Xu Hướng 9/2022 ❤️ Thuyết Minh Về Hầu Đồng ❣️ Top View | Apim.edu.vn

Xu Hướng 9/2022 ❤️ Thuyết Minh Về Hầu Đồng ❣️ Top View

Xem 891

Bạn đang xem bài viết Thuyết Minh Về Hầu Đồng được cập nhật mới nhất ngày 29/09/2022 trên website Apim.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Cho đến thời điểm hiện tại, bài viết này đã đạt được 891 lượt xem.

Ý Nghĩa Mâm Ngũ Quả Trên Bàn Thờ Ngày Tết

Bày Mâm Ngũ Quả, Lau Dọn Bàn Thờ Ngày Tết Nhà Bạn Thế Nào Mới Đúng?

Bày Mâm Ngũ Quả Trên Bàn Thờ Ngày Tết Thế Nào Cho Đúng?

Ý Nghĩa Của Mâm Ngũ Quả Trên Bàn Thờ Gia Tiên Ngày Tết

Vì Sao Phải Bày Mâm Ngũ Quả Lên Bàn Thờ Ngày Tết

Trường ĐH Sư phạm Hà Nội 2

Khoa: Ngữ Văn

ĐỀ TÀI THUYẾT TRÌNH:

Nghi lễ hầu đồng trong tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt

Nhóm 3 – K43C

Thành viên nhóm

Nguyễn Hồng Hạnh

Vũ Thị Thúy Hoàn

Nguyễn Thị Phương

Nguyễn Thị Oanh

Lương Thị Thu Trang

Lý do lựa chọn đề tài

Thờ Mẫu là tín ngưỡng có từ lâu đời, nhằm mục đích tôn thờ những người phụ nữ có công trong việc sáng tạo, bảo trợ, che chở cho cuộc sống của con người. Tín ngưỡng thờ Mẫu đã thực sự trở thành một nhu cầu không thể thiếu trong đời sống tâm linh của nhiều người Việt Nam từ xưa đến nay.

“Hầu đồng” là nghi lễ độc đáo trong tín ngưỡng thờ Mẫu, nhằm tái hiện lại hình ảnh của các vị Thánh thông qua thân xác của các Ông đồng, Bà đồng để phán truyền, chữa bệnh, ban lộc…cho các tín đồ đạo Mẫu và bách gia trăm họ. Nó đã xuyên suốt dòng thời gian lịch sử để lưu giữ tinh hoa của một tín ngưỡng bản địa, chảy trong lòng nhiều người dân gửi gắm niềm tin nơi cửa Mẫu.

Nội dung thuyết trình

1. Đạo thờ Mẫu của người Việt

2. Nghi lễ hầu đồng trong tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt

1. Đạo thờ Mẫu của người Việt

1.1. Nguồn gốc của đạo thờ Mẫu

1.2. Điện thần thờ Mẫu

1.3. Ý nghĩa của việc thờ Mẫu

– Đạo Mẫu chính là nét đẹp văn hóa mang đặc trưng của dân tộc cần được bảo tồn và phát triển.

– Tuy nhiên, có những quan niệm cho rằng đạo Mẫu gắn liền với mê tín dị đoan và những động cơ không lành mạnh đã gây nên những vấn nạn xấu ảnh hưởng đến đạo Mẫu.

1.1. Nguồn gốc đạo thờ Mẫu

Vượt qua giai đoạn nguyên thủy lúc người Việt còn thờ các lực lượng tự nhiên cho đến giai đoạn thờ thần linh nhân dạng, thì ngay từ đầu đã ra đời một đối tượng thờ đáng quan tâm nhất là bà mẹ quyền năng.

Theo thời gian, khái niệm ”Thánh Mẫu” được mở rộng để bao hàm cả các nữ anh hùng trong dân gian với vai trò người bảo hộ hoặc trị bệnh. Những nhân vật lịch sử này được kính trọng, tôn thờ và cuối cùng được thần thánh hóa để thành một trong các hiện thân của Thánh Mẫu.

Tượng thờ các nữ thần Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi và Pháp Điện

Trong vốn huyền thoại và truyền thuyết của Việt Nam thì các vị nữ thần gắn liền với việc tạo lập bản thể của vũ trụ, như nữ thần mặt trời hay nữ thần mặt trăng và các hiện tượng như mây, mưa, sấm, chớp cũng được thần thánh hóa và mang tính nữ. Các vị nữ thần kể trên từ bao đời nay đã được nhân dân ta tôn làm Thần, Thánh và được Triều đình ban sắc phong là Thượng đẳng thần, là Thành hoàng của nhiều làng.

Những câu chuyện truyền thuyết có sự thêu dệt hoang đường, nhưng lại là thực tế hiển nhiên giúp ta hiểu rõ vai trò và vị trí hết sức to lớn của người phụ nữ Việt Nam trong lịch sử dựng nước và giữ nước.

1.2. Điện thần thờ Mẫu

-Mẫu Liễu Hạnh xuất hiện vào khoảng đời Hậu Lê nhưng nhanh chóng trở thành vị thần chủ và được tôn vinh với tư cách là Mẫu Thượng Thiên, là người sáng tạo bầu trời và làm chủ quyền năng mây, gió, sấm, chớp, và được thờ ở vị trí trung tâm, trang phục màu đỏ.

– Mẫu Thượng Ngàn (bên trái, áo xanh) là hóa thân Thánh Mẫu toàn năng trông coi miền rừng núi.

– Mẫu Thoải (bên phải, áo trắng) là vị Thánh trị vì vùng sông nước.

– Kế đến là năm vị Quan lớn, mười hai vị Thánh bà, mười vị Thủy tế ( các ông Hoàng), các Cô, các Cậu, năm quan Ngũ hổ trấn thủ năm phương…mỗi vị có vị trí, vai trò, chức phận khác nhau.

Hình ảnh điện thần trong tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt Nam

Hình ảnh ba vị Thánh Mẫu có quyền năng nhất

Điện thần của tín ngưỡng thờ Mẫu là một hệ thống lớp lang tương đối nhất quán, bao gồm:

– Ngọc hoàng

Tam tòa thánh Mẫu

Ngũ vị tương quan

Tứ vị chầu bà

Ngũ vị hoàng tử

Thập nhị cô nương

Thập nhị vương cậu

Quan ngũ hổ

Ông Lốt (rắn)

1.3. Ý nghĩa của việc thờ Mẫu

*Mẹ tự nhiên một thế giới quan cổ xưa của người Việt

Đạo Mẫu coi thế giới tự nhiên và con người là một thực thể đồng nhất. Với Đạo Mẫu, người mẹ của con người cũng là người mẹ tự nhiên; và việc tôn thờ Mẫu là hiện thân của bản thể tự nhiên có thể che chở, mang lại những điều tốt lành cho con người.

Cách nhận thức thế giới theo kiểu nhất thể hóa này tuy có mặt hạn chế, nhưng nó cũng có mặt tích cực giúp cho con người hòa đồng, cảm nhận và luôn lắng nghe tự nhiên và ra sức bảo vệ tự nhiên một cách hữu hiệu hơn.

*Hướng về đời sống trần thế, đó là cầu mong sức khỏe, tiền tài, phúc lộc

Đạo Mẫu không hướng con người tin vào thế giới hiện tại, thế giới mà con người cần phải có sức khỏe, có tiền tài và quan lộc. Đó là một nhân sinh quan mang tính tích cực và cũng là cách tư duy thể hiện tính thực tế, thực dụng của con người Việt Nam.

Sau khi ra trình đồng, những người có căn số (có tâm sinh lí đặc biệt, bị rối loạn hành vi) đều khỏi bệnh và trở về trạng thái tâm sinh lý bình thường. Thậm chí, việc lên đồng cũng giúp họ giải tỏa được stress. Đó là tác dụng trị liệu trong y học của Đạo Mẫu và Lên đồng.

Những tín đồ của Đạo Mẫu nhất là những người làm nghề kinh doanh buôn bán luôn có một niềm tin mãnh liệt vào Thánh Mẫu.

*Đạo Mẫu là một biểu tượng của chủ nghĩa yêu nước

– Trong điện thần của Đạo Mẫu thì hầu hết các vị Thánh đã được lịch sử hóa, tức là đều hóa thân thành những con người có danh tiếng, có công trạng trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của dân tộc. Hoặc, có không ít những vị thánh thần vốn thoát thai từ các nhân vật có thật trong lịch sử sau này được người đời tô vẽ lên thành các vị thần thánh.

Bằng cách đó, Đạo Mẫu gắn bó với cội nguồn và lịch sử dân tộc và đã trở thành một biểu tượng của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, một thứ chủ nghĩa yêu nước đã được tín ngưỡng hóa, tâm linh hóa mà trong đó người Mẹ là nhân vật trung tâm.

*Hướng con người đến thái độ sống hòa hợp

Đạo Mẫu vốn là tín ngưỡng bản địa của dân tộc Việt có từ lâu đời, nhưng nó thể hiện một khả năng tích hợp tôn giáo tín ngưỡng cao (chịu ảnh hưởng của Đạo giáo, Phật giáo, Nho giáo). Mặt khác, nó còn tích hợp văn hóa của nhiều dân tộc thiểu số như người Dao, Tày, Nùng, Chăm, Khơme.

Trong hệ thống các thần linh, có nhiều vị thần người dân tộc thiểu số như các vị Thánh hàng Chầu hay Thánh Cô. Do vậy, có thể thấy nó cũng tích hợp các sinh hoạt văn hóa của các dân tộc thiểu số đó vào trong nghi lễ.

Lên đồng là một nghi lễ quan trọng bậc nhất của Đạo Mẫu

– Đạo Mẫu ẩn chứa những giá trị văn hoá nghệ thuật dân tộc rất phong phú : kho tàng truyền thuyết, thần tích, huyền thoại về các thần linh, các hình thức diễn xướng với âm nhạc, ca hát, nhảy múa, các hình thức trang trí, kiến trúc…

– Ở hình thức diễn xướng này, chúng ta có thể thấy được lối nghĩ, nếp sống, các quan niệm nhân sinh, thấy được nếp ăn, cách mặc hay nghi lễ của cha ông xưa.Nhiều người coi đó là một văn hóa hay còn là hình thức sân khấu tâm linh.

– Sự hiện thân của các thần linh đã được lịch sử hóa với công trạng, tính cách, điệu bộ rất sinh động trong hình thức diễn xướng của đạo Mẫu.

– Nghi lễ Hầu bóng – Lên đồng của Đạo Mẫu đã sản sinh ra loại hình âm nhạc hát Văn – một loại hình dân ca tiêu biểu của người Việt.

Lên đồng

2.1. Tổng quan về nghi lễ hầu đồng ở Việt Nam

2.2. Đối tượng thực hiện nghi lễ hầu đồng

2.3. Trang phục trong nghi lễ hầu đồng

2.4. Đồ lễ trong nghi lễ hầu đồng

2.5. Đồ mã trong nghi lễ hầu đồng

2.6. Cách thức thực hiện nghi lễ hầu đồng

2. Nghi lễ hầu đồng trong tín ngưỡng thờ Mẫu

2.1.Tổng quan về nghi lễ hầu đồng trong tín ngưỡng thờ Mẫu

Theo các nhà nghiên cứu, hầu đồng thực chất là một hình thức diễn xướng dân gian dựa trên việc kết hợp hát chầu văn, một loại hình âm nhạc mang tính tâm linh với lời ca trau chuốt, giai điệu dặt dìu cuốn hút cùng với những điệu múa uyển chuyển và các nghi lễ trang nghiêm… từ đó đưa con người (thanh đồng) vào trạng thái thăng hoa.

Thông qua nghi lễ này, con người hi vọng sẽ giao tiếp được với các đấng thần linh nhằm gửi gắm, biểuđạt những mong muốn, khát vọng của mình.

Một cảnh hầu đồng

Trong nghi lễ hầu đồng có tất cả 36 vở diễn xướng, tục gọi là 36 giá đồng. Mỗi giá nói về huyền tích của một vị Thánh, làm nghi lễ nhảy, múa, ban lộc, phán truyền trong tiếng hát Văn và nhạc cung văn. Tuy nhiên, trong một buổi hầu đồng các thanh đồng không bao giờ trình diễn đủ 36 giá, mà thường chỉ chọn một số giá có nội dung phù hợp với buổi hầu đồng đó mà thôi.

Nghi lễ hầu đồng thường ở các Đền, Phủ diễn ra vào nhiều dịp trong một năm.

Hai lễ hầu quan trọng nhất là vào tháng 3 và tháng 8 (ngày giỗ cha và giỗ mẹ). Tức là tháng 3 ngày giỗ của Thánh Mẫu và tháng tám là ngày giỗ của vua cha Bát Hải, Đức Thánh Trần… và trong năm tuỳ theo ở mỗi Đền, Phủ hay mỗi ”Ông đồng”, ”Bà đồng” còn làm nhiều nghi thức và lễ hầu riêng như: Lễ trình đồng, lễ lên đồng, lễ hầu bản mệnh, lễ hầu Cô Bơ, lễ hầu quan Tam Phủ…

Trong nghi thức Hầu đồng, các vị Thánh nhập hồn bao giờ cũng là các vị Thánh làm những điều tốt lành, phù hộ cho ông Đồng, bà Đồng và các con nhang, đệ tử làm ăn may mắn, chữa khỏi bệnh tật, trừ được rủi ro… Bởi lẽ, các vị Thánh đó lúc sinh thời đều là những người tài giỏi, đạo cao, đức trọng và có vị trí cao trong xã hội đã từng có công với nước, với dân.

Trong nghi lễ hầu đồng bao giờ cũng có nghi thức xin Thánh nhập. Đây là một nghi lễ dân gian được lâu đời truyền lại, cần được phân biệt với các hình thức hầu bóng mang yếu tố mê tín dị đoan khác

Cô đồng hóa thân vào một vị Thánh Mẫu

2.2. Đối tượng thực hiện nghi lễ hầu đồng

Mỗi loại hình tín ngưỡng tôn giáo khác nhau, đồng nghĩa với việc có một người đứng ra làm các nghi lễ tương ứng với loại hình tín ngưỡng tôn giáo đó.

Đối với tín ngưỡng tôn giáo Phật giáo, người đứng ra chủ trì các nghi lễ là các sư thầy

Đối với tín ngưỡng tôn giáo Thiên Chúa giáo (công giáo),người thực hiện các nghi lễ lại là các vị cha xứ (linh mục)

Vậy ai là người đứng ra thực hiện nghi lễ hầu đồng trong tín ngưỡng thờ Mẫu ?

Về bản chất, lên đồng là nghi thức giao tiếp với thần linh thông qua các ”Ông đồng”, ”Bà đồng”. Người ta tin rằng: Các vị thần linh có thể nhập thể linh hồn vào thân xác các ”Ông đồng”, ”Bà đồng” trong trạng thái tâm linh thăng hoa, ngây ngất nhằm phán truyền, diệt trừ tà ma, chữa bệnh, ban phúc, ban lộc cho các con nhang, đệ tử.

Khi thần linh nhập vào, các ”Ông đồng”, ”Bà đồng” không còn là mình nữa mà là hiện thân của vị thần nhập vào họ. Để phục vụ cho nghi lễ quan trọng này, người ta đã sáng tạo ra một hình thức lễ nhạc gọi là Hát văn (hát chầu văn) nhằm phục vụ cho quá trình nhập đồng hiển thánh.

Những ”Ông đồng”, ”Bà đồng” là ai ?

Những người thực hiện nghi lễ hầu đồng được gọi chung là “Thanh đồng”. Nếu là nam giới thì được gọi là “Cậu”, nữ giới được gọi là “Cô” hoặc “Bà đồng”. Những “Bà đồng”, “Ông đồng” thường có tâm tính khác người, rất nhạy cảm, dễ thay đổi và không ít người trong họ, nhất là các “Ông đồng” thường là “ái nữ” (là đàn ông nhưng lại ẻo lả như phụ nữ). Bởi thế, dân gian thường nhận xét ai đó “tính đồng bóng” hay trông “đồng cô quá” là vì lẽ này.

Hình ảnh “Bà đồng”

Hình ảnh “Ông đồng”

Những ” Ông đồng”, ”Bà đồng” là nhân vật trung tâm của nghi lễ hầu đồng nên bao giờ cũng là người đẹp nhất, nổi bật nhất. Họ luôn được chăm chút, trang điểm xiêm áo lộng lẫy. Đặc biệt, khuôn mặt của thanh đồng luôn được trang điểm mang nét đẹp của một người phụ nữ. Điều đó thể hiện rất rõ đặc trưng tôn sùng nữ thần trong Tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt.

Ai có thể thực hiện vào nghi lễ hầu đồng?

Đa số những người hầu đồng là do hoàn cảnh bản thân thúc ép, do di truyền gia tộc hay bản tính có căn đồng.

Ra ” đồng” rồi thì thường sức khoẻ hồi phục, làm ăn được hanh thông. Khi đã bị Thánh “bắt lính”, tức ra trình đồng rồi thì hàng năm, tuỳ theo lịch tiết, đặc biệt là vào dịp “tháng tám giỗ Cha, tháng Ba giỗ mẹ”, các Bà đồng, Ông đồng thường phải tổ chức làm lễ Lên đồng. Trong nghi lễ như vậy, theo quan niệm dân gian, các vị Thánh từ các miền khác nhau của vũ trụ bay về nhập hồn vào thân xác các Ông đồng, Bà đồng.

Phụ giúp ”thanh đồng” trong các buổi hầu đồng còn có 2 hoặc 4 người hầu dâng (tục gọi là tứ trụ), có nhiệm vụ giúp ”thanh đồng” việc dâng hương, dâng lễ vật, thay trang phục khi chuyển từ giá hầu này sang giá hầu khác…

2.3. Trang phục khi thực hiện nghi lễ của

các ”Ông đồng”, ”Bà đồng”

Nếu chầu văn là “linh hồn” của tín ngưỡng thờ đạo Mẫu thì trang phục là vật dụng rất quan trọng không thể thiếu để thực hiện nghi thức lên đồng.

Mỗi bộ trang phục được dùng cho một giá đồng, thể hiện nét đặc trưng của từng vị thánh trong đạo Mẫu và chính là hình tượng văn hóa được đúc kết từ nhiều thế hệ người Việt.

Những bộ áo dài cổ lấy cảm hứng từ các buổi diễn xướng hầu đồng lại càng chứa đựng bề dày nhiều câu chuyện lịch sử.

Khi tái hiện lại các mẫu trang phục áo dài cổ, nhất là lại lấy cảm hứng từ các buổi diễn xướng hầu đồng, mọi người có thể hình dung được ngay một nhân vật từ lịch sử xa xưa mà không hề nhầm lẫn với bất cứ ai ở trong thời hiện đại.

Đồ mã thường xuyên là những đồ mã được đặt trên ban thờ để thể hiện sự tôn kính và một mặt nào đó, cũng để nhằm mục đích trang điểm về màu sắc. Loại đồ mã này được làm rất cẩn thận vì chúng được bày, đặt trong một thời gian dài, có thể là một, hai năm hay ba, bốn năm mới thay một lần. Tiêu biểu là:

– Nón tứ phủ thường là nón quai thao, đôi khi cũng là loại nón dạng thông thường, có điện còn thờ cả nón chiêng, nón tu lờ của người Thượng. Để biểu hiện cho từng vị thần tối thượng, nón thường được dán ô giấy màu ở tâm, tương ứng với mỗi phủ, quai nón cũng có màu thích hợp, điểm xuyết là những kim tòng (những gù rủ tua rua màu vàng). Những nón này thường được treo ở phía ngoài giữa chính điện hoặc chia đều ở hai bên.

– Quả nón công đồng thường được treo ở vị trí trung tâm hoặc lùi sát vào chính điện của điện Mẫu. Đây là một hiện vật có tính tổng hòa với nhiều màu sắc, cầu kỳ, đậm chất dân gian và rất đắt tiền.

Nón công đồng thờ Tứ phủ

Những đồ mã trên ban thờ cũng rất phong phú. Ngoài hai cành hoa giống như trên điện Phật thì trên ban thờ mẫu hầu như phải có vàng Tứ phủ. Đây là loại vàng viên hình hộp được đóng thành bánh và xếp khối với bốn màu đỏ, xanh lá cây, trắng, vàng. Đương nhiên tỷ lệ này có phần không đều, tùy theo chức năng của vị thần mà số lượng ít nhiều tương ứng và màu sắc khác nhau. Một số đền có thể còn bày cả thuyền hoặc ngựa loại nhỏ hay những đôi hài cườm đặt trong các hộp kính như ở đền Ghềnh (Gia Lâm). Ở các đền quan lớn hay ông hoàng người ta còn làm bàn cờ, bàn đèn… bằng mã để thờ. Có thể nói, tùy theo từng vị thánh, người ta sắp những đồ thờ thích hợp.

Hài đính cườm

Vàng mã

Ngoài ra, đồ mã còn được thể hiện dưới dạng một loại cây vũ trụ, chủ yếu gắn với Mẫu Thượng và Mẫu Thoải. Bên cạnh bàn thờ Mẫu Thượng người ta thường đặt một cây xanh tượng trưng cho núi rừng với những lá rủ như lá liễu, điểm xuyết trên đó là hoa quả nhiều màu. Bên bàn thờ Mẫu Thoải thì thường có một cành hoa lớn với rất nhiều hoa dạng bông cúc màu trắng.

Cây vũ trụ trên điện thờ Thánh Mẫu

2.5.2. Đồ mã phục vụ các nghi lễ

Đồ mã trong lễ phát tấu

– Lễ phát tấu thường được tiến hành ngày hôm trước hoặc trước khi diễn ra bất kỳ lễ chính nào trong hệ đạo Mẫu. Người đứng ra chủ trì lễ này không nhất thiết phải là Ông đồng, Bà đồng mà có thể chỉ cần thầy cúng. Lễ phát tấu có ý nghĩa thỉnh thánh, thỉnh Phật về chứng giám đàn giàng cho gia chủ trở thành tân đồng trong Tứ phủ, hay về chứng giám đàn cúng Tam phủ thục mệnh để giải vận hạn, ốm đau…

– Đồ mã được sử dụng cho lễ này là bộ mũ phát tấu gồm năm mũ quan, năm màu, đại diện cho năm phương: Đông, Tây, Nam, Bắc và trung tâm. Kết hợp với chúng là năm ngựa nhỏ, mỗi con cao khoảng năm mươi phân, năm bộ quần áo và năm đôi giày Gia Định hoặc hia. Màu sắc của các vật dụng này tương ứng với màu của mũ. Tất cả đồ mã này được tiến dâng lên các quan sứ giả, thỉnh nhờ các ngài hay thanh đồng đi mời chư vị trong tứ phủ.

Năm con ngựa với năm màu khác nhau (“ngựa ngũ phương”)

Năm con ngựa với năm màu khác nhau (“ngựa ngũ phương”)

Mũ quan với năm màu khác nhau tượng trưng cho năm phương

Trong tất cả lễ của Tứ phủ không thể thiếu một lễ vật quan trọng đó là dàn mã, bao gồm:

– Bốn mũ bình thiên với bốn màu đỏ, xanh, trắng, vàng để dâng bốn vị vua cha.

– Hai mũ của quan hầu cận là Nam Tào và Bắc Đẩu, đây là loại mũ cánh chuồn gồm một chiếc màu đỏ, một chiếc màu tím.

– Mũ chúa đàn, vị quan cai quản giám sát đàn lễ, hầu hết được làm là mũ kiểu đuôi trĩ màu trắng hay màu vàng tùy theo bản mệnh và tùy theo tháng diễn ra lễ.

– Năm mũ cánh chuồn với năm màu đỏ, xanh, trắng, vàng, tím để dâng lên năm vị quan: quan đệ nhất – thượng thiên, quan đệ nhị – giám sát thượng ngàn, quan đệ tam – thoải phủ là quan tuần Lảnh Giang, quan đệ tứ khâm sai, quan đệ ngũ Tuần.

Bộ mũ dâng lên các Thánh trong tín ngưỡng thờ Mẫu

Long tu, tượng, mã (thuyền rồng, voi, ngựa) là những vật luôn phải có trong dàn mã. Voi, ngựa thường được làm khá lớn, là một nghi thức thể hiện sự tôn kính thần linh. Voi thường được làm bằng giấy màu vàng, ngựa màu đỏ còn thuyền rồng màu trắng. Long tu, tượng, mã không dâng riêng cho vị quan nào cả mà dâng chung cho tất cả các quan. Thuyền rồng biểu hiện cho thủy phủ, được dâng cho thế giới thủy cung. Voi biểu hiện cho sơn trang, dâng về sơn trang. Ngựa biểu hiện vùng đồng bằng, dâng cho các quan làm việc nơi đồng bằng.

*Tuy nhiên cũng có người cho rằng voi được dâng riêng cho chúa sơn lâm, ngựa được tiến cho đức thánh Trần, còn thuyền rồng thường là dâng vua cha Bát Hải. Ngoài ra, người ta còn làm chiếc mảng màu xanh để dâng lên các cô trên rừng, mảng màu trắng dâng cô Bơ với ý nghĩa để chở Vua, Chúa hay Mẫu đi các nơi. Những chiếc mảng được kết bởi những ống nhỏ tượng trưng cho tre, nứa, trên mảng cũng có hình người đang chèo.

Voi

Thuyền rồng

Ngựa

Lốt trong Tứ phủ biểu hiện cho các quan hầu cận Mẫu, là các vị quan bảo vệ cho Mẫu về đường âm, về đường dưới nước. Cũng giống như long tu, tượng, mã, lốt được đan bằng nan tre, bồi giấy và được trang trí bằng cách dán giấy tạo vẩy, dán hoa văn hoặc vẽ cách điệu phần đầu tạo ra tính chất trang nghiêm và dữ dội của Lốt. Trong dàn lễ, các ông Lốt thường có bốn loại với bốn màu đỏ, xanh, vàng, trắng. Lốt tiến về Thoải phủ nhiều khi có hình thức tam đầu cửu vĩ hoặc tam đầu nhất vĩ nhưng nhất thiết phải là màu trắng.

Tam cửu đầu vĩ

Một đồ mã nữa gắn với chúa núi rừng là hình chúa sơn trang cùng với hai chầu hầu cận, chầu Quỳnh, chầu Quế và 12 cô tiên nàng (cô sơn trang) theo hầu hai chúa. Đi cùng với nhóm đồ mã này là lễ vật dâng sơn trang gồm một mảng trắng, một thuyền đỏ và một thuyền xanh. Ngoài ra còn có một vỉ hải xảo và một mâm hài.

Tòa mã sơn trang

Trong dàn mã Tứ phủ còn có năm mã hình nhân, có thể là nam hoặc nữ tùy theo giới tính của chủ lễ nhưng nhất thiết phải có đai chéo để thể hiện người có đồng, khác với hình nhân dùng cúng cho người âm, giải hạn hay cắt đoạn tình duyên…

Hình nhân

Trong quan niệm dân gian của người Việt, những cô hồn, linh hồn chết không cha mẹ, không anh em, không có gia đình thờ phụng, thường đi lang thang khắp nơi để kiếm ăn và rất hay tụ tập ở các đám tế lễ, hội hè… Vì vậy, trong các nghi lễ hầu đồng, ngoài những đồ dâng cúng cho thần linh, bao giờ người ta cũng có phần dành cho những vong hồn (mâm đồ mã cúng chúng sinh). Y phục thường là áo ngắn tay, quần dài hoặc quần đùi cắt đơn giản, kèm theo là giấy tiền xu, giấy vàng.

Như vậy, người Việt không chỉ nhớ đến các vị thánh, nhớ về tổ tiên mà còn không quên cầu cúng cho vong hồn của những kẻ bất hạnh trên thế gian. Điều này toát lên một giá trị nhân văn cao cả trong truyền thống Việt Nam.

Mâm cúng chúng sinh

Quần áo chúng sinh

Cùng với tờ sớ phát tấu là hình ảnh bộ tranh Thập vật mà trong những giai đoạn trước đây chúng được dùng để cúng cho người đã khuất bao gồm: long xa (xe rồng), phượng liễn (kiệu phượng), tràng phan (phướn báu), đại hình (hình nhân thế mạng), bạch tượng (voi trắng), phi mã (ngựa bay), địa mã (ngựa đất), hiến mã (ngựa cúng), tòng giá (đi theo giá), ngân tiền, kim tiền (tiền vàng, tiền bạc).

Tranh thập vật

Việc hóa (đốt) đồ mã trong các nghi lễ cũng phải tuân theo quy định. Theo lối cổ, khi chứng đàn thì “quan nào về mở phủ quan ấy”. Sau khi các quan về chứng đàn, long tu, tượng, mã phải được quay đầu ra để chờ mang đi hóa. Sau giá quan tuần, tất cả đồ mã được mang đi hóa, trừ mã sơn trang.

Hóa đốt vàng mã

Việc bày mã và hóa mã trong các nghi lễ Tứ phủ không được tùy tiện, phải luôn tuân theo những quy định bắt buộc.

Đồ mã Tứ phủ – lễ vật tôn kính dâng lên các vị thần, không chỉ đơn thuần là những thứ đồ bằng giấy để hóa sau mỗi đàn lễ, mà còn chứa đựng cả thế giới quan tâm linh và bản sắc văn hóa của người Việt. Thực chất chúng là cái dẫn giải cho việc hành lễ, là phương tiện của việc hành lễ và biểu hiện sự giao thoa giữa cái hữu hình và cái vô hình, giữa cái vật chất và cái phi vật chất.

Khi con người ta còn chấp nhận cảnh giới, chấp nhận ”trần sao âm vậy” thì họ sẽ còn sử dụng đồ mã để dâng cho thần linh, gửi cho người đã khuất, cốt sao để tâm được yên.

2.6. Cách thức thực hiện nghi lễ hầu đồng

2.6.1. Trình tự một buổi hầu đồng

Bắt đầu một buổi hầu đồng, người ta đặt các lễ vật lên hương án. Người hầu đồng để các dụng cụ lên chiếu đồng, lấy hoa xoa lên mặt, quần áo, sau đó vẩy xung quanh để tẩy uế. Cung văn lên dây đàn, dạo nhạc, hát văn cộng đồng.

Ba động tác tiên khởi mà người hầu đồng phải làm là: Chắp tay chờ cho phụ đồng phủ khăn diên lên đầu và trùm cả tay xong thì đưa tay lên trán rồi bước chân trái lên một bước, chân phải chụm lên với chân trái, lặp lại thêm hai lần mới quỳ xuống. Người hầu đồng làm lễ vái dập người, hai tay chống xuống chiếu, mặt úp sát, vái ba lễ. Sau đó đứng dậy đi dật lùi ba bước về vị trí cũ. Giá đệ nhất được bắt đầu.

Cũng như giá đầu, khi sang một giá khác, người hầu đồng sau khi thay đổi trang phục và lễ cụ sẽ bước lên chiếu đồng, cung văn chuẩn bị tấu nhạc. Người hầu đồng kính cẩn đưa một chiếc khăn phủ diện màu đỏ. Hầu đồng cầm khăn, vái mấy vái rồi phủ lên đầu, hai tay cầm hai mép khăn phủ ở đầu gối. Một lúc sau hầu đồng lắc lư, lảo đảo rồi bất ngờ hét lên một tiếng, chỉ ngón trỏ trái lên trời. Đó là dấu hiệu giá Quan Đệ nhất nhập đồng.

2.6.2. Trình tự của một giá hầu đồng

2.6.2.1. Thay lễ phục

Mỗi vị thánh đều có lễ phục riêng, phù hợp với danh hiệu của vị đó và màu sắc cũng khác biệt tùy từng Phủ, từng gốc tích sắc tộc gốc, phẩm hàm cũng như văn hay võ.

2.6.2.2. Dâng hương hành lễ

Đây là một nghi thức không thể thiếu được cho bất cứ giá nào. Hầu đồng tay trái cầm một bó nhang đốt sẵn, bọc trong một chiếc khăn có tấm hương. Tay phải rút một nén nhang, rồi huơ lên bó nhang trong tay làm động tác phù phép (ngôn ngữ hầu đồng gọi là khai nông) để xua đuổi tà ma.

2.6.2.3. Lễ Thánh giáng

Khi hầu đồng có thánh nhập vào thì buông các nén hương đang cầm theo ray chắp, nghiêng mình ra hiệu thánh thuộc thứ hạng nào.

Có hai hình thức thánh giáng:

Giáng trùm khăn (hầu tráng mạn) với các giá Thánh Mẫu. Mẫu chỉ đến chứng giám rồi đi ngay.

Giáng mở khăn – với các hàng quan trở xuống

Khi Thánh đã nhập, người hầu đồng không còn là người phàm nữa, xuất thần, tự thôi miên đã giúp họ nhảy múa một cách uyển chuyển, nhịp nhàng mà bình thường họ không làm được.

Đó chính là hứng khởi mang tính tâm linh tôn giáo (chỉ có ở một số người)

2.6.2.4. Múa đồng

– Múa đồng là một hình thức diễn xướng đã được cách điểm hóa, khẳng định sự ứng nhập của thần linh.

Động tác múa đồng khác nhau, tùy theo từng vị Thánh.

Có ảnh hưởng của chèo và vũ điệu dân gian.

Mỗi động tác múa trong giá chầu phản ánh con người thật của vị thánh giáng đồng, thay đổi theo đặc điểm của ”giá”

+ ”Giá” quan thường múa cờ, múa kiếm, long đao, kích.

+ ”Giá” các chầu bà thì thường múa quạt, múa mồi, múa tay không.

+ ” Giá” ông Hoàng thì có múa khăn tấu, múa tay không, múa cờ.

+ “Giá” các Cô thường múa quạt, múa hoa, chèo đò, múa thêu thùa, múa khăn lụa, múa đàn, múa tay không.

+”Giá” các Cậu thương múa hèo, múa lân…

Nghi lễ thánh giáng phải theo thứ tự từ cao xuống thấp: Cao nhất là Thánh Mẫu (Tứ vị Thánh Mẫu), sau đó là hàng Quan (Ngũ vị quan lớn), Chầu (Tứ vị Chầu bà), Ông Hoàng (Ngũ vị ông Hoàng, Cô (thập nhị Vương cô), Cậu (thập nhị Vương cậu). Tổng cộng có đến 50-60 vị. Tuy nhiên, không phải tất cả các vị Thánh Tứ phủ đều nhập đồng, mà chỉ có một số, nhiều nhất là 36 vị nên mới có 36 giá đồng. Bình thường chỉ trên dưới 20 vị Thánh nhập trong nghi lễ hầu đồng.

2.6.2.5. Ban lộc và nghe văn chầu

Sau khi đã múa, các thánh thường ngồi nghe cung văn hát, kể sự tích lai lịch vị Thánh đang giáng. Với các giá ông Hoàng thì cung văn ngâm các bài thơ cổ. Thánh biểu hiện sự hài lòng bằng động tác về gối và thưởng tiền cho cung văn. Lúc này là lúc Thánh dùng những thứ người hầu đồng dâng như: rượu, thuốc lá, trầu, nước,… Các thứ Thánh dùng phải làm nghi thức khai quang cho thanh sạch. Lúc này những người ngồi dự xung quanh đến gần để cầu xin hoặc nghe Thánh phán truyền. Và đây cũng là lúc thánh phát lộc. Lộc Thánh gồm nhiều thứ như: hoa quà, bánh trái, gương lược, tiền bạc, nén nhang cháy,..

Thanh đồng ban lộc

2.6.2.6. Thánh thăng

Cuối cùng là dấu hiệu thánh thăng. Người hầu đồng ngồi yên hai tay bắt chéo trước trán quạt che lên đỉnh đầu, khẽ rung mình. Lúc ấy, hai người phụ đồng cấp tốc phủ khăn diện lên người hầu đồng, cung văn nối nhạc và hát điệu thánh xa giá hồi cung – kết thúc một giá đồng.

Để hiểu rõ hơn về nghi thức hầu đồng, kính mời cô và các bạn cùng xem đoạn video về một giá hầu đồng:

Xin trân trọng cảm ơn cô và các bạn đã lắng nghe!

Tết Hàn Thực: Cách Làm Mâm Cỗ Cúng Và Bài Văn Khấn Chuẩn Nhất

Cách Làm Mâm Cỗ Cúng 4 Ngày Tết Mậu Tuất Ai Cũng Cần Biết

Thanh Minh Cần Thủ Tục Gì Và Thanh Minh Làm Lễ Như Thế Nào

Cúng Tết Thanh Minh 2022 Tại Nhà: Cách Sắp Lễ, Bài Văn Khấn Và Những Điều Lưu Ý

Những Bài Thơ Hay Về Mẹ

Cập nhật thông tin chi tiết về Thuyết Minh Về Hầu Đồng trên website Apim.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!

Yêu thích 2721 / Xu hướng 2811 / Tổng 2901 thumb
🌟 Home
🌟 Top