là phát nguyện cứu độ chúng sanh bị đọa lạc trong khắp chốn địa ngục khổ đau qua vô số kiếp. Học Phật tức là học phát tâm như tâm của Phật và Bồ tát, học báo hiếu cha mẹ như các Ngài đã báo hiếu. Năng lực báo hiếu của chúng ta có ý nghĩa thiết thực hay không thì trước hết mỗi người nên tự hỏi mình đã phát tâm Bồ đề hay chưa? Đây là vấn đề chúng ta cần lưu ý.

Theo chúng tôi

Cách Thờ Cả Cha Mẹ Ruột Và Cha Mẹ Vợ

Cách thờ cả cha mẹ ruột và cha mẹ vợ

Truyền thống Thờ cúng Tổ tiên vừa mang tính nhân văn, thể hiện tinh thần “uống nước nhớ nguồn” của cháu con đối với các thế hệ tiền nhân. Vì thế mà hầu hết trong mỗi gia đình Việt Nam đều có thiết lập bàn thờ gia tiên và lễ giỗ cúng hằng năm, dĩ nhiên là không thể thiếu.

Do ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo và Phong kiến Trung Quốc, nên từ xưa đến nay, việc thờ cúng tổ tiên thường được xem là trách nhiệm của người con trai trưởng trong gia đình. Nếu gia đình không có con trai thì người mất sẽ được đưa về thờ cúng ờ nhà từ đường của tộc họ (thường gọi là mất hương hỏa), rất ít khi có trường hợp con gái lập bàn thờ cha mẹ, nhất là khi đã có gia đình (nữ sinh ngoại tộc). Tuy nhiên, đứng trên quan điểm của Phật giáo thì việc báo hiếu không là trách nhiệm của riêng ai, không kể là nam hay nữ đều phải biết báo hiếu; bởi vì ân đức của cha mẹ đối với mỗi người chúng ta là như nhau. Do đó, việc thờ cúng gia tiên, một trong những biểu hiện thiết yếu của hạnh hiếu, càng không thể có sự phân biệt nam nữ được, mà đó là sự thể hiện lòng tri ân báo ân của con người vậy. Trên tinh thần đó, việc thiết lập bàn thờ cha mẹ đôi bên chung một bàn thờ không những có thể được, mà đó còn là việc làm đáng khuyến khích, vì nó vừa thể hiện tấm lòng tri ân với tiền nhân, vừa thể hiện sự bình đẳng giữa vợ chồng trong nghĩa cử cao đẹp của tinh thần hiếu kính. 

Thiết lập bàn thờ như thế nào cho đúng cách?

Nên đến chùa xin quý thầy thỉnh một bài vị “Cửu huyền thất tổ” về thờ. Bài vị đặt chính giữa, di ảnh của bên nội đặt bên phải (trong nhìn ra), di ảnh bên ngoại đặt bên trái (trong nhìn ra); chỉ đặt một bát nhang ngay trước bài vị cửu huyền, phía trong của bát nhang đặt bốn chén nước, hoa và trái cây thì tùy nghi phụng cúng.

Cách Cúng Giỗ Ông Bà, Cha Mẹ

Những ngày quan trọng trong cúng giỗ

1. Giỗ đầu: là ngày giỗ đầu tiên sau ngày người mất đúng một năm, nằm trong thời kỳ tang, là một ngày giỗ vẫn còn bi ai, sầu thảm. Thời gian một năm vẫn chưa đủ để làm khuây khỏa những nỗi đau buồn, xót xa tủi hận trong lòng của những người thân. Trong ngày Giỗ Đầu, người ta thường tổ chức trang nghiêm không kém gì so với ngày để tang năm trước, con cháu vẫn mặc đồ tang phục. Lúc tế lễ và khấn Gia tiên, những người thân thiết của người quá cỗ cũng khóc giống như ngày đưa tang ở năm trước. Nhà có điều kiện thì có thể thuê cả đội kèn trống nữa.

2. Giỗ hết: là ngày giỗ sau ngày người mất hai năm, vẫn nằm trong thời kỳ tang. Thời gian hai năm cũng vẫn chưa đủ để hàn gắn những vết thương trong lòng những người còn sống. Trong lễ này, người ta vẫn tổ chức trang nghiêm. Lúc tế lễ người được giỗ và Gia tiên, con cháu vẫn mặc đồ tang phục và vẫn khóc giống như Giỗ Đầu và ngày đưa tang, vẫn bi ai sầu thảm chẳng kém gì Giỗ Đầu. Nhà có điều kiện thì có thể thuê cả đội kèn trống nữa.

3. Giỗ thường: là ngày giỗ sau ngày người mất từ ba năm trở đi.Trong lễ giỗ này, con cháu chỉ mặc đồ thường phục, không khóc như ngày đưa ma nữa, không còn cảnh bi ai, sầu thảm, là dịp để con cháu người quá cố sum họp để tưởng nhớ người đã khuất và diện mời khách không còn rộng rãi như 2 giỗ trước.

Bài văn khấn giỗ ông bà, cha mẹ

Nội dung bài văn khấn giỗ đầu chi tiết như sau:

Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.Con kính lạy Đức Đương cảnh Thành hoàng chư vị Đại Vương.Con kính lạy ngài Đông Trù Tư mệnh Táo phủ Thần Quân.Con kính lạy các ngài Thần linh, Thổ địa cai quản trong xứ này.Con kính lạy chư gia tiên Cao Tằng Tổ tiên nội ngoại họ…………………………Tín chủ (chúng) con là:………………………………Tuổi……………………..Ngụ tại:………………………………………………………………………………Hôm nay là ngày……………tháng……….năm…………….(Âm lịch).Chính ngày Giỗ Đầu của………………………………………………………………Năm qua tháng lại, vừa ngày húy lâm. Ơn võng cực xem bằng trời biển, nghĩa sinh thành không lúc nào quên. Càng nhớ công ơn gây cơ tạo nghiệp bao nhiêu, càng cảm thâm tình, không bề dãi tỏ. Nhân ngày chính giỗ, chúng con và toàn gia con cháu, nhất tâm sắm sửa lễ vật kính dâng, đốt nén tâm hương dãi tỏ tấc thành.Thành khẩn kính mời…………………………………………………………………Mất ngày…………. Tháng………………năm…………………(Âm lịch)Mộ phần táng tại:……………………………………………………………………..Cúi xin linh thiêng giáng về linh sàng, chứng giám lòng thành, thụ hưởng lễ vật, độ cho con cháu bình an, gia cảnh hưng long thịnh vượng.Tín chủ con lại xin kính mời các cụ Tổ Tiên, nội ngoại, Tổ Khảo, Tổ Tỷ, Bá thúc, Cô Di và toàn thể các Hương linh gia tiên đồng lai hâm hưởng.Tín chủ lại mời vong linh các vị Tiền chủ, Hậu chủ trong đất này cùng tới hâm hưởng.Chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin được phù hộ độ trì.Phục duy cẩn cáo!

Nội dung bài văn khấn giỗ thường:

Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.Con kính lạy Đức Hoàng Thiên Hậu Thổ chư vị Tôn thần.Con kính lạy ngài Đông Trù Tư mệnh Táo phủ Thần Quân.Con kính lạy các ngài Thần linh, Thổ địa cai quản trong xứ này.Con kính lạy Tổ Tiên nội ngoại họ………………………………………………….Tín chủ con là…………………………………………………Tuổi…………………Ngụ tại………………………………………………………………………………….Hôm nay là ngày ………tháng ………năm………………………(Âm lịch).Chính ngày giỗ của…………………………………………………………………Thiết nghĩ…………………. Vắng xa trần thế, không thấy âm dung.Năm qua tháng lại ngày húy lâm. Ơn võng cực xem bằng trời biển, nghĩa sinh thành không lúc nào quên. Càng nhớ công ơn gây cơ tạo nghiệp bao nhiêu, càng cảm thâm tình, không bề dãi tỏ. Ngày mai Cát Kỵ, hôm nay chúng con và toàn gia con cháu, nhất tâm sắm sửa lễ vật kính dâng, đốt nén tâm hương dãi tỏ tắc thành.Tâm thành kính mời…………………………………………………………………Mất ngày ……………..tháng………………….năm………………………………..Mộ phần táng tại……………………………………………………………………..Cúi xin linh thiêng giáng về linh sàng, chứng giám lòng thành, thụ hưởng lễ vật, độ cho con cháu an ninh khang thái, vạn sự tốt lành, gia cảnh hưng long thịnh vượng.Con lại xin kính mời các vị Tổ Tiên nội ngoại, Tổ Khảo, Tổ Tỷ, Bá Thúc, Huynh Đệ, Cô Di, Tỷ Muội và toàn thể các Hương hồn gia tiên đồng lai hâm hưởng.Tín chủ con lại xin kính mời ngài Thần Linh, Thổ địa, Thổ Công, Táo Quân và chư vị Linh thần đồng lai giám cách thượng hưởng.Tín chủ lại mời vong linh các vị Tiền chủ, Hậu chủ nhà này, đất này cùng tới hâm hưởng.Chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin được phù hộ độ trì.Phục duy cẩn cáo!

“Hiếu Kính Cha Mẹ” Có Nghĩa Gì?

“Hiếu kính cha mẹ” có nghĩa gì?

Câu trả lời của Kinh Thánh

Điều răn “hãy hiếu kính cha mẹ” thường xuất hiện trong Kinh Thánh ( Xuất Ai Cập 20:12; Phục truyền luật lệ 5:16; Ma-thi-ơ 15:4; Ê-phê-sô 6:2, 3). Điều răn này bao hàm bốn hành động quan trọng.

Biết ơn cha mẹ. Bạn hiếu kính cha mẹ khi biết ơn họ về mọi điều họ làm cho mình. Bạn có thể tỏ lòng biết ơn bằng cách xem trọng sự hướng dẫn của họ ( Châm ngôn 7:1, 2; 23:26). Kinh Thánh khuyến khích bạn xem cha mẹ là “vinh quang” của mình, tức là hãnh diện về họ.​- Châm ngôn 17:6.

Nhìn nhận uy quyền của cha mẹ. Nhất là thời trẻ, bạn hiếu kính cha mẹ khi nhìn nhận uy quyền mà Đức Chúa Trời giao cho họ. Cô-lô-se 3:20 nói với người trẻ: “Hãy vâng lời cha mẹ trong mọi sự, vì điều đó đẹp lòng Chúa”. Ngay cả Chúa Giê-su khi còn trẻ cũng sẵn sàng vâng lời cha mẹ.​- Lu-ca 2:51.

Đối xử tôn trọng với cha mẹ ( Lê-vi 19:3; Hê-bơ-rơ 12:9). Điều này thường bao gồm lời bạn nói và cách bạn nói. Đúng là một số bậc cha mẹ đôi khi hành động theo cách khiến con cái khó tôn trọng họ. Ngay cả trong hoàn cảnh đó, con cái vẫn có thể hiếu kính cha mẹ bằng cách tránh nói và hành động một cách bất kính ( Châm ngôn 30:17). Kinh Thánh dạy rằng việc chửi mắng cha mẹ là một tội nghiêm trọng.​- Ma-thi-ơ 15:4.

Chu cấp cho cha mẹ. Khi lớn tuổi, cha mẹ có thể cần sự hỗ trợ thực tế. Bạn có thể hiếu kính cha mẹ bằng cách cố gắng hết sức để đảm bảo rằng họ có những điều cần thiết ( 1 Ti-mô-thê 5:4, 8). Chẳng hạn, không lâu trước khi chết, Chúa Giê-su sắp xếp để mẹ ngài được chăm sóc.​- Giăng 19:25-27.

Những quan niệm sai về việc hiếu kính cha mẹ

Quan niệm sai: Hiếu kính cha mẹ là phải để họ kiểm soát hôn nhân của bạn.

Sự thật: Kinh Thánh dạy rằng mối quan hệ hôn nhân được đặt lên trên các mối quan hệ khác trong gia đinh. Sáng thế 2:24 nói: “Người nam sẽ rời cha mẹ và gắn bó với vợ mình” ( Ma-thi-ơ 19:4, 5). Dĩ nhiên, các cặp đã kết hôn có thể được lợi ích từ lời khuyên của cha mẹ đôi bên ( Châm ngôn 23:22). Dù vậy, một cặp vợ chồng có quyền quyết định đặt ra giới hạn là người thân được can thiệp tới mức nào đến hôn nhân của họ.​- Ma-thi-ơ 19:6.

Quan niệm sai: Cha mẹ có quyền tối hậu.

Sự thật: Dù Đức Chúa Trời cho cha mẹ quyền hành trong gia đình, nhưng mọi quyền hành của con người đều có giới hạn, không bao giờ vượt quá uy quyền của ngài. Chẳng hạn, khi một phiên tòa cấp cao ra lệnh cho các môn đồ của Chúa Giê-su không vâng lời Đức Chúa Trời, họ đáp: “Chúng tôi phải vâng lời Đức Chúa Trời hơn là vâng lời loài người” ( Công vụ 5:27-29). Tương tự, con cái vâng lời cha mẹ “theo cách đẹp lòng Chúa”, tức là vâng lời trong mọi việc không vi phạm luật pháp của Đức Chúa Trời.​- Ê-phê-sô 6:1.

Quan niệm sai: Hiếu kính cha mẹ là phải theo đạo của cha mẹ.

Sự thật: Kinh Thánh khuyến khích chúng ta tra xét xem những gì mình được dạy có phải là chân lý không ( Công vụ 17:11; 1 Giăng 4:1). Khi làm thế, với thời gian một người có thể chọn theo một đạo khác với cha mẹ. Kinh Thánh đề cập đến một số tôi tớ trung thành của Đức Chúa Trời đã không theo đạo của cha mẹ, trong đó có Áp-ra-ham, Ru-tơ và sứ đồ Phao-lô.​- Giô-suê 24:2, 14, 15; Ru-tơ 1:15, 16; Ga-la-ti 1:14-16, 22-24.

Quan niệm sai: Hiếu kính cha mẹ là phải thờ cúng tổ tiên.

Sự thật: Kinh Thánh nói: “Ngươi phải thờ phượng Giê-hô-va Đức Chúa Trời của ngươi, và chỉ phụng sự một mình ngài mà thôi” ( Lu-ca 4:8). Một người thờ cúng tổ tiên là làm buồn lòng Đức Chúa Trời. Hơn thế, Kinh Thánh dạy rằng ” người chết chẳng biết chi hết”. Họ không ý thức sự tôn thờ được dâng lên cho họ; họ cũng không thể giúp hay làm hại người còn sống.​- Truyền đạo 9:5, 10; Ê-sai 8:19.

Tìm hiểu thêm

TỈNH THỨC!

Sự khôn ngoan trong Kinh Thánh có thể tạo lại được sự hòa thuận không? Hãy xem những người đã áp dụng Kinh Thánh nói gì.