Xu Hướng 1/2023 # Tín Ngưỡng Thờ Cúng Tổ Tiên # Top 7 View | Apim.edu.vn

Xu Hướng 1/2023 # Tín Ngưỡng Thờ Cúng Tổ Tiên # Top 7 View

Bạn đang xem bài viết Tín Ngưỡng Thờ Cúng Tổ Tiên được cập nhật mới nhất trên website Apim.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, phong tục thờ cúng tổ tiên hay còn gọi được gọi khái quát là Đạo Ông Bà là tục lệ thờ cúng những người đã chết, đặc biệt là tổ tiên, của nhiều dân tộc Châu Á và đặc biệt phát triển trong văn hóa Việt và văn hóa Trung Hoa. Đối với người Việt, Phong tục thờ cúng tổ tiên gần như trở thành một thứ tôn giáo; đa phần gia đình nào cũng có bàn thờ tổ tiên trong nhà, ít nhất là có treo di ảnh một cách trang trọng.Nhiều người Việt Nam, ngoài tôn giáo của mình thường có thờ cúng cả tổ tiên.Đối với người Việt, Phong tục thờ cúng tổ tiên gần như trở thành một thứ Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, không gia đình nào không có bàn thờ tổ tiên trong nhà, nhưng không phải là một tôn giáo mà là do lòng thành kính của người Việt đối với cha mẹ, ông bà, cụ kỵ. Đây là một tín ngưỡng rất quan trọng và gần như không thể thiếu trong phong tục Việt Nam.

Tang ma là việc đại sự cần phải tránh những điều sau để những điều xui xẻo khác sẽ không tiếp diễn:

Với những người bị chết đuối, khi cứu chữa kiêng để cha mẹ hay người thân thích đến gần vì nếu có mặt người thân thì chắc chắn vô phương cứu chữa.

Khi gặp người chết ngoài đường, kiêng đưa xác về nhà vì có âm khí sẽ không có lợi cho việc làm ăn, sinh sống của những người trong nhà.

Thân nhân người chết phải tổ chức tang lễ tại nơi chết hoặc dựng lán ngoài đồng để làm lễ. Người chết do tai nạn tàu xe, sông nước… thì phải cúng lễ trực tiếp nơi bị nạn.

Với những người treo cổ (tự tử hoặc do cưỡng sát) nếu phát hiện người đó đã chết hẳn, người ta sẽ dùng dao chém đứt sợi dây khi người đó còn treo lơ lửng chứ không cởi tháo sợi dây ra bởi theo tín ngưỡng dân gian, chỉ bằng cách chém đứt sợi dây, mối oan nghiệt mới dứt và gia đình người đó mới tránh được họa chết vì thắt cổ theo đuổi. Hay tốt nhất mời thầy chùa giỏi về cúng để lập đàn giải oan và nhốt vong tránh trường hợp vong bị quỷ sai về bắt người nhà.

Khi con cái mất trước cha mẹ thì cha mẹ kiêng đưa tang con vì con cái mất trước là nghịch cảnh, bất hiếu, gây nhiều đau thương. Cha mẹ có thể đau buồn mà ngất trên đường đi đưa ma, ảnh hưởng tính mạng nên phải làm vậy để vơi nỗi buồn, tránh trùng tang.

Khi chôn cất thì kiêng dùng quần áo hay đồ dùng của người còn sống cho người mất vì như vậy là người mất đã mang đi một phần của người sống, khiến người sống có thể bị ngớ ngẩn, hay quên. Đồng thời người sống cũng kiêng nằm giường thừa, mặc quần áo thừa, dùng đồ thừa của người chết để lại.

Khi khâm liệm, tránh để nước mắt rơi xuống vì con cháu sẽ làm ăn khó khăn và cũng tránh quỷ nhập tràng, vì vậy người khâm liệm không được khóc. Người chứng kiến dù thương xót người quá cố đến đâu cũng phải đứng xa một quãng để tránh nước mắt bị nhỏ vào thi hài.

Người dự đám tang chỉ mặc đồ đen trắng, tránh ăn mặc lố lăng, lòe loẹt, hở hang, không cười nói quá lớn, nô đùa gây ầm ĩ.

Con cháu phải canh giữ thi hài ngày đêm, tránh để chó, mèo hay vật nuôi di chuyển qua để tránh hiện tượng quỷ nhập tràng.

Ở những gia đình mà có người già mất, chập tối phải đóng cửa, kiêng trả lời nếu chưa nhận tiếng gọi người đứng ngoài cổng. Sở dĩ là do theo tín ngưỡng dân gian, người già mới mất còn quyến luyến con cháu, tối về gọi con cháu và sẽ bắt theo những ai lên tiếng hay đáp lại

Người già, phụ nữ có thai, trẻ em hoặc những ai bị chó dại cắn kiêng dự lễ khâm liệm, an táng và cải táng vì có thể bị nhiễm hơi lạnh từ thi thể người mất mà ốm bệnh. Những nhà có người già, trẻ nhỏ, phụ nữ có thai sống gần nhà gia đình có tang thì phải đặt lò than đốt vỏ bưởi và bồ kết để trừ uế khí.

Trong tục thờ cúng tổ tiên, người Việt coi trọng việc cúng giỗ hằng năm vào ngày mất (còn gọi là kỵ nhật) thường được tính theo âm lịch (hay còn gọi là ngày ta). Họ tin rằng đó là ngày con người đi vào cõi vĩnh hằng. Không chỉ ngày giỗ, việc cúng tổ tiên còn được thực hiện đều đặn vào các ngày mồng một (còn gọi là ngày sóc), ngày rằm (còn gọi là ngày vọng), và các dịp lễ Tết khác trong một năm như: Tết Nguyên Đán, Tết Hàn thực, Tết Trung thu, Tết Trùng cửu, Tết Trùng thập… Những khi trong nhà có việc quan trọng như dựng vợ gả chồng, sinh con, làm nhà, đi xa, thi cử… người Việt cũng dâng hương, làm lễ cúng tổ tiên để báo cáo và để cầu tổ tiên phù hộ, hay để tạ ơn khi công việc thành công. Bản chất việc thờ cúng tổ tiên của người Việt là từ niềm tin người sống cũng như người chết đều có sự liên hệ mật thiết và hỗ trợ nhau. Con cháu thì thăm hỏi, khấn cầu tiền nhân. Tổ tiên thì che chở, dẫn dắt hậu thế nên việc cúng giỗ là thực hiện mối giao lưu giữa cõi dương và cõi âm.

Đây là một lễ vô cùng quan trọng, bởi nhớ đến ông bà tổ tiên là đã thể hiện lòng thành kính với vong linh người đã khuất, không phụ thuộc vào việc làm giỗ lớn hay nhỏ. Chỉ với chén nước, quả trứng, nén hương cũng giữ được đạo hiếu.

Trong gia đình người Việt thường có một bàn thờ tổ tiên, ông bà (hay còn gọi ông Vải). Tuỳ theo từng nhà, cách trang trí và sắp đặt bàn thờ khác nhau. Biền, bàn thờ là nơi tưởng nhớ, là thế giới thu nhỏ của người đã khuất. Hai cây đèn tượng trưng cho mặt Trời, mặt Trăng, hương là tinh tú. Hai bát hương để đối xứng, phía sau 2 cây đèn thường có hai cành hoa cúc giấy, với nhiều bông nhỏ bao quanh bông lớn. Ở giữa có trục “vũ trụ” là khúc trầm hương dưới dạng khúc khuỷu, vươn lên trong bát hương. Nhiều gia đình đặt xen giữa đèn và hương là hai cái đĩa để đặt hoa quả lễ gọi là mâm ngũ quả (tuỳ mỗi miền có sự biến thiên các loại quả, nhưng mỗi loại quả đều có ý nghĩa của nó), phía trước bát hương để một bát nước trong, coi như nước thiêng. Hai cây mía đặt ở hai bên bàn thờ là để các cụ chống gậy về với con cháu, dẫn linh hồn tổ tiên từ trên trời về hạ giới…

Bàn thờ tổ tiên bao giờ cũng đặt tại nơi cao ráo, sạch sẽ và trang trọng nhất trong nhà (gian giữa đối với nhà một tầng, tầng trên cùng đối với nhà lầu). Trên bàn thờ thì bày biện đồ thờ cúng như: bát hương, chân đèn, bài vị hay hình ảnh người quá cố, chỗ thắp nến. Đồ cúng cơ bản không thể thiếu hương, hoa, chén nước lã. Ngoài ra có thể có thêm mâm cỗ mặn. Sau khi tàn hai phần ba tuần hương, thì có thể hạ lễ. Theo đạo Phật, con cháu nhớ tới ngày húy kỵ của người đã khuất mà cúng chay thì ông bà càng hưởng nhiều phước lộc, không bị đọa đày địa ngục, chóng được siêu thoát, ngược lại con cháu cậy có nhiều tiền của giết nhiều súc sanh cúng cùng tiền vàng quần áo giả thì ông bà càng đọa chìm trong địa ngục, mà con cháu không biết, cứ nghĩ là mình cúng ông bà mình nhiều quần áo, ô tô, tiền vàng là ông bà mình sung sướng lắm.

Chiếc rương thật lớn, cao khoảng 1m, dài và rộng 2m. Mặt trước gồm ba ô, mỗi ô khắc một chữ đại tự (大佀). Đôi khi, chiếc rương được thay bằng chiếc bàn to, kê trên 2 chiếc mễ (1m).

Có 2 chiếc mâm đặt phía trong bàn thờ. Mâm to đựng cỗ, mâm bé bày hương hoa trong ngày giỗ. Chiếc thứ 2 phải bé hơn chiếc thứ 1.

Có một chiếc thần chủ đặt trong khám thờ kê trên chiếc bệ. Có thể thay thế bằng chiếc ngai (chiếc ỷ) để tổ tiên thuộc hàng cao có thể kiểm soát con cháu thờ cúng.

Trước thần chủ thường có đĩa đựng trầu cau, 3 chén (ly) nước lã trong, chén (hoặc bình) rượu nhỏ, đĩa đồng hoặc sứ đặt 2 bên để đặt hoa quả, thức ăn để thờ…

Bên trong đặt bài vị của tổ tiên bằng sứ, có thể thay thế bằng ảnh chân dung người mất được treo lên tường sau hoặc đặt trên mặt bàn thờ.

Hương án thật cao

Bình hương lớn bằng sứ hoặc đồng, trong đó có để cát hoặc tro ở trong, ở giữa cắm trụ sắt cao để đặt hương vòng.

Hai bên có 2 cây đèn, bật khi cúng lễ

Hai cây đồng để thắp nến, có thể thay thế bằng hai con hạc đồng. Đồng có thể thay bằng sứ.

Có thể trang trí thêm đồ vật như hoành phi, câu đối… vào chính giữa bàn thờ hoặc hai bên.

Việc thắp hương trên bàn thờ bao giờ cũng phải thắp theo số lẻ: 1, 3, 5, 7, 9, 11,… mà tránh thắp số chẵn như 2, 4, 6, 8, 10,… Người ta quan niệm rằng, số lẻ là dương nên nó phù hợp hơn với tổ tiên (người dương thắp cho người âm). Loại hương thẳng gồm 2 phần: chân hương màu hồng đỏ, bụi hương thơm. Có một loại hương vòng bao gồm nhiều vòng hương, có buộc dây, được đặt trên que sắt trong bình hương. Khi thắp hương, người ta phải để hương sao cho thật thẳng, tránh để hương bị nghiêng, méo hay siêu đổ khiến đốm lửa giữa các nén hương không đều nhau, làm hương bị tắt lửa, hương tàn xuống có thể gây cháy những đồ lễ vật trên bàn thờ hoặc gây hỏa hoạn.

Khi thắp hương, nếu thắp 3 nén thì sau khi cắm nén thứ nhất(gọi là nén tâm), thì cắm nén thứ 2 bên tay trái(tức bên phải từ trong nhà nhìn ra, rồi cắm tiếp nén thứ 3 bên tay phải.

Người Việt thường cúng Gia tiên vào ngày Sóc – Vọng ( Sóc là ngày Mồng Một, Vọng là ngày Rằm hàng tháng), lễ Tết, giỗ hoặc bất kỳ lúc nào cần được gia tiên phù hộ như: sinh con, đẻ cái, kết hôn, làm nhà, lập nghiệp, có trục trặc về sức khỏe. Đây là cách để thể hiện đạo lý Uống nước nhớ nguồn.

Bàn thờ vọng là một loại bàn thờ mà những người sống ở xa quê, ít có điều kiện về nhà con trai trưởng dịp giỗ Tết lập nên. Ngày xưa, bàn thờ vọng chưa phải là phong tục chủ yếu bởi đa số người ta đều sống và sinh cơ lập nghiệp ngay tại quê hương, chỉ có một số trường hợp đặc biệt gọi là biệt quán, li hương.

Đến thời phong kiến, các quan trong triều đình tập trung vọng bái thiên tử tức vái lạy từ xa. Những người ở nơi biên ải cũng lập hương án hướng về phía kinh đô để làm lễ khi nghe tin vua chúa mất mà chưa đến dự đám tang được. Những người làm quan cũng lập một hương án hướng về quê hương để làm lễ khi nghe tin có người thân mất mà chưa kịp về chịu tang. Sau đó, họ cáo quan xin về cư tang 3 năm. Kể từ đó, bàn thờ vọng được hình thành, chỉ có những người sống xa quê mới lập bàn thờ vọng. Những người ở gần quê, dù giàu hay nghèo cũng phái về nhà người con trai trưởng hoặc trưởng họ làm lễ trong dịp giỗ Tết, chú hoặc ông chú vẫn phải đền nhà cửa trưởng làm lễ dù cửa trưởng chỉ thuộc hàng thấp như cháu, chắt… Do đó, không có tục lập bàn thờ vọng đối với đời thứ ba ngay tại quê. Nếu người con trưởng mất hoặc sống xa quê, người con thứ kế tiếp con trưởng được lập bàn thờ chính, còn bàn thờ tại nhà con trưởng là bàn thờ vọng.

Trước khi lập bàn thờ vọng, chủ nhà phải về quê để báo cáo với tổ tiên tại bàn thờ chính, xin phép chuyển một vài lư hương phụ hoặc một vài nén hương đang cháy giở,hoăc xin một chút tro cát trong bat nhang gia tien,cha me mà mới mât vài nam thì cũng xin tro cát trân nhang,và gói thành tưng gói rieng và ghi tên vao ko lộn và mang đến bàn thờ vọng để thắp tiếp. Nếu có phòng riêng, để bàn thờ đặt ở một phòng riêng biệt để tăng vẻ tôn nghiêm. Nếu không có phòng riêng thì đặt kết hợp phòng khách, phải đặt cao hơn chỗ tiếp khách. Bàn thờ đặt hướng về quê chính để gia chủ vái lạy thuận hướng về quê chính. Không nên đặt tại những chỗ uế tạp, cạnh lối đi, trừ trường hợp nhà quá hẹp. Những người mà sống trong khu tập thể thì chỉ đặt một lọ cắm hương đầu giường nằm của mình cũng đủ, miễn là có lòng thành kính, chẳng cần phải câu nệ hướng nào, cao thấp rộng hẹp ra sao.

Bà cô ông mãnh là từ mà dân gian dùng cho những người chết trẻ, chưa lập gia đình. Người ta cho rằng vì chết trẻ nên bà cô ông mãnh rất linh thiêng. Nếu cảm thấy “hợp” người thân nào thì sẽ phù hộ độ trì rất nhiều. Nếu thờ cúng bà cô ông mãnh không đến nơi đến chốn sẽ bị quở phạt. Bà cô ông mãnh lẽ ra cũng nên được thờ cúng với tổ tiên, nhưng dân gian quan niệm rằng bà cô ông mãnh tuổi thấp nên chưa thể hưởng hương hoa cùng các cụ đời trước được. Giống như trên cõi dương gian, trẻ con chỉ ngồi riêng một mâm khi ăn giỗ nên bà cô ông mãnh cũng được thờ riêng 1 bàn thờ.

Bàn thờ bà cô ông mãnh được đặt dưới gầm hương án bàn thờ tổ tiên. Cũng có thể đặt cùng trên bàn thờ tổ tiên nhưng bát nhang phải thấp hơn thờ gia tiên 1 bậc. Cũng có thể lập riêng bàn thờ nhưng phải thấp hơn bàn thờ tổ tiên. Bài trí bàn thờ bà cô ông mãnh rất đơn giản, sơ sài. Chỉ đặt bài vị (hoặc ảnh), bát nhang, chén nước, bình hoa, đôi đèn… Người ta cúng vào ngày sóc vọng, ngày kỵ, giỗ Tết giống thờ tổ tiên.

Nếu người cúng ngang hàng với bà cô ông mãnh thì chỉ lâm râm khấn mà không cần lễ-nhưng nếu lại thuộc hàng dưới thì phải khấn và lễ. Khi gia đình gặp chuyện về sức khỏe, vật chất… người ta cúng bà cô ông mãnh để được phù hộ độ trì cho mọi sự được hanh thông và tốt hơn.

Những người mới mất chưa được thờ chung với tổ tiên mà được lập một bàn thờ riêng tại gian thờ hoặc gian nhà ngang. Được bài trí tương đối sơ sài: một bát nhang, bài vị (hoặc ảnh), lọ hoa, chén nước, ngọn đèn… Trong vòng 100 ngày (tính từ ngày an táng xong), người ta đều thắp hương cơm canh trước khi gia đình ăn cơm, mời người mới mất thụ hưởng. Lúc này, linh hồn người chết còn quyến luyến người thân, “hồn vía còn nặng” chưa thể siêu thoát được, vẫn còn luẩn quẩn xung quanh nhà. Những người sống không muốn tin vào sự thật là họ vừa mới mất đi một người thân, làm vậy để dịu nỗi buồn. Nhưng có nơi chỉ cúng 49 ngày (tức lễ chung thất).

Sau 3 năm khi người mới mất được bốc mộ bát nhang người mới mất sẽ được rước lên bàn thờ tổ tiên(phong tục của người miền bắc (ninh bình). Sau lễ trừ phục (còn gọi là đàm tế) bàn thờ người mới mất sẽ được loại bỏ cùng những đồ thờ riêng, đưa ảnh chân dung và bát nhang lên bàn thờ tổ tiên, đặt hàng dưới. Trường hợp không có bàn thờ tổ tiên thì sẽ vẫn giữ lại như cũ, chỉ cần yết cáo tổ tiên lên bàn thờ tổ.

Vì kính trọng tổ tiên, người Việt coi việc tang ma là trọng sự, gắn liền với việc thờ cúng tổ tiên. Người ta thường nhớ ngày người chết để làm giỗ. Sau ngày người mất tròn một năm (tính theo ) thì bát nhang sẽ được đặt lên bàn thờ tổ tiên để thờ chung với tổ tiên.

Lễ hội Samhain vào đầu tháng 11 của người Celt ( Ireland, Scotland…) là ngày dân chúng tưởng nhớ những người thân đã chết (ngoài việc ăn mừng sự gặt hái đã xong). Trong dịp này thức ăn được để ngoài cửa cho người chết và đèn được thắp sáng trong đêm (như đêm Giáng sinh).

Tín Ngưỡng Thờ Cúng Tổ Tiên Của Người Việt

Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt. Bài tập nhóm Đại cương văn hóa Việt Nam 8 điểm.

Phong tục thờ cúng tổ tiên của người Việt có từ rất lâu đời. Đó là một phong tục đẹp, giàu bản sắc, có tính chất giáo dục truyền thống cho các thế hệ. Tự bản thân phong tục thờ cúng tổ tiên đã mang trong nó những giá trị văn hoá nhân bản. Cùng với thờ cúng tổ tiên thì thờ “thành hoàng làng” và thờ “vua hùng” cũng là những phong tục lâu đời của người Việt nam ta. Trong khuân khổ bài viết này, nhóm chúng em sẽ làm rõ những phong tục này qua đề tài:” Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt? Ý nghĩa của việc thờ “thành hoàng làng” và thờ “vua hùng”?

Tín ngưỡng là hệ thống các niềm tin mà con người tin vào để giải thích thế giới và để mang lại sự bình an cho cá nhân và cộng đồng. Tín ngưỡng đôi khi được hiểu là tôn giáo. Điểm khác biệt giữa tín ngưỡng và tôn giáo ở chỗ, tín ngưỡng mang tính dân tộc nhiều hơn tôn giáo, tín ngưỡng có tổ chức không chặt chẽ như tôn giáo. Khi nói đến tín ngưỡng người ta thường nói đến tín ngưỡng của một dân tộc hay một số dân tộc có một số đặc điểm chung còn tôn giáo thì không mang tính dân tộc. Tín ngưỡng không có một hệ thống điều hành và tổ chức như tôn giáo, nếu có thì hệ thống đó cũng lẻ tẻ và rời rạc. Tín ngưỡng nếu phát triển đến một mức độ nào đó thì có thể thành tôn giáo

Tổ tiên theo quan niệm của người Việt Nam, trước hết là những người cùng huyết thống, như cha, mẹ, ông, bà, cụ, kỵ v.v… là người đã sinh ra mình. Tổ tiên cũng là những người có công tạo dựng nên cuộc sống hiện tại như các vị “Thành hoàng làng” các “Nghệ tổ”. Không chỉ thế, tổ tiên còn là những người có công bảo vệ làng xóm, quê hương, đất nước khỏi nạn ngoại xâm như Trần Hưng Đạo đã thành “Cha” được tổ chức cúng, giỗ vào tháng 8 âm lịch hàng năm. “Tháng 8 giỗ cha” ở rất nhiều nơi trong cộng đồng người Việt. Ngay cả “Thành hoàng” của nhiều làng cũng không phải là người đã có công tạo dựng nên làng, mà có khi là người có công, có đức với nước được các cụ xa xưa tôn thờ làm “thành hoàng”. Tổ tiên trong tín ngưỡng của người Việt Nam còn là “Mẹ Âu Cơ”, còn là “Vua Hùng”, là người sinh ra các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam.

Tín Ngưỡng Thờ Cúng Tổ Tiên Có Từ Khi Nào?

Việt Nam là một dân tộc giàu tình cảm, trọng lễ nghĩa, sống hướng nội, thường giải quyết các vấn đề theo cảm tính hơn lý trí. Truyền thống “uống nước nhớ nguồn” là một trong những đức tính đáng trân trọng của dân tộc Việt.

Người Việt có khuynh hướng nhìn lại quá khứ và nuối tiếc dĩ vãng nhiều hơn hướng đến tương lai như người phương Tây. Vì thế người Việt thường lưu giữ mãi những tình cảm thương tiếc đối với ông bà cha mẹ quá cố. Tập tục thờ cúng tổ tiên của người Việt ra đời trên căn bản này và được đa số người Việt xem gần như một tôn giáo, gọi là đạo Thờ cúng Ông Bà.

Thờ cúng tổ tiên có từ khi nào?

Người ta không thể xác định được tập tục thờ cúng tổ tiên của người Việt bắt đầu xuất hiện từ lúc nào. Nhưng tục lệ này đã được duy trì và truyền đời trải qua nhiều thế hệ tiếp nối nhau. Tập tục thờ cúng tổ tiên của người Việt có thể xuất phát từ hai nguồn gốc: Tô-tem giáo và Nho giáo.

Tập tục thờ cúng tổ tiên của người Việt xuất phát từ ý muốn thực hiện lời dạy của Khổng Tử, lấy chữ “hiếu” làm đầu, nhưng lại bị biến hóa thành hủ tục rườm rà, phiền toái đánh mất đi sự giản dị và trong sáng của việc thể hiện chữ “hiếu”.

Khổng Tử viết: “Kính kỳ sở tôn, ái kỳ sở thân, sự tử như sự sinh, sự vong như sự tồn, hiếu chi giã”.

Nghĩa là: Kính những người cha mẹ đã tôn trọng, yêu những người cha mẹ đã yêu mến, thờ cha mẹ lúc đã chết như khi đang còn sống, lúc mất rồi cũng như lúc còn sống, ấy là hiếu đến rất mực vậy (Trung dung).

Người Việt đã hiểu sai nghĩa câu “Sự tự như sự sinh, sự vong như sự tồn” mà xem tổ tiên, ông bà cha mẹ như những người sống có thể xác vật lý thực sự, lại còn thần thánh hóa ông bà cha mẹ mình để mong cầu sự độ trì!

Khổng Giáo không nói xem người chết như người sống theo nghĩa đen, có nghĩa là họ cũng cần ăn, cần uống và cũng có nhu cầu sinh hoạt như người sống! Chữ “Thờ cha mẹ” trong Khổng Giáo chỉ có ý nghĩa: Yêu và Kính. Nếu chúng ta có yêu và kính cha mẹ chúng ta, từ đó chúng ta cũng sẽ phải yêu mến và tôn trọng những người cha mẹ chúng ta đã yêu mến và tôn trọng, cho dù cha mẹ chúng ta đã không còn hiện diện trên thế gian nữa. Đấy mới là ý nghĩa thực của “Sự tử như sự sinh, sự vong như sự tồn”. Ấy mới thật sự là hiếu!

Bản tính người dân Việt vốn thật thà, chất phác, vì thế niềm tin của người Việt cũng đơn sơ và mộc mạc. Họ lưu giữ hình ảnh và ký ức của những người thân quá cố qua việc lập ra cái bàn thờ tổ tiên trong mỗi gia đình, vì họ tin rằng người sống và người chết đều có những nhu cầu sinh hoạt như nhau, người sống cần nhà ở, thì người chết cũng cần một nơi cho linh hồn nương náu. Bàn thờ tổ tiên chiếm ngự tại một nơi trang trọng nhất trong ngôi nhà của mỗi gia đình người Việt và được người Việt xem như một nơi linh thiêng, không thể thiếu vắng trong gia đình, bàn thờ tổ tiên cũng là nơi để người sống duy trì mối liên lạc với những người thân quá cố.

Đối với người Việt, người chết vẫn được người sống dành cho những đặc quyền như khi còn sống. Vào những ngày lễ trọng đại trong năm như ngày đầu năm mới (Tết), ngày sinh, ngày mất (gọi là kỵ nhật), v.v. hoặc mỗi khi trong gia đình có những sự việc trọng đại, người Việt đều không quên việc thắp vài nén hương gọi là cho ấm bàn thờ tổ tiên. Như trong việc cưới xin, khi con dâu mới, hoặc con rể mới đến nhập gia, đều phải đến trước bàn thờ làm lễ Gia tiên để ra mắt tổ tiên. Lễ Gia tiên là một thủ tục bắt buộc phải có trong những đám cưới, gả của hầu hết những gia đình người Việt.

Ý nghĩa của việc thờ cúng tổ tiên

Tập tục thờ cúng tổ tiên thể hiện được tính nhân văn của dân tộc Việt, những người đã khuất không bị lãng quên trong tâm tưởng của những người còn lại, chứng tỏ dân tộc Việt là một dân tộc đặc biệt mang trong máu một thứ tình cảm không thể tìm thấy ở các dân tộc châu Âu.

Tập tục thờ cúng tổ tiên của người Việt cũng còn có mặt ưu là duy trì được tình thân trong quan hệ thân tộc. Những ngày lễ, ngày Tết hoặc ngày kỷ niệm một người thân qua đời, là những dịp để con cháu ở các nơi khác hội tụ lại, cùng nhau gặp gỡ hàn huyên để kết chặt mối thâm tình, đồng thời thăm nom an ủi ông bà cha mẹ, nếu như họ còn sống. Đây là một việc làm thiết thực và cao quý nhất trong việc thể hiện chữ hiếu của một dân tộc giàu tình cảm như người Việt.

Trong quan niệm dân gian Việt Nam, qua việc thờ cúng tổ tiên, giới vộ hình và giới hữu hình luôn luôn như có một sự liên lạc mật thiết. Sự thờ cúng chính là môi trường gặp gỡ của thế giới hữu hình và vũ trụ thần linh.

Thế nhưng, tục ta lại tin rằng dương sao âm vậy, người sống cần gì, sống làm sao thì người chết cũng như vậy và cũng có một cuộc “SỐNG” ở cõi âm như cuộc của người trên dương thế, nói khác đi, người chết cũng cần ăn, uống, tiêu pha, nhà ở như người sống.

Tin như vậy, việc cúng lễ là cần thiết, và việc thờ cúng tổ tiên không thể không có được. Tục ta lại còn tin rằng vong hồn người khuất thường luôn ngự trên bàn thờ để gần gũi con cháu, theo dõi con cháu trong công việc hàng ngày và giúp đỡ con cháu trong từng trường hợp cần thiết.

Sự tin tưởng vào vong hồn ông bà cha mẹ ngự trên ban thờ, có ảnh hưởng nhiều đến hành động của người sống. Nhiều người vì sợ vong hồn cha mẹ buồn đã tránh những hành vi xấu xa, và đôi khi định làm một công việc gì cũng suy tính kỹ lưỡng, xem công việc lúc sinh thời cha mẹ có chấp nhận hay không. Người ta sợ làm cho vong hồn cha mẹ phải tủi hổ qua hành động của mình và mang tội bất hiếu.

Tập tục thờ cúng tổ tiên của người Việt là một loại hình tín ngưỡng dân gian đậm tính nhân bản, tuy có mặt tích cực về phương diện đạo đức làm người và là một truyền thống văn hóa tốt đẹp của người Việt, nhưng ngược lại cũng bộc lộ sự mê tín, huyễn hoặc, khi tin rằng tổ tiên đã chết có quyền lực che chở phù hộ cho con cháu. Tập tục này cũng gây nhiều khó khăn và hao phí tiền của, công sức của con cháu. Vì trong thực tế, trong một xã hội văn minh như hiện nay, ai ai cũng đều hiểu người chết không thể về ăn những mâm cỗ cúng của con cháu. Làm giỗ cũng có khi chỉ là để “trả nợ miệng” cho nhau và cũng để không bị miệng đời đàm tiếu cho rằng con cháu bất hiếu để cho ông bà tổ tiên phải đói lạnh!

Tín Ngưỡng Thờ Tổ Tiên Ông Bà Ở Quảng Nam

Cũng như cư dân trên mọi miền đất nước, người dân đất Quảng tin tưởng sâu sắc vào sự hộ trì của tổ tiên trong cuộc sống. Việc phụng thờ tổ tiên được xem là một hoạt động sống, gắn kết mật thiết với sự tồn tại và phát triển của các thế hệ người sống. Các hoạt động bày tỏ niềm tin một mặt thể hiện sự kính tín của con cháu đối với tổ tiên, mặt khác, biểu thị tinh thần tập hợp, gắn kết bền chặt con cháu trong gia đình, dòng tộc, làng xóm.

Do điều kiện lịch sử – xã hội nên người Việt đất Quảng có quan niệm khá rộng về tổ tiên. Theo đó, có tổ tiên của gia đình/ dòng tộc và có tổ tiên chung của cả làng. Tổ tiên của gia đình/ dòng tộc được gọi là Ông Bà; tổ tiên của làng chính là tổ tiên các dòng họ, được gọi là tiền hiền và hậu hiền. Việc thờ tổ “hai cấp” nhà và làng, được truyền lưu, tiềm nhập vào đời sống của cá nhân và cộng đồng, đã có tác động to lớn đến việc gìn giữ và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp, như: lòng hiếu thảo, tình cảm hướng về cội nguồn, tinh thần đoàn kết, tương thân và đạo lý biết ơn trong cuộc sống hiện đại ngày nay. Bài viết này phác họa tín ngưỡng thờ tổ tiên của người Việt đất Quảng, mà trọng tâm là những nghi lễ, phong tục tiêu biểu, với tư cách là những sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng của gia đình – dòng họ – làng xóm. Qua đó, góp phần khẳng định giá trị cốt lõi của tín ngưỡng tổ tiên ở Quảng Nam – Đà Nẵng hiện nay.

I. THỜ TỔ TIÊN TRONG GIA ĐÌNH – GIA TỘC Mỗi gia đình người Việt đất Quảng luôn gắn mình với gia tộc. Người ta có ý thức rất rõ nhà mình thuộc chi nào, phái nào trong mối liên hệ thờ phụng tổ tiên. Các trưởng chi, trưởng phái hàng năm tổ chức cúng giỗ. Việc tham gia và góp giỗ phân đến từng gia đình. Mỗi gia đình cử đại diện tham gia ngày cúng tổ của chi, phái mình. Ở phạm vi gia đình, dân đất Quảng gọi thờ tổ tiên là thờ ông bà. Cách nói này phản ánh sự phân cấp trong thờ phụng. Trong gia đình, bàn thờ ông bà thường thờ ba đối tượng: ông bà cố, ông bà, cha mẹ. Dù là nhà giàu hay nghèo thì nhà nào cũng có bàn thờ tổ tiên, đặt ở gian chính của nhà. Trên bàn thờ phổ biến có đồ tam sự. Chính giữa bàn thờ là Giá kỉnh. Đó là một khung ảnh bằng gỗ, có đế chân, mặt kính, bên trong thường cẩn chữ “Phước” (chữ Hán), có ý nghĩa như bài vị. Có một bộ phận khá đông người dân đất Quảng theo đạo Phật. Họ thờ Phật Bà Quan Âm tại gia. Với những gia đình này thì bàn thờ Phật được đặt cao hơn bàn thờ ông bà. Tượng Phật đặt trong tủ kính; chuông và mõ niệm Phật đặt hai bên bát hương của bàn thờ ông bà. Ngoài ra, còn có một bộ phận nữ giới là các bà, các chị tin vào sự độ mạng của Bà Cửu Thiên Huyền Nữ, nên cũng lập bàn thờ Bà Cửu Thiên bên phải bàn thờ ông bà. Nhà nào có cô, bác, chú chết mất xác, thì gia đình xây khám thờ ở ngoài sân, mặt khám quay vào trong nhà. Người dân đất Quảng quan niệm: “Giàu út ăn, khó út chịu”. Con trai út trong gia đình là người ở cùng bố mẹ, sướng hay khổ còn tùy thuộc vào của cải cha mẹ để lại. Bù lại, con trai út cũng được thờ cúng ông bà. Do đó, ở Quảng Nam – Đà Nẵng, việc thờ cúng ông bà của nhiều nhà do người con út đảm nhiệm. Việc thờ phụng ông bà diễn ra quanh năm, trong đó có những ngày chính như: cúng vào ngày 14 và ngày 30 âm lịch hàng tháng (người dân đất Quảng cho rằng, ngày 1 và ngày 15 hàng tháng là ngày mọi người đi chùa lễ Phật, mà cũng là ngày ông bà “lên chùa”, nên phải cúng ông bà vào ngày trước đó); các sự kiện trong gia đình, như cưới hỏi, thi cử học hành, làm ăn; Tết Đoan ngọ, Tết Nguyên đán, và ngày giỗ. Trừ dịp lễ tết, cúng giỗ, thức cúng dâng ông bà phải nhiều hơn, còn các dịp khác thì thức cúng đơn giản. Tuy nhiên, những món cúng cổ truyền thì không bao giờ thiếu, như: cơm, canh, xôi chè, bánh tráng, bánh tổ, trầu rượu… Cách bài trí, sắp đặt trên bàn thờ phải theo đúng tục xưa: có bình bông (phải là bông cúc vạn thọ vàng) và nải quả (gồm ngũ quả, trong đó không thể thiếu nải chuối xanh), sắp bày theo nguyên tắc “Đông bình, Tây quả”; trầu rượu; 12 cặp vàng bạc hàng mã trải trước bát hương. Vào ngày Tết Đoan ngọ, trên bàn thờ ông bà có thêm vài dĩa bánh ú lá tro; lễ Vu Lan thì có chè, xôi để ông bà hâm hưởng. Cúng ông bà trong lễ Tết Nguyên đán là một lễ trọng của gia đình. Theo phong tục, cứ hết năm, nhà nào cũng tiến hành thay cát lư hương trên bàn thờ ông bà. Khoảng giữa tháng chạp, nhà nhà đi chợ mua cát trắng về đãi sạch, phơi khô. Sau ngày cúng tất niên, trừ ngày Dần, các ngày còn lại đều là ngày tốt, gia chủ thắp hương khấn vái ông bà, xin phép được thay cát chân hương trên bàn thờ. Một lớp cát mỏng được lót xuống đáy bát hương, trên lớp cát đó là 3 lá trầu và 1 trái cau (để ông bà ban lộc), cuối cùng là lớp cát phủ kín. Trên bàn thờ ông bà, gia chủ bày hoa quả, trầu rượu, bánh chưng, bánh tét, bánh tổ…, đồ mã (quần áo, mũ nón, giấy tiền vàng bạc). Ngày 29 hoặc 30 tết, gia đình làm mâm cơm rước ông bà về ăn tết; đến ngày mùng làm lễ hóa vàng cùng mâm cơm đưa tiễn ông bà. Trong phạm vi gia tộc, nhà thờ tộc là nơi gắn kết các thành viên của tộc họ. Hầu như nhà thờ tộc nào cũng có một gia phả, được người dân gọi là “cây phổ hệ”. Có nhà thờ tộc chung và có cả nhà thờ tộc riêng của từng chi phái. Một số nhà thờ tộc vẫn giữ được nét kiến trúc cổ cùng với các bức hoàng phi, liễn đối. Tuổi đời của những nhà thờ này khoảng gần 200 năm. Việc thờ tổ tiên trong tộc họ của cư dân đất Quảng theo nguyên tắc: “chín đời hơn người dưng”. Bên cạnh đó, quan niệm về tổ tiên của dòng họ cũng rất rộng rãi và sâu sắc. Chẳng hạn, người tộc Lê ở đây luôn tự hào mình là con cháu nhà Lê…Điều này cho thấy sự liên hệ thường trực với cội nguồn đất Tổ đã ăn sâu vào tâm thức người dân đất Quảng. Chúng ta còn thấy rõ điều này khi tìm hiểu những tộc họ có ông tổ là Tiền hiền hoặc Hậu hiền của làng. Trong trường hợp này, con cháu gia tộc vừa tự hào vì được quỳ thần bái xã, vừa hãnh diện vì tổ tiên của mình có gốc gác từ vùng đất Tổ, đã có công đi mở cõi, trấn nhậm một vùng, lập nên làng xã. Các lễ trọng tổ chức ở nhà thờ tộc là lễ giỗ tổ tiên và lễ tiết Thanh Minh. Vào ngày này, đại diện các chi phái phải có mặt và góp giỗ. Con cháu làm ăn xa cũng phải cố về. Đến tiết Thanh Minh, trưởng tộc cùng các chi phái trưởng làm lễ tại nhà thờ, sau đó ra nghĩa trang gia tộc dọn dẹp, rẫy mả và hóa vàng cho ông bà/ tổ tiên. Lễ giỗ ông bà của các nhà thờ tộc ở đất Quảng tổ chức trong hai ngày: Ngày đầu là ngày chuẩn bị, gọi là ngày chưng thường, hay tiên thường; ngày hôm sau là lễ chánh kỵ. Món cúng có đủ cả món chay lẫn mặn, trong đó không thể thiếu đầu heo phủ mỡ chài và một con heo quay. Lễ chánh kỵ tổ chức vào buổi sáng. Trước khi hành lễ, gia tộc phải làm lễ cúng thần hoàng bổn xứ, cô hồn, người khuất mặt, chiến sĩ trận vong, Tiền hiền, Hậu hiền. Bàn cúng đặt ngoài sân với thức cúng ít hơn trong nhà thờ, song lại phải nhiều gạo muối, bỏng nổ, khoai sắn, đồ mã, và một bộ đồ thần thành hoàng bổn xứ (Thổ thần). Lễ cúng theo tục lệ xưa bày, đó là cúng đủ ba tuần rượu, đọc văn cúng cô hồn, hóa văn tế và hóa vàng. Người dân đất Quảng quan niệm, phải có lễ cúng này thì ông bà/ tổ tiên mới “vào” được nhà của con cháu. Lễ chánh kỵ/ tế tổ tiên tiến hành ngay sau đó. Các nghi thức, lễ bái của lễ giỗ phỏng theo nghi lễ cúng Đình, chỉ khác ở câu xướng tế: Nếu trong lễ cúng Đình là: “nghinh tôn thần chi gia huệ dã”, thì trong lễ tế Tổ tiên sẽ là: “nghinh hương linh chi gia huệ dã”. Cũng trong ngày tế tổ tiên, các thành viên trong tộc họ thường cùng nhau ôn lại nguồn cội, công lao của ông bà đối với con cháu; đồng thời nhắc nhở con cháu phải đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau, không làm những điều sai trái làm ô danh tộc họ. Những gương “người tốt, việc tốt” trong tộc họ cũng được nêu lên để cho con cháu học tập. Lễ chánh kỵ kết thúc sau nghi thức thiểu khước (lạy tạ, xin phước mọn) của đại diện các tộc họ khác được mời đến dự. Sau đó là ăn uống đãi đằng và chia phần cho người vắng mặt.

II- THỜ TỔ TIÊN TRONG CỘNG ĐỒNG LÀNG XÓM

Có một hình thức sinh hoạt tín ngưỡng phổ biến ở các làng quê đất Quảng, đó là việc thờ Tiền hiền. Có thể xem đây là một dạng thức thờ tổ tiên ở cấp cộng đồng làng xã vì bản chất thờ phụng là tri ân những người đã có công khai khẩn đất đai, lập nên làng xóm, khai mở nghề nghiệp. Các vị này, trước hết là tổ tiên của các dòng tộc trong làng. Chính công lao mở xóm, lập làng của họ đã được cộng đồng thừa nhận và tôn vinh thành Tiền hiền. Cơ sở của việc suy tôn là thông qua lịch sử của các gia tộc truyền từ đời này sang đời khác mà thành lịch sử về các vị Tổ của làng. Phổ biến ở các làng quê đất Quảng là sự phụng thờ Tiền hiền từ tam tộc trở lên, như: làng Mân Thái (Tiền hiền tứ tộc), làng Mân Quang (Tiền hiền lục tộc), làng Hải Châu (Tiền hiền 43 tộc), làng Hà My (Tiền hiền 17 tộc), làng Tĩnh Thuỷ (Tiền hiền tam tộc)… Trong tâm thức người dân, các bậc Tiền hiền được coi như tổ tiên của cộng đồng làng xóm. Chính yếu tố này là sợi dây liên kết bền chặt các thành viên, các thế hệ trong làng với nhau, đồng thời cũng quy định cách ứng xử của người dân đất Quảng theo triết lý: “Trong nhà bênh họ, ngoài ngõ bênh làng”. Nơi thờ các bậc tổ tiên của làng là đình hoặc nhà thờ. Có làng vừa thờ Tiền hiền ở đình, vừa thờ ở nhà thờ Tiền hiền riêng. Làng thờ Tiền hiền ở đình thì Tiền hiền được thờ ở chánh tẩm, vị thế chỉ sau Thành hoàng bổn xứ. Bàn thờ Tiền hiền có bài vị ghi tên các vị Tiền hiền bằng chữ Hán hoặc Quốc ngữ. Làng có nhà thờ làm nơi thờ chính Tiền hiền, như: An Hải, Hà My, Phước Ấm, Tĩnh Thuỷ…, thì nhà thờ Tiền hiền là một kiến trúc độc lập, quy mô và cách bài trí giống như nhà thờ tộc. Ngày kỵ Tiền hiền là một trong những ngày lễ trọng của cộng đồng làng, mang tính chất lễ giỗ Tổ chung của cả làng. Trước khi tổ chức, các chư tôn tộc phái trong làng cắt cử đại diện tham gia lễ rẫy mả tiền hiền. Lễ chánh kỵ được tổ chức ở đình hoặc nhà thờ Tiền hiền. Những làng kỵ tiền hiền tại đình thì ngày kỵ thường cùng với ngày cúng kỳ yên của làng (hoặc là ngày thành lập làng), tổ chức mỗi năm một lần. Một vài làng ven biển Đà Nẵng có lệ kỵ Tiền hiền hai lần trong năm, trùng với lễ cầu phước (đầu năm) và cầu an (cuối năm). Những làng có nhà thờ Tiền hiền riêng, thì việc kỵ Tiền hiền tại nơi này được gọi là ”ngày giỗ hội”, hay ngày ”kỵ Tổ Tiền hiền”, như ngày giỗ hội của làng An Hải vào ngày 6/6, làng Hoá Sơn ngày 4/6, làng An Tân ngày 12/2, làng An Bàng ngày 15/1 và ngày 12/6, làng Hói Láng ngày 16/3, làng Hà My ngày 20/3 và 20/8, làng Phước Ấm ngày 10/3, làng Tĩnh Thuỷ ngày 15/4… Đây cũng là những làng còn giữ được ruộng hương hỏa, do các chư phái tộc trong làng tự nguyện đóng góp để thờ phụng tiền hiền. Lễ kỵ tổ Tiền hiền ở các làng quê đất Quảng cũng diễn ra trong hai ngày, gồm lễ túc và lễ chánh. Vật phẩm dâng cúng tuỳ theo quy mô cuộc tế: tiểu lễ cúng xôi gà, trung lễ cúng thịt heo, đại lễ cúng thêm bò. Lễ túc hay còn gọi là lễ chưng thường bao giờ cũng gồm hai lệ. Đó là lễ cúng Âm linh/ Cô Bác ngoài trời và lễ cúng cáo các bậc Tiền hiền trong chánh tẩm. Lễ vật dâng cúng gồm bình bông, hoa quả, cùng nhiều đồ mã (áo giấy, tiền vàng để cúng Âm hồn; một bộ đồ Thổ Thần và giấy vàng bạc để cúng tiền hiền). Lễ chánh kỵ tiến hành vào sáng sớm ngày hôm sau, và cũng gồm hai lệ giống lễ chưng thường, chỉ khác ở thức cúng Âm linh và Tiền hiền: Thức cúng Âm linh ngoài sân, bên cạnh đồ mã, bình bông, nải quả, bánh trái, khoai sắn, bỏng nổ, phải thêm cơm canh, cá gỏi, xôi chè và bánh tráng; còn thức cúng Tiền hiền chính là các món dâng cúng trong ngày giỗ tổ tiên. Nghi thức lễ kỵ tổ tiền hiền cũng bao gồm các bước như nghi thức tế thần, gồm: Sơ hiến, á hiến, chung hiến, độc chúc và thiểu khước (con cháu các tộc họ ở xa về và các đại biểu lạy sau cùng để xin hưởng phước mọn của tổ tiên). Chủ tế thường là vị trưởng làng. Làng nào thờ nhiều bậc Tiền hiền thì chủ tế, đồng thời cũng là người vinh dự được đọc văn tế phải thuộc tộc họ Tiền hiền đầu tiên. Văn tế tiền hiền có nội dung đề cao công đức khai sơn phá thạch, lập làng, mở nghiệp của các vị tiền nhân, mà cũng là tổ tiên các dòng họ trong làng, đồng thời đó còn là tiếng nói tri ân của các thế hệ cháu con đối với các bậc tiên tổ. Cùng với việc cúng tế hàng năm, nhiều làng giữ lệ cứ ba năm một lần vào ngày kỵ tổ Tiền hiền lại tổ chức hát tuồng cầu an. Những làng gần sông biển thì tổ chức đua ghe, lắc thúng. Những sinh hoạt văn hóa cộng đồng này đã góp phần làm cho ngày kỵ tổ tiền hiền như trở thành ngày hội của cộng đồng làng. Có thể nói, tín ngưỡng thờ tổ tiên của người dân đất Quảng không xa rời truyền thống của dân tộc. Ở nơi này, gia đình – tộc họ vẫn tổ chức theo mẫu hình truyền thống. Sợi dây huyết thống được nối dài đến chín đời, để khẳng định tính chất cùng chung nguồn cội. Gia phả của tộc họ được gọi là “cây phổ hệ” đã nói lên ý thức bảo tồn, giữ gìn truyền thống và phát triển dòng họ của người dân đất Quảng trong cuộc sống đương đại. Thực tế cho thấy, trên vùng đất Quảng Nam – Đà Nẵng không có nơi nào có đền thờ Hùng Vương. Nhưng tinh thần của tín ngưỡng này thì đã thấm sâu vào đời sống người dân đất Quảng từ bao đời nay. Người Việt thờ Hùng Vương là thờ người sáng lập ra đất nước. Ngày giỗ Quốc Tổ là ngày cả dân tộc tri ân công lao to lớn của các Vua Hùng, thể hiện đạo lý biết ơn, lối sống trọng tình của dân tộc. Giá trị cốt lõi của tín ngưỡng này đã trường tồn cùng lịch sử dân tộc, khúc xạ trên mỗi vùng đất, tạo nên những phong tục, dạng thức thờ phụng mới nhưng vẫn không cắt đứt với truyền thống đạo lý dân tộc. Theo đó, việc thờ phụng tổ tiên/ông bà ở gia đình, dòng tộc và làng xóm của người dân đất Quảng cũng gắn với niềm tin, triết lý sâu sắc về nguồn cội, hàm chứa trong đó lối sống, đạo lý “uống nước, nhớ nguồn”, đúng như câu văn trong một bài văn kỵ Tổ tiền hiền của người dân đất Quảng: “Ơn đó ngàn năm ghi mãi, nghĩa kia muôn thuở nào quên”.

Nguyễn Xuân Hương Hội viên Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam, Chi hội Đà Nẵng.

Cập nhật thông tin chi tiết về Tín Ngưỡng Thờ Cúng Tổ Tiên trên website Apim.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!