Dâng Hoa Cúng Dường Chư Phật

Dâng hoa cúng dường chư Phật sẽ là cao tột cùng trong các pháp, nếu đó là hoa của Giới, của Định và của Tuệ

Cúng dường nào có công đức lớn nhất?

Truyền thống cúng dường Tam bảo đã có từ thời các vị cổ Phật. Trong thời Đức Phật Thích-ca Mâu-ni, vị nổi bật trong hạnh cúng dường là Trưởng giả Cấp Cô Độc, được gọi là người thực hành đại bố thí nhất, từng cúng đến nhiều ngàn ức vàng. Không có nhiều phương tiện và cơ duyên như ngài Cấp Cô Độc, người cư sĩ thường giữ hạnh cúng dường tứ sự để duy trì Chánh pháp và để chư tôn đức Tăng-già có phương tiện tu hành và hoằng pháp. Tuy nhiên, để cúng dường Đức Phật, có một kinh cho biết rằng cúng dường hương hoa là thích nghi nhất. Có phải hương hoa là một ẩn nghĩa? Cũng có thể vì Đức Phật từng tự ví như hoa sen… Kinh Tương ưng bộ 22.94, bản dịch của Thầy Minh Châu ghi lời Đức Phật:

“Ví như, này các Tỷ-kheo, bông sen xanh, hay bông sen hồng, hay bông sen trắng sanh ra trong nước, lớn lên trong nước, vươn lên khỏi nước, và đứng thẳng không bị nước nhiễm ướt. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Như Lai sanh ra ở trong đời, lớn lên trong đời, vươn lên khỏi đời, và sống không bị đời ô nhiễm”[1].

Truyền thống cúng dường Tam bảo đã có từ thời các vị cổ Phật.

Đốt thân thể cúng dường chư Phật

Trong Tăng nhất A-hàm, có kinh EA-20.3, bản dịch của Thầy Tuệ Sỹ và Thầy Đức Thắng, có đoạn viết là khi nói về cúng dường, ghi rằng nên cúng Đức Phật hương hoa thay vì vàng bạc trân bảo.

Kinh này trích như sau:

“… Ông lại nghĩ như vầy: ‘Trong sách có ghi, Như Lai không nhận vàng bạc trân bảo, ta có thể đem năm trăm lạng vàng này, dùng mua hoa hương rải lên Như Lai’. Lúc đó, bà-la-môn liền vào trong thành tìm mua hương hoa”[2]

Khi nói nên cúng hương hoa thay vì vàng bạc trân bảo, có thể vì hương hoa mang ẩn nghĩa là hoa của giới, hoa của định, hoa của tuệ? Cũng có thể có ẩn nghĩa đó.

Bởi vì kinh Tăng chi bộ 5.175, bản dịch của Thầy Minh Châu, ghi lời Đức Phật rằng hoa sen còn tượng trưng Chánh tín của người cư sĩ.Kinh này trích như sau:”Thành tựu năm pháp, này các Tỷ-kheo, một nam cư sĩ là hòn ngọc trong giới nam cư sĩ, là hoa sen hồng trong giới nam cư sĩ, là hoa sen trắng trong giới nam cư sĩ. Thế nào là năm? Có lòng tin; có giới; không đoán tương lai với những nghi lễ đặc biệt; không tin tưởng điềm lành; tin tưởng ở hành động; không tìm kiếm ngoài Tăng chúng người xứng đáng tôn trọng và tại đấy phục vụ trước. Thành tựu năm pháp, này các Tỷ-kheo, một nam cư sĩ là hòn ngọc trong giới nam cư sĩ, là hoa sen hồng trong giới nam cư sĩ, là hoa sen trắng trong giới nam cư sĩ”[3].

Trong khi chúng ta đọc Thánh nhân Ký sự, bản dịch của Tỳ-khưu Indacanda[4], ghi về các cơ duyên tiền kiếp của các Trưởng lão A-la-hán nổi bật, sẽ thấy trong những kiếp lâu xa về trước, các vị đó khi còn là cư sĩ, hoặc khi còn là một chúng sanh trong loài thú, rất nhiều trường hợp đã dâng hoa cúng dường cho các vị cổ Phật.

Nếu không có cơ duyên gặp Đức Phật, chúng ta có thể dâng cúng các bậc Thánh Tăng cũng được nhiều phước duyên thiện lành.

Cúng dường đúng pháp và lợi ích của cúng dường Tam bảo

Như trường hợp của Trưởng lão Pāṭalipupphiya, trong một kiếp xa xưa, khi là con trai của một nhà triệu phú đã cầm một bông hoa tới dâng cúng Đức Phật Tissa. Đọc tích này, chúng ta có thể nhận ra rằng con trai của nhà triệu phú tất nhiên có rất nhiều vàng bạc trân bảo, nhưng trong mắt của chàng trai này, quý giá nhất lúc đó là bông hoa pāṭali và cậu đã dâng cúng hoa này.

Trích Thánh nhân Ký sự, bản dịch của Tỳ-khưu Indacanda, về ngài Pāṭalipupphiya như sau:

“Ký sự về Trưởng lão Pāṭalipupphiya

Lúc bấy giờ, tôi đã là con trai nhà triệu phú, mảnh mai, khéo được nuôi dưỡng. Tôi đã đặt bông hoa pāṭali vào lòng và đã mang theo bông hoa ấy.

Bậc Toàn giác có màu da vàng chói đang đi ở khu phố chợ. Ngài có ba mươi hai hảo tướng, tợ như cây cột trụ bằng vàng.

Tôi đã trở nên mừng rỡ, với tâm mừng rỡ tôi đã cúng dường bông hoa. Tôi đã lễ bái Đấng Hiểu biết Thế gian Tissa, đấng Bảo hộ, vị Trời của nhân loại.

Kể từ khi tôi đã thực hiện việc làm ấy trước đây chín mươi hai kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc cúng dường bông hoa.Trước đây sáu mươi ba kiếp, (tôi đã là) vị có tên Abhisammata, là đấng Chuyển luân vương được thành tựu bảy loại báu vật, có oai lực lớn lao.

Bốn (tuệ) phân tích, – (như trên) – tôi đã thực hành lời dạy của Đức Phật”[4].

Để cúng dường Đức Phật, có một kinh cho biết rằng cúng dường hương hoa là thích nghi nhất.

Cúng dường cơm cháy chuyển nghiệp đọa địa ngục thành sinh thiên

Nếu chỉ cúng hoa, hẳn là không cần phải giàu như con của một nhà triệu phú như tiền kiếp của Trưởng lão Pāṭalipupphiya. Vì cũng trong Thánh nhân Ký sự, trong “Ký sự về Trưởng lão Kaṇaverapupphiya” kể rằng tiền kiếp lâu xa của Trưởng lão này chỉ là một người canh gác ở hậu cung đức vua. Đó là thời của Đức Phật có tên là Siddhattha.

Người lính gác này lúc đó đã dâng cúng bằng cách “… cầm lấy bông hoa kaṇavera và đã rải rắc ở Hội chúng Tỳ-khưu. Tôi đã thực hiện nhiều lần ở Đức Phật, sau đó đã rải rắc nhiều hơn nữa. (Kể từ khi) tôi đã dâng lên bông hoa trước đây chín mươi bốn kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc cúng dường bông hoa…”.Trong khi đó, một nghệ nhân bình thường cũng có thể cúng hoa (đúng ra, nghèo cỡ nào, cũng cúng hoa được). Như trường hợp ghi trong Thánh nhân Ký sự, nơi “Ký sự về Trưởng lão Ucchaṅgapupphiya”, khi tiền kiếp lâu xa của Trưởng lão này là “người làm tràng hoa ở thành phố Bandhumatī” trong thời Đức Phật có tên là Vipassī.

Nên ghi nhận Trưởng lão nói rằng cúng hoa đã dẫn tới cơ duyên thoát khổ (hưởng phước) và tới cơ duyên hoàn toàn giải thoát (đoạn tận lậu hoặc, có nghĩa rằng cúng hoa mang ẩn nghĩa là hoa của Giới Định Huệ). Trích lời ngài như sau:

“(Kể từ khi) tôi đã cúng dường bông hoa trước đây chín mươi mốt kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc cúng dường Đức Phật.

Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc”.Thậm chí, loài chim cúng hoa cũng được hưởng phước. Đó là trường hợp Thánh nhân Ký sự ghi trong sự tích “Ký sự về Trưởng lão Salalapupphiya” – lúc đó ngài là “loài kim-xí-điểu” trong thời Đức Phật Vipassī, và kết quả từ khi “… tôi đã cúng dường bông hoa trước đây chín mươi mốt kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc cúng dường Đức Phật”.

Người trí không nương tựa vào bất kỳ gì, không thấy gì để trân quý hay ghét bỏ. Sầu khổ và tham đắm không dính vào người này, hệt như nước không dính vào chiếc lá.

Cách cúng dường cao quý nhất là Pháp cúng dường

Nếu không có cơ duyên gặp Đức Phật, chúng ta có thể dâng cúng các bậc Thánh Tăng cũng được nhiều phước duyên thiện lành. Thánh nhân Ký sự trong “Ký sự về Trưởng lão Tivaṇṭipupphiya” kể rằng một tiền kiếp Trưởng lão này dâng cúng hoa cho nhà sư “có tên Sunanda, Thanh văn của Đức Phật bậc Hiền Trí Dhammadassī”. Kết quả ghi là “… tôi đã không đi đến đọa xứ trong một ngàn tám trăm kiếp”.

Trong kinh Pháp cú Nam truyền, có một phẩm tên là Hoa. Bài kệ 54 và 55 do Thầy Minh Châu dịch như sau:

“Hương các loại hoa thơm, không ngược bay chiều gió. Nhưng hương người đức hạnh, ngược gió khắp tung bay. Chỉ có bậc chân nhân, tỏa khắp mọi phương trời. Hoa chiên-đàn, già-la, hoa sen, hoa vũ quý, giữa những hương hoa ấy, Giới hương là vô thượng”[5].

Trong khi đó, Đức Phật cũng từng dạy rằng hãy giữ tâm “vô sở trụ” y hệt như nước bùn không dính vào hoa sen được. Lời dạy đó nằm trong nhóm kinh Nhật tụng Sơ thời, các kinh chư Tăng dùng làm nhật tụng trong những năm đầu Đức Phật hoằng pháp. Đó là kinh Tương ưng bộ Sn 4.6 (Jara Sutta).

Bản dịch của Nguyên Giác trích như sau:

“Người trí không nương tựa vào bất kỳ gì, không thấy gì để trân quý hay ghét bỏ. Sầu khổ và tham đắm không dính vào người này, hệt như nước không dính vào chiếc lá.

Như giọt nước trên lá sen, như nước không dính vào bông sen; những gì được thấy, nghe, nhận biết không dính mắc gì vào người trí.

Người thanh tịnh không khởi niệm tư lường về những gì được thấy, nghe, nhận biết, cũng không muốn tìm thanh tịnh qua bất kỳ cách nào vì đã không còn gì để tham đắm hay ghét bỏ”[6].

Đọc kỹ bài kinh vừa dẫn, sẽ thấy đó là pháp tu “không có gì để tu hết” của Thiền tông, cũng là Thiền Trúc Lâm của Việt Nam. Bởi vì “không khởi niệm” và “không muốn tìm thanh tịnh qua bất kỳ cách nào” cũng có nghĩa là buông hết cả ba thời, và là xa lìa ngũ uẩn của ba thời quá, hiện, vị lai.

Người thanh tịnh không khởi niệm tư lường về những gì được thấy, nghe, nhận biết, cũng không muốn tìm thanh tịnh qua bất kỳ cách nào vì đã không còn gì để tham đắm hay ghét bỏ

Ý nghĩa của bố thí và cúng dường

Ngài Trần Nhân Tông gọi đó là “Đối cảnh vô tâm mạc vấn Thiền” – là đối trước cảnh, tâm không dao động, thì chớ hỏi Thiền làm chi. Lục tổ Huệ Năng cũng gọi đó là “Chớ nghĩ thiện, chớ nghĩ ác…” và kinh Kim cang gọi đó là “ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”…

Bất kỳ ai cũng có thể nhìn lại tâm mình, và chớ nghĩ gì tới thiện/ác, lành/dữ, và chớ nghĩ gì tới quá/hiện/vị lai… ngay khi đó, chính là một cái nhìn của tỉnh thức, của tịch lặng, của xa lìa tham sân si. Ngay đó là Niết bàn, ngay trước mắt. Và đó chính là hương hoa cúng dường chư Phật.

Ghi chú:

1. Kinh Tương ưng bộ SN 22.94: https://suttacentral.net/ sn22.94/vi/minh_chau.

2. Kinh Tăng nhất A-hàm, Kinh EA-20.3: https://suttacentral. net/ea20.3/vi/tue_sy-thang.

3. Kinh Tăng chi bộ AN 5.175: https://suttacentral.net/ an5.175/vi/minh_chau.

4. Thánh nhân Ký sự, bản dịch Tỳ-khưu Indacanda: https:// www.tamtangpaliviet.net/VHoc/39/Ap_00.htm. và https://www.tamtangpaliviet.net/VHoc/40/Ap_00b.htkm.

5. Kinh Pháp cú: https://thuvienhoasen.org/p15a7961/pham- 01-10.

6. Kinh Tương ưng bộ 4.6: https://thuvienhoasen.org/p15a30599/ sn-4-6-jara-sutta-kinh-ve-tuoi-gia.

Theo Văn hoá Phật giáo số 337-338 ngày 15-01-2024 > Xem thêm video: Tu thân theo lời Phật dạy:

Nguyên Giác

Công Đức Dâng Hoa Cúng Dường Phật.

Hoa có đặc tính thơm tho trang nghiêm, nhân đó mà được Phật giáo dùng để tượng trưng cho ý nghĩa cao đẹp.

Phật tổ Thích Ca Mâu Ni đang thuyết pháp ở núi Linh Thứu, Đại Phạm Thiên Vương dâng lên cành hoa Kim Sắc Ba La Mật, Phật liền nâng cành hoa lên để thị ý đại chúng, đại chúng đều ngơ ngác, chỉ có ngài Ma Ha Ca Diếp “Phá nhan vi tiếu – mỉm miệng cười”. Ngài nói: “Đây là Pháp môn không lập văn tự, truyền ngoài giáo điển, hiện tại giao cho Ma Ha Ca Diếp”. Nhân thế mà Thiền Tông tôn ngài Ma Ha Ca Diếp làm Sơ Tổ. Thành ngữ “Phá nhan vi tiếu – miệng mỉm cười” nầy cũng nói rõ việc dâng hoa cúng Phật, đã có từ thời Ngài còn tại thế.

Hoa dùng để cúng dường chư Phật Bồ tát là chỉ cho các loại hoa thực vật, tiếng Phạn dịch là “Bổ Thệ Ba”, kinh Phật thường gọi là “Hoa”, Phật giáo Ấn Độ, hoa cúng dường là 1 trong 6 món dùng để dâng cúng Phật Bồ tát, các món cúng dường nầy đều có sự biểu trưng.

– Hoa tiêu biểu cho bố thí, vì bố thí thì khiến cho người sanh hoan hỉ.

– Hương tiêu biểu cho trì giới, vì trì giới thì hạnh nghiệp thơm lừng.

– Đèn tiêu biểu cho nhẫn nhục, vì nhẫn nhục thì chuyển lửa sân hận làm ánh sáng lớn (đại quang minh).

– Đồ (nước) là tiêu biểu cho tinh tấn, vì tinh tấn thì sẽ đượm nhuần pháp thân.

– Quả tiêu biểu cho thiền định, vì thiền định thì hay thành tựu được quả Phật.

– Nhạc tiêu biểu cho trí huệ, vì trí tuệ thì hay sanh ra các pháp.

Đem hoa dâng lên chư Phật Bồ tát gọi là Hiến Hoa, đem hoa rải lên Phật đài, đạo tràng… gọi là Tán hoa.

Trong Kinh điển Phật giáo thường đề cập đến hoa báu từ trên trời rơi xuống, như phẩm Thí Dụ kinh Pháp Hoa: “Nếu lúc muốn đi thì có hoa báu đỡ chân”. Hoa báu là chỉ cho các loại trân bảo hợp thành.

Kinh Vô Lượng Thọ chép: “Tất cả chư Thiên, đều dâng trăm ngàn hoa hương ở cõi trời, muôn thứ kỹ nhạc để cúng dường Đức Phật”.

Kinh Pháp Hoa chép: “Có đến 10 thứ cúng dường. Lại đem hoa để ở đầu tiên nhân vì hoa rất thơm, đẹp dùng để trang nghiêm”.

Cho nên đem hương thơm thanh khiết của hoa dâng lên trang nghiêm cúng dường Phật. Ngoài ra hoa còn là một biểu pháp, nhân vì những khí vật trong nhà Phật đều có hàm ý tiêu biểu. Trước Phật cúng hoa vì hoa tiêu biểu cho nhân, sau khi hoa nở thì kết trái, hoa tiêu biểu cho 6 độ muôn hạnh. Hoa tiêu biểu cho thiền định, đem công đức tu thiền định để cúng dường Phật. Tất cả công đức đều là từ trong thiền định mà khơi mở, chỉ có công đức thiền định mới hay đoạn trừ phiền não, sạch hết sanh tử, cuối cùng chứng được quả Phật. Đem hoa cúng Phật sẽ được nhiều công đức phước báu thù thắng”.

Kinh Phật Vị Thủ Ca Trưởng Giả Thuyết Nghiệp Báo Sai Biệt Kinh chép: “Dâng hoa cúng Phật được 10 thứ công đức:

1/ Ở thế gian thường tốt đẹp như hoa.

2/ Trên thân không có mùi hôi dơ.

3/ Phước đức và giới hạnh lan tỏa khắp nơi.

4/ Sanh ở chỗ nào lỗ mũi không hư hoại hay phân biệt được mùi của các loài hương.

5/ Ở thế gian mà vượt hơn thế gian được mọi người kính ngưỡng.

6/ Thân thường giữ được mùi hương thơm sạch.

7/ Ưa thích nghe chánh pháp, thọ trì đọc tụng.

8/ Có phước báu rộng lớn.

9/ Mạng chung sanh về cõi trời.

10/ Mau chứng được đạo Niết Bàn”.

Theo Kinh Vô Lượng Thọ chép: “Bốn loại hoa trước được trang nghiêm ở cõi Cực Lạc”.

Theo Kinh Pháp Hoa chép: “Bốn loại hoa sau từ trên cõi trời rơi xuống, là thứ 3 trong 6 tướng lành. Dùng hoa cúng Phật trong kinh cũng xác định rõ ràng, không phải hoa gì cũng cúng được”.

Đà La Ni Tập Kinh, quyển 6 chép: “Hoa cây cúng dường thì có cành liễu, bá diệp, trúc, hoa tạp, quả chi,… hoa có mùi hôi, cây gai sanh hoa hoa có vị đắng cai, hoa không có tên… đều không nên đem cúng”.

Hiện tại trong chùa, ngoài việc dùng hoa tươi cúng Phật, còn có dùng giấy, lụa, vàng để chế thành hoa, cúng ở trước Phật. Việc cúng hoa trong Phật giáo biểu đạt được tấm lòng kiền thành, lại cũng là việc gieo trồng công đức phước báu, trí huệ tốt đẹp trong cuộc sống hiện tại và tượng lai, từ đó cũng trang sức cho hoàn cảnh tự viện tốt đẹp.

Công Đức Dâng Hoa Cúng Dường Phật

Phật Thích Ca Mâu Ni đang thuyết pháp tại núi Linh Thứu, Đại Phạm Thiên Vương dâng lên cành hoa Kim Sắc Ba La Mật, Phật liền nâng cành hoa lên để thị ý đại chúng, đại chúng đều ngơ ngác, chỉ có Ngài Ma Ha Ca Diếp “Phá nhan vi tiếu – mĩm miệng cười”. Ngài nói: “Đây là pháp môn không lập văn tự, truyền ngoài giáo điển, hiện tại giao cho Ma Ha Ca Diếp”. Nhân thế mà Thiền Tông tôn Ngài Ma Ha Ca Diếp làm Sơ Tổ. Thành ngữ “Phá nhan vi tiếu – miệng mỉm cười” nầy cũng nói rỏ việc dâng hoa cúng Phật, đã có từ thời Ngài còn tại thế.

Hoa dùng để cúng dường chư Phật Bồ Tát là chỉ cho các loại hoa thực vật, tiếng Phạn dịch là “Bổ Thệ Ba”, kinh Phật thường gọi là “Hoa”. Phật giáo Ấn Độ, hoa cúng dường là một trong sáu món dùng để dâng cúng Phật Bồ Tát, các món cúng dường nầy đều có sự biểu trưng.

Theo Du Già Diệm Khẩu (Bản khắc gỗ tại chùa Dũng Tuyền, Cổ Sơn):

– Hoa tiêu biểu cho bố thí, vì bố thí thì khiến người sanh hoan hỷ.

– Hương tiêu biểu cho trì giới, vì trì giới thì hạnh nghiệp thơm lừng.

– Đèn tiêu biểu cho nhẫn nhục, vì nhẫn nhục thì chuyển lửa sân hận thành ánh sáng lớn (đại quang minh).

– Đồ (Nước) là tiêu biểu cho tinh tấn, vì tinh tấn thì sẽ đượm nhuần pháp thân.

– Quả tiêu biểu cho thiền định, vì thiền định thì hay thành tựu được quả vị Phật.

– Nhạc tiêu biểu cho trí tuệ, vì trí tuệ thì hay sanh ra các pháp.

Đem hoa dâng lên chư Phật Bồ Tát còn gọi là hiến hoa, đem hoa rãi lên Phật đài, đạo tràng,… gọi là tán hoa.

Trong kinh điển Phật giáo thường đề cập đến hoa báu từ trên trời rơi xuống như phẩm Thí Dụ kinh Pháp Hoa: “Nếu lúc muốn đi thì có hoa báu đỡ chân”. Hoa báu là chỉ cho các loại trân bảo hợp thành.

– Hoa cúng: Hao là một trong sáu loại cúng dường trong Phật giáo. Tập tục Ấn Độ truyền thống khi xưa thường dùng vòng hoa, rải hoa để cúng dường Phật. Vòng hoa là dùng chỉ kết lại thành, rồi đem đeo lên trên cổ của Thánh tượng để trang sức cúng dường. Tỳ-kheo không được dùng hoa để trang sức trên thân, chỉ được treo trong thất, hoặc dùng để cúng dường Phật. Kinh Phật chép: Ở trước Phật khen ngợi, thường có trời người rải hoa năm màu để cúng dường Phật.

Kinh Vô Lượng Thọ chép: “Tất cả chư Thiên, đều dâng trăm ngàn hoa hương ở cõi trời, muôn thứ kỹ nhạc để cúng dường Đức Phật”.

Kinh Pháp Hoa chép: “Có đến 10 thứ cúng dường. Lại đem hoa để ở đầu tiên, nhân vì hoa rất thơm, đẹp dùng để trang nghiêm”.

Cho nên đem hương thơm thanh khiết của hoa dâng lên trang nghiêm cúng dường Phật. Ngoài ra, hoa còn là một biểu pháp, nhân vì những khí vật trong nhà Phật đều có hàm ý tiêu biểu. Trước Phật cúng hoa tiêu biểu cho nhân, sau khi hoa nở thì kết trái, hoa tiêu biểu cho 6 độ muôn hạnh. Hoa tiêu biểu cho thiền định, đem công đức tu thiền định để cúng dường Phật. Tất cả công đức đều là từ trong thiền định mà khơi mở, chỉ có công đức thiền định mới hay đoạn trừ phiền não, sạch hết sanh tử, cuối cùng chứng được quả Phật. Đem hoa cúng Phật sẽ được nhiều công đức phước báu thù thắng.

Soạn Tập Bách Dụ Kinh chép: “Có một người hái hoa, gom những bông hoa lại rồi kết thành tràng hoa cúng dường tháp Phật, sau khi chết đi được phước báu sanh về cõi trời”.

Kinh Phật Vị Thủ Ca Trưởng Giả Thuyết Nghiệp Báo Sai Biệt Kinh chép: “Đâng hoa cúng Phật được 10 thứ công đức:

1. Ở thế gian thường tốt đẹp như hoa.

2. Trên thân không có mùi hôi dơ.

3. Phước đức và giới hạnh lan tỏa khắp nơi.

4. Sanh ở chỗ nào lỗ mũi không hư hoại hay phân biệt được mùi của các loài hương.

5. Ở thế gian mà vượt hơn thế gian được mọi người kính ngưỡng.

6. Thân thường giữ được mùi hương thơm sạch.

7. Ưa thích nghe chánh pháp, thọ trì đọc tụng.

8. Có phước báu rộng lớn.

9. Mạng chung sanh về cõi trời.

10. Mau chứng được đạo Niết Bàn.

Hoa cúng dường Phật trong kinh điển ghi rằng: Thường thấy có hoa Ưu Bát La (hoa sen xanh), Bát đầu Đặc Ma Hoa (hoa sen hồng), Câu Vật Đầu Hoa (hoa sen trắng), Phân Đà Lợi Hoa (hoa sen trắng lớn) có 4 loại như thế. Hoặc Mạn Đà La Hoa, Ma Ha Mạn Đà La Hoa, Mạn Thù Sa và Ma Ha Mạn Thù Sa hoa, có 4 loại như thế.

Theo kinh Vô Lượng Thọ chép: “Bốn loại hoa trước được trang nghiêm ở cõi Cực Lạc”.

Theo kinh Pháp Hoa chép: “Bốn loại hoa sau từ trên cõi trời rơi xuống, là thứ 3 trong sáu tướng lành. dùng hao cúng Phật trong kinh cũng xác định rỏ ràng, không phải hoa gì cũng cúng được”.

Đà La Ni Tập Kinh, quyển 6 chép: “Hoa cây cúng dường thì có cành liễu, bá diệp, trúc, hoa tạp, quả chi,… hoa có mùi hôi, cây gai sanh hoa hoa có vị đắng cay, hoa không có tên,… đều không nên đem cúng.

Hiện tại trong chùa, ngoài việc dùng hoa tươi cúng Phật, còn có dùng giấy, lụa, vàng để chế thành hoa cúng ở trước Phật. Việc cúng hoa trong Phật giáo biểu đạt được tấm lòng kiền thành, lại cũng là việc gieo trồng công đức phước báu, trí huệ tốt đẹp trong cuộc sống hiện tại và tương lai, từ đó cũng tự trang sức cho hoàn cảnh tự viện tốt đẹp.

(Nguồn chuahoiphuoc.net)

Thờ Cúng Phật Tại Nhà Và Dâng Hoa Thờ Phật

Mặc dù đạo Phật không phải là tín ngưỡng chính của người Việt Nam. Nhưng hiện nay văn hóa thờ Phật cũng rất phát triển, cùng tìm hiểu về cách thờ cúng phật tại nhà và những cách cắm hoa cúng phật để có thêm nhiều may mắn và bình an trong gia đình.

Cách thờ cúng phật tại nhà như thế nào đúng cách

Đối với vị trí lập ban thờ : Trong kiến trúc hiện đại ngày nay của người Việt thì phòng thờ cúng được lập thành một phòng riêng biệt trên tầng cao nhất của ngôi nhà.

Với hướng đặt bàn thờ : Bàn thờ nên để quay theo hướng Tây Bắc của ngôi nhà, vì hướng này là tượng trưng cho Trời miền Tây Thiên Cực Lạc.

Trong cách cúng Phật tại gia một số điều lưu ý không nên làm khi có ban thờ Phật trong nhà

Đầu tiên là không lấy gỗ đã qua sử dụng để làm, không nên để tượng phật trong tủ kính, cũng nên thờ quá nhiều vị phật trong nhà mình. Thờ Phật phải để nơi sạch đẹp, yên tĩnh và thanh tịnh, tinh khiết chính vì thế không nên đặt ở nơi không sạch sẽ và ẩm thấp, không được đặt bàn thờ phật ở lối đi lại ồn áo. Cũng không nên đặt giường ngủ ở phía sau bàn thờ phật, không đặt tượng phật trong phòng ngủ. Đặc biệt cũng không nên đặt bàn thờ bên dưới cầu thang đi lại, bên dưới xà nhà trong gia đình, hoặc là gần nhà vệ sinh, nơi sinh hoạt chung trong gia đình. Nên thờ ở một phòng riêng thanh tịnh và yên tĩnh nhất. Đặc biệt trong các nhà hàng, nơi náo nhiệt đông người đi lại thì không nên thờ phật vì như thế sẽ làm mất vẻ thanh tịnh của Phật.

Nên đặt tượng hướng ra cửa chính của ngôi nhà, thường xuyên vệ sinh và lau chùi cho sạch sẽ. Trước khi đặt tượng nên đặt trên một chiếc đĩa lót giấy màu đỏ. Nếu tượng đặt trên xe thì phải để mặt tượng Phật quay về phía trước. Khi thờ tam thế phật thì được trên một bàn với nhau.

Cách thờ phật tại nhà nếu không may bị vỡ thì phải được gói lại bằng giấy vàng, chờ đến ngày mùng 1, 3, 5, 7, 9 thì mang đốt dưới nắng để tiễn phật về quy vị.

Nếu đã thờ cúng phật tại gia thì không nên thờ thêm bất kỳ vị thần nào khác.

Cách cắm hoa cúng phật thể hiện thành kính

Phật là người đại diện cho tấm lòng từ bi, thân ái và sự tinh khiết, thanh tịnh. Chính vì thế cắm hoa cúng phật cũng có sự chọn lựa thật cẩn thận.

Dâng hoa cúng đên Phật đà – Nguyện mau giải thoát sinh, già, khổ đau – Hoa tươi nhưng sẽ úa sầu – Tấm thân tứ đại tránh sao điêu tàn.

Hoa cúng phật nên chọn những hoa có màu sắc tươi sáng như hoa : cúc, hoa dơn, hoa ly vàng, hoa hồng … những hoa tỏa mùi hương dịu nhẹ. Không nên dâng lên ban thờ Phật những loại hoa có mùi hôi hoặc không có tên gọi.

Phật là nơi thanh tịnh, tinh khiết và thanh tao chính vì thế các loài hoa dâng phật cũng phải có sự chọn lựa thật cẩn thận và tinh khôi.

Dâng Hoa Cúng Phật: Luận Về Ý Nghĩa

Bên cạnh dâng nước, dâng quả thì dâng hoa cúng Phật cũng là hoạt động thường quy khi lễ Phật. Vậy trong Phật giáo hoa tượng trưng cho điều gì? Và dâng hoa lên cúng Phật có ý nghĩa ra sao? Hãy cùng tìm hiểu qua bài viết sau.

Dâng hoa cúng Phật tượng trưng cho Lục độ vạn hạnh Bồ Tát

Trong Phật pháp, hình ảnh hoa tượng trưng cho Lục độ vạn hạnh Bồ Tát. Bao gồm Bố thí, Trì giới, Nhẫn nhục, Tinh tấn, Thiền định và Trí huệ.

Bố thí và Trì giới

Bố thí là hành động san sẻ, giúp đỡ những người có hoàn cảnh khó khăn. Hành động bố thí con người làm mỗi ngày là bố thí tài, bố thí pháp, bố thí vô úy.

Bố thí tài là mang tiền bạc, vật chất, tinh thần, thể chất của mình giúp đỡ người khó khăn. Mong muốn họ có thêm tinh thần, nghị lực để vươn lên.

Bố thí pháp là mang tiền bạc của mình thực hiện ấn tống tượng Phật, kinh sách. Hay mang những lời lẽ tốt đẹp, chân lý đúng đắn Phật dạy để khuyên răng người đời. Giúp người đời hiểu về đúng sai, tâm thanh tịnh và tu đức nhân quả.

Bố thí vô úy là sự bất sợ hãi. Hãy thực hiện phóng sanh, mang niềm vui, hạnh phúc đến cho người khác.

Trì giới là hành động giữ gìn giới luật nhà Phật. Sống thanh tịnh và thực hiện theo đạo giới tốt đẹp của minh.

Nhẫn nhục và Tinh tấn

Phật pháp có lời Tất cả pháp muốn thành tựu đều bắt đầu từ nhẫn nhục. Người biết nhẫn nhục ít sẽ thành công ít. Người biết nhẫn nhục nhiều sẽ thành công nhiều. Thế nên, nhẫn nhục là gốc để chuyển xấu thành tốt.

Tinh tấn là thái độ chuyên cần, siêng năng và chăm chỉ trong công việc. Khi thực hiện bất kỳ điều gì, cần tinh tấn để phấn đấu đến thành công.

Thiền định và Trí huệ

Thiền định là sự tập trung tư duy, tâm ý vào đối tượng nhất định. Thiền định là phương pháp tu tư duy, tập trung suy nghiệm, suy cứu bằng tâm thức. Thiền định thể hiện cái tĩnh tại giữa hư không, dùng tâm thanh tịnh để nghiệm lý đúng sai.

Trí huệ là sự quyết đoán, lựa chọn đúng sai. Trí huệ biểu hiện ở sự thông minh và tư duy nhanh nhạy. Với Phật pháp, trí huệ là công phu tu tập, thiền định nhờ giữ đạo giới. Sự thuyết pháp của Đức Phật luôn ứng với chân lý và căn cơ chúng sanh. Điều quan trọng là chúng sanh phải minh thông trí huệ để đón lấy những lẽ phải ấy.

Ý nghĩa của việc dâng hoa cúng Phật

Hoa là biểu tượng cao đẹp và chân quý trong Phật giáo. Dâng hoa lên cúng Phật thể hiện cho những điều tốt đẹp, thơm tho, thiện lành. Đó là những điều cao quý con người muốn dâng lên cho Đức Phật.

Dâng hoa cúng Phật thể hiện lòng ngưỡng mộ, thành kính đối với chư Phật mười phương. Thông qua những tràng hoa tươi tắn, con người muốn bày tỏ lòng biết ơn vô hạn. Thầm cảm ơn phước lành mà Đức Phật đã mang đến cho chúng sanh.

Dâng hoa lên tượng Phật còn hàm nghĩa về sự tu nhân của con người. Xưa nay, con người vẫn luôn sinh tồn trong vòng xoay của triết lý nhân quả. Cũng như lời Phật dạy gieo nhân nào sẽ gặp quả ấy. Thế nên, con người luôn muốn tu nhân tích đức, làm điều tốt đẹp để được an lành.

Mỗi loài hoa đều tỏa hương, khoe sắc và thể hiện những điều tốt đẹp nhất. Khi dâng hoa lên cúng Phật, con người cũng mong nguyện được Phật ban phước lành.