Bài Cúng Bà Chúa Xứ Núi Sam Châu Đốc / Top 2 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 1/2023 # Top View | Apim.edu.vn

Lễ Hội Vía Bà Chúa Xứ Núi Sam (Châu Đốc

​Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam được tổ chức vào cuối tháng 4 âm lịch hằng năm thu hút hàng triệu lượt người đến tham quan, chiêm bái, tạo nên một mùa lễ hội nhộn nhịp, sôi động tại miếu Bà Chúa Xứ, thị trấn Châu Đốc, tỉnh An Giang.

Giai thoại về Bà Chúa Xứ

Vào những năm 1820, quân Xiêm thường xuyên quấy nhiễu biên giới nước ta. Khi đến núi Sam, trông thấy tượng Bà, chúng hì hục dùng đủ mọi cách để khiêng tượng Bà xuống núi, nhưng khi vừa đi được một đoạn ngắn thì kì lạ thay, tượng Bà bỗng nặng trĩu đến cả chục binh sĩ trai tráng cũng không thể bê nổi. Khi đó, một tên trong đám giặc nổi giận, đạp vào cốt tượng làm gãy một phần cánh tay bên trái và ngay lập tức bị trừng phạt đau đớn.

Một thời gian sau, nhiều người trong làng luôn mơ thấy tượng Bà hiện về tự xưng là Bà Chúa Xứ, báo mộng dân làng khiêng bà xuống núi lập miếu thờ, bà sẽ phù hộ cho mưa thuận gió hòa, bảo vệ dân làng khỏi nạn giặc cỏ. Vậy là cả làng lên khiêng tượng Bà Chúa Xứ xuống núi để xây miếu thờ cúng, nhưng không hiểu sao tất cả thanh niên lực lưỡng trong làng cũng không thể bê tượng Bà lên. Khi ấy, một cô gái tự xưng là Chúa Xứ Thánh Mẫu và báo rằng Bà chỉ cần 9 cô gái đồng trinh khiêng bà. Quả nhiên, 9 cô gái di chuyển Bà một cách dễ dàng và khi xuống đến chân núi, tượng Bà trở nên nặng không thể di chuyển được, dân làng hiểu rằng Bà đã chọn vị trí này để làm miếu cho mình.

Tượng Bà cao khoảng 1m65, theo nhà khảo cổ học người Pháp Malleret đến nghiên cứu vào năm 1941, tượng Bà thuộc loại tượng thần Visnu, tạc dáng người ngồi nghĩ ngợi quý phái vương giả. Chất lượng bằng đá son, có giá trị nghệ thuật cao, có thể được tạc vào cuối thế kỷ VI. Theo một số nghiên cứu khác, tượng Bà là pho tượng Phật đàn ông của người Khmer, bị bỏ quên lâu đời trên đỉnh núi Sam. Người Việt đưa tượng vào miếu, điểm tô lại trở thành Bà Chúa Xứ quyền thế. Tuy nhiên, đến thời điểm hiện tại, tượng Bà Chúa Xứ vẫn là còn là điều bí ẩn.

Ban đầu, miếu Bà Chúa Xứ được xây dựng khá sơ sài, nằm trên vùng đất trũng và lợp bằng lá tre, lưng quay về vách núi, chánh điện nhìn ra con đường làng và cánh đồng bát ngát. Trải qua nhiều lần trùng tu, đến năm 1992, di tích quốc gia miếu Bà Chúa Xứ hoàn thành khá quy mô với khu Đông Lang, Tây Lang, chánh điện, nhà khách… Ngay lối chánh điện có đôi câu đối thể hiện quyền uy linh thiên của Bà Chúa Xứ:

Cầu tất ứng, thí tất linh, mộng trung chỉ thịXiêm khả kinh, Thanh khả mộ, ý ngoại nan lượng.Dịch nghĩa là:Cầu tất được, ban nhất định linh, báo mộng cho biếtNgười Xiêm phải sợ, người Thanh phải nể, không thể tưởng tượng nổi.

Độc đáo Lễ hội Bà Chúa Xứ

Sau khi xây dựng, miếu được một người trông nom cai quản gọi là Từ. Ban đầu, các hoạt động cúng bái còn khá lẻ tẻ và đơn sơ, tuy nhiên sau năm 1870, khi miếu được trùng tu khang trang đã thu hút người dân thập phương nên Lễ hội Bà Chúa Xứ từ đó cũng trở nên phổ biến. Lễ hội được bắt đầu từ đêm 23/4 đến ngày 27/4 âm lịch, ngày chính vía là 25/4 âm lịch, là ngày tượng Bà an vị sau khi khiêng xuống núi. Các nghi thức cúng bái sẽ được các hương chức trong làng thực hiện theo nghi thức cổ truyền. Trước khi cử hành các nghi thức, vào ngày 10/3 âm lịch hàng năm, Ban quản trị miếu bầu ra chủ lễ với các tiêu chí như ngoài 60 tuổi và vẫn khỏe mạnh, còn đủ vợ đủ chồng, con cái đông đủ cả trai cả gái và đạo đức tốt.

Vào đêm 23/4, rạng sáng 24/4, Lễ tắm Bà được tiến hành theo nghi thức trang trọng. Tượng Bà sẽ được lau bằng nước thơm, thay y phục mới, còn y phục cũ sẽ được cắt nhỏ và ban cho khách trẩy hội như một hình thức cầu an, cầu may.

Lễ thỉnh sắc Thoại Ngọc Hầu về miếu Bà được tiến hành lúc 15h ngày 24/4 âm lịch. Tương truyền, Thoại Ngọc Hầu là một danh tướng lẫy lừng thời Nguyễn, từng là trấn thủ trấn Vĩnh Thanh, người có công lớn trong công cuộc khẩn hoang lập ấp, đào kênh đắp đường, xây dựng và bảo vệ vùng đất mới. Một trong những đóng góp to lớn nhất của Thoại Ngọc Hầu chính là lộ núi Sam – Châu Đốc dài 5km, xây dựng từ năm 1826 đến 1827, huy động gần 4500 nhân công. Sau khi hoàn thành, ông cho khắc bia “Châu Đốc Tân Lộ Kiều Lương” dựng tại núi Sam năm 1828 để kỷ niệm. Ngày nay, tấm bia không còn nhưng còn văn bia trong sử sách. Các bô lão trong làng và Ban quản trị miếu mặc lễ phục chỉnh tề sang lăng Thoại Ngọc Hầu làm Lễ thỉnh sắc rước bài vị của Ngọc Hầu Nguyễn Văn Thoại để tỏ lòng biết ơn người có công khai phá vùng đất hoang vu này.

Lễ Túc Yết được tổ chức vào đêm 25, rạng sáng 26/4 âm lịch. Lễ được tiến hành theo trình tự: dâng hương, chúc tửu, hiến trà, đọc văn tế. Cuối cùng, văn tế được hóa cùng một ít giấy vàng mã. Tiếp ngay sau Lễ Túc Yết là đến Lễ Xây Chầu – Hát Bội do một người sành nghi lễ và có uy tín trong Ban tế tại miếu Bà thực hiện cùng đào kép hát bội cầu cho quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa.

Lễ Chánh tế được diễn ra vào 4 giờ sáng ngày 26/4 và cuối cùng, chiều ngày 27/4 sẽ đưa sắc Thoại Ngọc Hầu về lăng.

Phần hội diễn ra rất sôi nổi đan xen với phần lễ, các hoạt động văn hóa nghệ thuật dân gian được biểu diễn như múa lân, múa mâm thao, múa đĩa chén… thu hút sự chú ý và tham gia của du khách thập phương. Lễ khai hội thường tổ chức vào trước đêm Lễ tắm Bà, tức là phần trước lễ truyền thống. Chương trình khai hội khá đặc sắc, phong phú với các tiết mục được sân khấu hóa như biểu diễn lân sư rồng, diễu hành xe hoa hay ca múa nhạc dân tộc Khmer. Sau đó, Lễ phục hiện sẽ được tiến hành với ý nghĩa tái hiện bối cảnh rước tượng Bà từ đỉnh núi Sam theo truyền thuyết.

Hàng năm, miếu Bà Chúa Xứ thu hút hàng nghìn khách thập phương đến hành hương chiêm bái, đóng góp cho việc tôn tạo miếu. Ngoài việc trùng tu miếu, Ban quản lý sử dụng một phần số tiền đóng góp để làm phúc lợi xã hội.

Nhờ có Lễ Bà Chúa Xứ, hàng năm, những người tham gia lễ hội đã giúp tạo nguồn thu nhập cho người dân địa phương, đời sống dần trở nên ổn định hơn.

Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ vẫn luôn là nét văn hóa cộng đồng đặc sắc của các dân tộc, nét hành hương tâm linh đặc trưng của Nam bộ. Ý nghĩa của Lễ hội không chỉ dừng lại ở văn hóa tâm linh mà còn thể hiện niềm tự hào dân tộc với những trang sử vẻ vang chói lọi cũng như các đóng góp cho xã hội. Du khách đến với Lễ hội không chỉ là tham gia một nét văn hóa vùng miền, mà còn tận mắt chứng kiến các chứng tích lịch sử mà ông cha ta đã dày công xây dựng và giữ gìn.

Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam được công nhận là Lễ Hội cấp Quốc gia từ năm 2001. Ngày 8/6/2015, Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch, UBND tỉnh An Giang, TP Châu Đốc (An Giang) tổ chức Lễ đón Bằng Di sản Văn hóa phi vật thể quốc gia Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam theo Quyết định số 4205/QĐ-BVHTTDL.

Miếu Bà Chúa Xứ Núi Sam (Châu Đốc) Có Gì Hấp Dẫn?

Từ xưa đến nay, vùng Châu Đốc – An Giang luôn là trọng tâm cho nhiều đề tài nghiên cứu về các câu chuyện tâm linh, huyền tích chưa lời giải mã. Nổi bật trong số này có thể kể đến huyền tích Bà Chúa xuất hiện trên núi Sam được lưu danh sử sách khi độ linh thiêng khiến người đời phải tôn nễ, giặc xâm lăng phải mất mạng và kẻ cướp phải điếng hồn. Tuy những câu chuyện, lời thoại, ấy đã hơn 200 năm, nhưng khi nhắc lại vẫn làm nhiều người sửng sốt và không thể nào lý giải được. Để rõ hơn những điều này như thế nào, chúng tôi xin mời bạn cùng về An Giang tham quan và tìm hiểu tại Miếu Bà Chúa Xứ núi Sam.

Miếu Bà Chúa Xứ ở đâu?

Lịch sử Miếu Bà Chúa Xứ núi Sam (Châu Đốc, An Giang)

Đến năm 1962 thì tiếp tục được được tu sửa khang trang bằng đá miểng và lợp ngói âm dương. Ba năm sau đó (1965), miếu Bà được Hội quý tế cho xây nới rộng nhà khách và làm hàng rào nhà chính điện của ngôi miếu.

Tiếp tục đến năm 1972, hai kiến trúc sư nổi tiếng là Huỳnh Kim Mãng và Nguyễn Bá Lăng đã tái thiết lớn ngôi miếu trên bảng vẽ của mình trong khoảng thời gian 4 năm trên một dáng vẻ mới rất uy nghi đầy lộng lẫy.

Chính từ điều này mà sau được Bộ Văn Hóa Thể Thao & Du Lịch được xếp hạng là di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia vào năm 1980.

Trung tâm sách kỷ luật Việt Nam đã công nhận là công trình có kiến trúc kết hợp phong cách nghệ thuật Ấn Độ và kiến trúc cổ dân tộc đầu tiên tại Việt Nam. Gần 30 sau (2009), thì sách Kỷ lục An Giang tiếp tục ghi nhận, tượng Bà Chúa Xứ là “pho tượng bằng đá sa thạch xưa nhất Việt Nam”, và “có áo phụng cúng nhiều nhất” trong những tượng thờ ở miền Tây.

Truyền thuyết Miếu Bà Chúa Xứ Châu Đốc

Ly kỳ những truyền thuyết về Miếu Bà Chúa Xứ

Có thể nói rằng, trong số những câu chuyện tâm linh, huyền bí chưa lời giải mã của vùng đất Thất Sơn thì Miếu Bà Chúa Xứ núi Sam là nơi lưu giữ nhất. Những câu chuyện này có thể không dài, nhưng sự huyền bí của nó có thể làm nhiều người kinh ngạc vì không hiểu lí do vì sao. Trong đó, chuyện Bà Chúa Xứ giúp Thoại Ngọc Hầu đào kênh Vĩnh Tế, tướng giặc Xiêm mất mạng và chuyện 9 cô gái đồng trinh dời tượng Bà xuống núi là một điển hình.

Bà Chúa Xứ giúp Thoại Ngọc Hầu đào kênh Vĩnh Tế

Đến nay, ngôi miếu ra đời vào thời gian nào vẫn còn là một dấu hỏi với nhiều người. Tuy nhiên, theo nhận định của một số nhà nghiên cứu thì Miếu Bà Chúa Xứ được nhân dân xây dựng vào khoảng đầu thế kỷ XVIII, thời vua Minh Mạng mà tiêu điểm là khi ông Thoại Ngọc Hầu vâng mệnh vua về trấn giữ vùng đất Tây Nam và đào con kênh Vĩnh Tế để nói Châu Đốc và Hà Tiên, đồng thời thông thoáng giao thông trong việc giao thương, mua bán. Cụ thể trong ghi chép nói rõ: …

“Năm 1816, khi đắp xong thành Châu Đốc, Trấn thủ trấn Vĩnh Thanh Lưu Phước Tường tâu lên vua Gia Long địa đồ miền đất mới. Xem xong, vua liền truyền: “Xứ này nếu mở đường thủy thông với Hà Tiên, thì hai đàng nông thương đều lợi. Trong tương lai, dân đến ở làng đông, đất mở càng rộng, sẽ thành một trấn to”. Không lâu sau, vua Gia Long hạ lệnh cho đào con kênh Vĩnh Tế để nối liền Hà Tiền và Châu Đốc. Người được triều đình Huế giao trọng trách đào con kênh vĩ đại này chính này là Thoại Ngọc Hầu.

Vâng lên vua, Thoại Ngọc Hầu cùng nhiều quan viên phụ trách bắt tay vào thực hiện. Sau khi hoàn thiện kế hoạch, công trình có chiều dài hơn 100km, rộng gần 50k chính thức khởi công vào ngày 15 tháng Chạp năm Kỷ Mão (1819). Hơn 80,000 nhân lực gồm người Việt, người Khmer và bộ phận người Chăm từ Campuchia theo chân tướng quân Lê Văn Đức về cư trú tại vùng đất Châu Đốc được điều động vào công trình này.

Thực hiện được một thời gian ngắn, khoảng độ được hai tháng thì liên tục gặp trục trặc. Nhiều người chết do tai nạn, bệnh tật hoặc bị thú dữ tấn công mà không có cách nào khắc phục được.

Thoại Ngọc Hầu rất lo lắng và tìm mọi cách để giải quyết. Đang lúc bối rối thì vợ ông, bà Châu Thị Vĩnh Tế được dân mách bảo là đến dâng lễ cầu xin Bà Chúa Xứ ở chân núi Sam phù hộ. Do đã nghe tiếng linh thiêng bà đã lâu, nên khi được dân mách bảo, bà Vĩnh Tế liền làm lễ, dâng hương đến miếu cúng bái, cầu xin. Quả thật, sau khi dâng lễ xong thì việc đào kênh trở nên thuận lợi và dễ dàng. Những người tham gia công trình đào kênh thấy vậy rất phấn khởi nên công trình được đẩy nhanh tiến độ.

Mặc dù công trình đào kênh vẫn chưa hoàn thiện, nhưng để tạ ơn công đức Bà. Vợ chồng bà Vĩnh Tế đã cho xây dựng lại ngôi miếu to và khang trang hơn và thường xuyên đến khấn vái cầu cho ông Thoại Ngọc Hầu đánh thắng giặc, bảo vệ yên bình cho nhân dân. Cũng từ đó, danh tiếng về sự linh thiêng của Bà Chúa Xứ được nhiều người truyền đi khắp nơi, khiến làm nhiều người ở xa nghe tin tìm đến cầu xin bà độ trì, ban phước.

Tướng giặc Xiêm mất mạng và câu chuyện 9 cô gái đồng trinh dời tượng Bà xuống núi

Chuyện kể, những năm 1820 – 1825, quân Xiêm thường xuyên quấy nhiễu nước ta, có lần chúng đuổi theo dân lên đỉnh núi Sam thì gặp tượng Bà. Nổi lòng tham, chúng muốn đem về nước nên ra sức khiêng tượng Bà xuống núi. Đi được một đoạn thì lạ thay tượng Bà nặng trĩu, không cách nào có thể nhấc lên được. Tức giận, một tên tướng rút đao chém gãy tay trái của bà, ngay lập tức hắn bị Bà trừng phạt, học máu chết ngay tại chỗ. Đám lính đứng xung quanh thấy vậy liền tái mặt, hoảng hồn bỏ chạy tán loạn, không một tên nào dám đứng lại. Kể từ đó, Bà thường hiện về tự xưng là Bà Chúa Xứ báo mộng cho dân và dạy dân cách lập miếu thờ để Bà phù hộ cho mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, tránh được giặc cướp, thoát khỏi dịch bệnh.

Trước đây, tượng Bà ngự trên đỉnh núi Sam, gần Pháo Đài. Trước sự linh ứng và mách bảo của Bà, người dân quyết định khiêng tượng Bà về đồng bằng để thờ cúng. Để di dời tượng bà, sau khi làm lễ cúng bái xong thì hơn 40 chàng trai lực lưỡng được điều vào khiêng tượng Bà xuống nhưng không cách nào nhấc lên được.

Đang lúc bối rối không biết làm sao hì có một cô gái “lên đồng” bảo rằng Bà chỉ cần 9 cô gái đồng trinh lên khiêng là được. Quả thật như vậy, khi chín cô gái đồng trinh đưa tay cùng nhất thì tượng Bà bỗng rất nhẹ. Khiêng một hồi lâu, đến chân núi thì tượng Bà bất ngờ nặng trịch, không thể khiêng một bước nào nữa. Lúc này các bậc cao niên nghĩ rằng Bà chọn nơi đây để an vị và lập miếu thờ cúng ngay tại chỗ.

Sau khi di dời tượng Bà xuống chân núi Sam, ngôi miếu hàng năm được nhân dân thờ cúng trang nghiêm và thường xuyên tu bổ, tôn tạo. Tuy nhiên, có một điều mà nhiều người vẫn không lý giải nổi là tượng bà từ đâu mà có. Ai đã đúc và đem đến đây. Do đó mà sự linh thiêng, huyền bí về Bà được nhiều người sợ hơn và thêu dệt lên bao câu chuyện.

Để tìm lời giải thích cho pho tượng thì năm 1941, một nhà khảo cổ học người Pháp tên Malleret đã đến nghiên cứu và cho rằng: “tượng Bà Chúa Xứ Núi Sam thuộc loại tượng thần Vishnu (nam thần), tạc dáng người nghĩ ngợi, quý phái, chất lượng bằng đá son, có giá trị nghệ thuật cao, được tạc vào cuối thế kỷ VI, và rất có thể đây một trong số hiện vật cổ của nền văn hóa Óc Eo”.

Bên cạnh công trình nghiên cứu của nhà khảo cổ học người Pháp, trong công trình “Sơ khảo Đồng Bằng sông Cửu Long nét sinh hoạt xưa”, cố nhà văn Sơn Nam cũng đưa ra nhận định: “tượng của Bà là pho tượng Phật đàn ông của người Khmer, bị bỏ quên lâu đời trên núi Sam. Người Việt đưa tượng vào miễu, điểm tô lại với nước sơn, trở thành đàn bà mặc áo lụa, đeo dây chuyền. Và từ đó “Bà Chúa Xứ” là vị thần có quyền thế lớn ở khu vực ấy, xứ ấy”.

Dựa trên cơ sở nghiên cứu của nhiều người đi trước, trong công trình nghiên cứu khoa học “Lịch sử khai phá vùng đất Châu Đốc” của ông Trần Văn Dũng cũng khẳng định: “Tượng Bà Chúa Xứ thực ra là tượng nam, ngồi ở tư thế hương giả, phần đầu của tượng hiện đang thờ tại miếu Bà không phải là nguyên gốc được chế sau bằng loại đá khác với thân tượng”.

Qua những nghiên cứu này thì có thể nói rằng, Tượng Bà Chúa Xứ đã có cách đây hơn 1.300 năm (lấy mốc thế kỷ VI của nhà khảo cổ học người Pháp), khi nền văn hóa Óc Eo còn thịnh vượng.

Trải qua khoảng thời gian hơn 200 năm mưa nắng với thời gian. Ngày nay, Miếu Bà Chúa Xứ không chỉ đóng vai tèo ý nghĩa tâm linh to lớn đối với người dân An Giang mà còn là chỗ dựa tâm linh vững chắc cho nhân dân trong khắp cả nước. Người hành hương đến viếng Bà bằng tất cả sự tôn kính để cầu mong cuộc sống được an yên, ấm no, hạnh phúc.

Lễ hội Bà Chúa Xứ: ý nghĩa, các hoạt động

Lễ “tắm Bà” được cử hành vào lúc 0 giờ đêm 23 rạng 24 tháng 4 âm lịch.

Lễ “thỉnh sắc” tức rước sắc và bài vị Thoại Ngọc Hầu cùng hai phu nhân từ Sơn lăng về miếu bà, được cử hành lúc 15 giờ chiều ngày 24.

Lễ túc yết và Lễ xây chầu: Lễ “túc yết” là lễ dâng lễ vật (lễ vật chính là con heo trắng) và tiến hành nghi thức cúng Bà, lúc 0 giờ khuya đêm 25 rạng 26. Ngay sau đó, là “Lễ xây chầu” mở đầu cho việc hát bộ (còn gọi là hát bội hay hát tuồng).

Lễ chánh tế được cử hành vào 4 giờ sáng ngày 27.

Lễ hồi sắc được cử hành lúc 16 giờ chiều cùng ngày, ngay sau khi Lễ chánh tế kết thúc. Đây là lễ đem sắc và bài vị Thoại Ngọc Hầu cùng hai phu nhân về lại Sơn lăng.

Hàng năm, cứ đến ngày 23 đến 27 tháng 4 âm lịch thì ban quản lý cùng chính quyền nơi đây tổ chức lễ hội Vía Bà Chúa Xứ rất trang trọng. Thời gian lễ hội diễn ra từ ngày 23 đến 27 tháng 4 âm lịch với 5 nghi thức lễ khác nhau để người dân đến kính viếng, xin xăm Bà, vay tiền Bà, thỉnh bùa Bà… về làm ăn. Cụ thể lễ hội vía Bà Chúa Xứ gồm các phần như sau:

Với nét tâm linh, tín ngưỡng đặc sắc của lễ hội vía Bà, năm 2005, lễ hội Vía Bà (lễ hội vía bà Chúa Xứ) được Bộ Văn Hóa Thể Thao & Du Lịch công nhận là di sản văn hóa phi vật thể.

Một chuyến tham quan tại Miếu Bà Chúa Xứ nếu bạn muốn dâng hương, dâng hoa, đốt tiền vàng mã, … cho bà thì nên chuẩn bị trước ở nhà, điểm lưu trú hoặc điểm dừng chân. Tuyệt đối, không mua những đồ này tại khu vực miếu bà. Điều này giúp bạn không phải lâm vào những trường hợp khó xử.

Tuyệt đối không những những vật mà mình không biết khi có người khác dúi vào tay.

Không trò chuyện với những người cứ nhìn chầm chầm vào mình hoặc bám theo mình nói những điều tâm linh.

Tư trang cá nhân như vàng, bạc, tiền và điện thoại là những thứ cần giữ gìn cẩn thận khi đến đây.

Khi vào Miếu Bà, tuyệt đối không suy nghĩ, nói lung tung. Điều này vô cùng quan trọng vì đó có nhiều người bị bà vặt vì những suy nghĩ và hành động không tốt.

Không sử dụng trang phục quá ngắn, nhạy cảm khi đi viếng bà.

Không quay phim, chụp ảnh hay tò mò đi vào những khu vực có bản cấm hoặc không có sự cho phép của ban quản lý.

Muốn xin lộc bà về làm ăn thì đến bên trái khu vực điện thờ bà để xin.

Xin bà những gì thì khi đạt được, nhất định phải trả lễ, không được thất hứa.

Lưu ý khi đi lễ Miếu Bà Chúa Xứ

Địa chỉ: Miếu Bà Chúa Xứ – phường Núi Sam – thành phố Châu Đốc – tỉnh An Giang.

Thời gian mở cửa: 6h00 – 20h00 hàng ngày.

Giá vé tham quan: miễn phí.

Địa chỉ, giá vé tham quan, giờ mở cửa Miếu Bà Chúa Xứ núi Sam

Bài Cúng Bà Chúa Xứ Châu Đốc

Truyền thuyết và các huyền thoại xung quanh tượng Bà và nguồn gốc của tượng Bà đến nay cũng ko rõ. Trong quá khứ, khi dân chúng được che chở dưới sự bảo hộ của Bà thì Bà hiện xưng là Bà Chúa Xứ (có nghĩa là Bà chủ Bà Chúa của nơi đất địa này). Cấu trúc tượng bà ko có tay chân hay khuôn mặt rõ ràng, toàn thân bà là hình khối đá nặng hơn 3 tấn, người dân khi Phụng Thỉnh Bà xuống núi và an vị đã vẽ thêm nét mặt của Bà. Do vậy toàn thân Bà được phủ trong áo bào của dân chúng phụng cúng, đầu đội mão, đôi mắt cùng ánh mắt long lanh có thần sống động, đôi khi với các tín đồ rất rất rất ư tin tưởng và phụng thờ, họ luôn cảm ứng về sự linh thiêng của Đức Bà. Riêng Cao Đài Giáo Lý phong bà hiệu là: Khiết Cửu Nương.

Miếu Bà Chúa Xứ là một công trình kiến trúc đẹp và tôn nghiêm, tọa lạc dưới chân núi Sam, thuộc phường Núi Sam, thị xã Châu Đốc, tỉnh An Giang. Đây là một di tích nổi tiếng ở khắp vùng Đồng bằng sông Cửu Long, hàng năm thu hút gần 2 triệu lượt người đến cúng bái, tham quan. Khách hành hương, du lịch đến từ khắp nơi trên cả nước, tạo nên một mùa lễ hội sôi nổi, đông đảo kéo dài suốt nhiều tháng.

Theo số liệu của Sở Văn hoá – Thể thao – Du lịch An Giang, nếu năm 1990 có khoảng 1 triệu du khách đến miếu Bà thì năm 2007 đã có trên 2,5 triệu lượt người đến. Sồ tiền khách thập phương hỷ cúng tại miếu mỗi năm lên đến hàng chục tỷ đồng. Nhiều dự án giao thông, trường học, trạm cấp nước phục vụ cho dân làng Vĩnh Tế đã được xây dựng từ nguồn tiền này. Năm 2001, lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam được chính thức công nhận là lễ hội quốc gia. Năm 2008, lễ hội được tổ chức với tên gọi Tuần lễ quốc gia Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam. Lễ hội chính thức khai mạc vào tối ngày 25-05 tại Trung tâm thương mại núi Sam. Lễ khai mạc đã thu hút khoảng 10.000 lượt khách trong nước và quốc tế đến tham dự. Dịp này, Trung tâm sách kỷ lục Việt Nam đã tiến hành nghi thức trao giấy xác nhận và cúp lưu niệm kỷ lục Việt Nam đối với “Ngôi miếu lớn nhất Việt Nam” và “Tượng bà bằng đá sa thạch xưa và lớn nhất Việt Nam” cho đại diện Ban quản trị lăng miếu núi Sam.

Hương tử con lễ bạc tâm thành, cúi đầu thành tâm kính lễ Bà Chúa Sứ.

cúi xin được phù hộ độ trì. Hương tử con là: Ngụ tại:….

Ngày hôm nay là Ngày….. Tháng….. Năm.

Con sắm sửa kim ngân, hương hoa, lễ vật chí thiết một lòng thành tâm dâng lễ, sám hối cầu xin phù hộ cho hương tử con được: gia quyến bình an, cầu tài đắc tài, cầu lộc đắc lộc, bách sự cầu được như ý. ……. (Muốn gì cầu xin) Hương tử con lễ bạc tâm thành, cúi đầu thành tâm kính lễ Bà Chúa Sứ, cúi xin được phù hộ độ trì.

Kinh nghiệm viếng Chùa Bà (Châu Đốc)

Tọa lạc dưới chân núi Sam ở thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang, miếu Bà Chúa Xứ từ lâu đã là điểm du lịch tâm linh nổi tiếng miền Tây, mỗi năm đón khoảng 2 triệu lượt khách hành hương. Thời điểm đông người viếng nhất là từ tháng 1 đến tháng 3 âm lịch. Đặc biệt trong tháng giêng, chùa lúc nào cũng tấp nập khách thập phương.

Tuy nhiên, khi đến những ngày này một điều quan tâm nhất của ban quản lý chùa Bà cũng như chính quyền sở tại là nạn lọc lừa, dụ, gạt và rồi móc túi du khách diễn ra nhan nhản.

– Lễ vật: Lễ vật cúng bà được đông đảo người đi hành hương là heo quay, từ đó xảy ra dịch vụ cho thuê heo quay mướn. Du khách đến đây, có thể thuê heo quay được tính bằng Kg, sau khi cúng vái xong thì chú heo quay ấy sẽ trở về vòng quay cho thuê người tiếp theo…liệu như thế bạn chứng tỏ lòng thành của mình hay chỉ là góp phần cho nạn cò heo quay lộng hành??. Do vậy, nếu bạn không thể mang heo quay từ nhà thì tốt nhất là không mua hoặc thuê heo quay tại chùa.

Nếu không mua trên đường đi thì nên vào các cửa hàng lớn xung quanh chùa và hỏi kỹ giá cả trước khi mua. Không nên mua nhang đèn từ những người bán lẻ đi theo mời mọc vì ngoài giá đắt hơn. Sau khi mua bạn còn phải tiếp tục “chịu đựng” những người đi theo chèo kéo mua vé số, xin tiền, gửi lộc…

– Ăn xin: Tình trạng ăn xin diễn ra rầm rộ khi ngày lễ diễn ra, đừng nên cho tiền ăn xin vào ngày này nếu như bạn muốn bị hàng chục người ăn xin khác vây bạn như thể bạn là một “ngôi sao”. Mặc khác, tình trạng giả bệnh, giả cụt chân, tay…được biến hóa một cách rất tài tình…lợi dụng tình trạng này mà móc túi, giật đồ diễn ra mà bạn không hay biết.

– Lộc “trời cho “: Bạn đang thẩn thần thành tâm viếng chùa, bỗng một người lạ đến đưa bạn một túi nhỏ trong đó đủ thứ những vật cúng hoặc một tờ giấy 500 đồng được xếp theo đủ kiểu dúi vào tay, túi áo…cho bạn, ngay lập tức hãy trả lại hoặc bỏ mà đi vào chùa nếu như bạn không muốn bị dính vào cảnh người dúi túi lộc đó cho bạn đi theo xin tiền “trả lễ”. Tuy là nói tùy hỷ, nhưng nếu bạn trả lộc ít thì bạn sẽ nhận lại ngay những lời lẽ thô tục.

– Giữ chặt ví tiền: Tháng giêng, miếu Bà Chúa Xứ lúc nào cũng đông khách hành hương. Khi vào khu vực chính điện của miếu, bạn phải hết sức cẩn thận với ví tiền của mình. Khi đi chùa, không nên mang theo nhiều tiền mặt, nếu để trong túi xách thì phải cài chặt và quay túi xách ra phía trước để tránh bị mất cắp.

– Chen lấn: Không thể tránh khỏi khi mà hàng trăm ngàn người đổ về chùa bà cùng lúc. Đây là cơ hội của bọn móc túi rinh tiền, điện thoại, nữ trang của bạn, do đó khi đã viếng bà những ngày này tuyệt đối không nên mang nữ trang trên người, điện thoại và ví tiền nên bỏ vào tùi quần có dây kéo cẩn thận và khó luồng tay vào được.

Lễ vật cúng Bà Chúa xứ núi Sam. Những điều cần biết khi bạn chuẩn bị đi viếng Bà Chúa xứ núi Sam

Gần đến ngày viếng bà chúa xứ núi Sam, một trong những lễ hội lớn được công nhận lễ hội văn hóa cấp quốc gia. Có đến đây, du khách mới có thể cảm nhận được sự tâm linh của đông đảo người dân dành cho bà chúa xứ núi Sam là như thế nào…

Lễ vật cúng Bà Chúa Xứ

– Trái cây – Hoa lay ơn – Nhang rồng phụng 5 tất – Đèn cầy – Gạo hủ – Muối hủ – Trà pha sẵn – Rượu nếp Hà Nội 420ml – Nước chai 500ml – Giấy cúng Bà Chúa Xứ – Bánh kẹo – Trầu cau – Chè – Xôi – Cháo trắng – Bộ Tam sên – Vịt luộc – Gà luộc – Heo quay con – Bánh bao

Bài Văn Khấn Bà Chúa Xứ Châu Đốc Ở Núi Sam Cập Nhật Mới Nhất

Tìm hiểu chung về bà chúa Xứ Châu Đốc

Châu Đốc được biết đến là một Thị Xã nhỏ cách chúng tôi khoảng 250km và cách TP. Long Xuyên khoảng 55km. Châu Đốc là một thị xã trực thuộc tỉnh An Giang, với chiều dài lịch sử gắn liền với những câu chuyện ly kỳ về Bà Chúa Xứ núi Sam. Nơi đây hàng năm thường có Lễ hội Bà Chúa Xứ vào khoảng tháng Tư âm lịch.

Tìm hiểu chung về miếu bà chúa Xứ

Miếu Bà Chúa Xứ Núi Sam có kiến trúc vô cùng độc đáo, tọa lạc trên vùng đất trũng phía tây bắc núi Sam.Với lưng miếu quay về vách núi, còn chính điện miếu nhìn ra con đường và cánh đồng làng.

Với kiến trúc có dạng chữ “quốc” ấn tượng và độc đáo, hình khối tháp dạng hoa sen nở, mái tam cấp ba tầng lầu, lợp ngói đại ống màu xanh, góc mái vút cao như mũi thuyền đang lướt sóng tạo nên một ngôi miếu được rất nhiều bạn bè trong nước và quốc tế mến mộ.

Ý nghĩa của lộc bà chúa xứ

Theo ý nghĩa tâm linh, người làm kinh doanh ở vùng sông nước miền Nam hầu như đều nghe tiếng Bà Chúa Xứ và sự linh thiêng của Bà, khi cho mọi nhà khắp nơi có cuộc sống no đủ, công việc hanh thông.

Đây là một lễ hội Vía Bà Chúa Xứ mang đậm văn hóa của người dân Nam Bộ nói riêng và của dân tộc nói chung. Ý nghĩa của lễ hội không chỉ là văn hóa tâm linh mà còn thể hiện niềm tự hào dân tộc.

Người ta cho rằng: Lộc của Bà Chúa Xứ có quyền lực linh thiêng cả trong ban phúc lẫn giáng họa cho con người như hai câu đối ở Miếu:

“Cầu tất ứng, thí tất linh, mộng trung chỉ thi Xiêm khả kính, Thanh khả mộ, ý ngoại nan lường”.

Dịch:

“Xin thì được, ban thì linh, báo trong giấc mông (Người) Xiêm sợ hãi, (Người) Hoa kính mộ, ý tứ khôn lường”.

Cách chuẩn bị lễ vật cúng khấn bà chúa xứ núi Sam đầy đủ, đúng chuẩn mà bạn nên biết

Việc chuẩn bị một số đồ lễ vật là một điều cần thiết và quan trọng mỗi khi bạn có ý định đến cúng bà chúa xứ Châu Đốc. Theo đó Gốm Sứ Bát Tràng News được biết những đồ lễ vật này cụ thể như sau:

Bài văn khấn bà chúa xứ Châu Đốc chi tiết và đúng chuẩn

Theo như Gốm Sứ Bát Tràng News được biết thì bài văn khấn bà chúa xứ Châu Đốc không quá phức tạp và cầu kỳ, các bạn có thể khấn theo bài văn khấn sau đây:

“Hương tử con lễ bạc thành tâm, cúi đầu thành tâm kính lễ Bà Chúa Sứ Cúi xin được phù hộ độ trì. Hương tử con là: Ngày hôm nay là Ngày………Tháng……………Năm Con sắm sửa kim ngân, hương hoa, lễ vật chí thiết một lòng thành tâm dâng lễ, sám hối cầu xin phù hộ cho hương tử con được gia quyến bình an, cầu tài đắc tài, cầu lộc đắc lộc, bách sự cầu được như ý ……. Hương tử con lễ bạc thâm thành, cúi đầu thành tâm kính lễ bà chúa xứ, cúi xin được phù hộ độ trì”.

Kinh nghiệm xin lộc (vay tiền) và cách sử dụng lộc Bà chúa Xứ Châu Đốc núi Sam

Khi bạn đi cúng và bắt đầu rước lộc về nhà thì bạn nhớ thỉnh lộc bà lên một cái dĩa, sau đó để 4 ly nước suối kế bên. Tiếp theo, Gốm Sứ Bát Tràng News khuyên bạn nên cầm từng ly lên khấn cúng nghinh bà về cư gia, cứ mỗi ly nước ta khấn xong ta chế 4 góc nhà.