Xu Hướng 2/2024 # Tản Mạn Về Cái Mâm Và Sự Kết Nối Trong Bữa Cơm Việt # Top 3 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Tản Mạn Về Cái Mâm Và Sự Kết Nối Trong Bữa Cơm Việt được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Apim.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Một bữa cơm gia đình đúng nghĩa của người Việt sẽ không thể trọn vẹn nếu thiếu một vật dụng quen thuộc — cái mâm.

Cái mâm — chiếc khay hình tròn trông khá đơn giản dùng để đựng các món ăn — đã gắn liền với những bữa cơm gia đình của biết bao thế hệ người Việt trong nhiều thế kỷ qua. Sau khi thức ăn được bày biện sẵn sàng, mâm sẽ được bưng lên nhà trên và đặt vào giữa chiếu. Từ ông bà, cha mẹ, đến các con các cháu lần lượt ngồi xuống chiếu, khoanh chân ngồi sát nhau, quây quần quanh mâm cơm. Một thành viên, thường là con nhỏ tuổi nhất sẽ có nhiệm vụ so đũa và mời ông bà, cha mẹ, anh chị. Trong lúc đó, người ngồi đầu kia sẽ xới cơm vào từng bát cho các thành viên trong gia đình. Bữa cơm người Việt cứ tuần tự như vậy diễn ra quanh chiếc mâm tròn tự bao đời nay.

Những chiếc mâm cơm đầu tiên được làm bằng gỗ, thường là từ gỗ mít. Theo báo Tuổi Trẻ, những chiếc mâm ngày xưa được sơn màu đỏ thẫm và có hoa văn cầu kỳ phức tạp để thể hiện sự sang trọng, giàu có. Khi bắt đầu bước vào Thời đại đồ đồng, người Việt đã làm ra và chuyển sang sử dụng mâm đồng với độ bền cao. Sau đó một vài thế kỉ, người anh em họ mâm làm từ nhôm ra đời và nhanh chóng có mặt khắp mọi miền đất nước bởi tính tiện dụng cao. 

Một số đồng bào dân tộc thiểu số lại dùng nhiều vật liệu thân thiện với môi trường để làm ra chiếc mâm. Ở một số khu vực miền Bắc và dọc theo ven biển miền Trung nước ta, dân tộc Thái rất tự hào về những chiếc mâm bằng mây tre đan mà họ làm ra. Mâm được đan thủ công nên rất bền và chắc, có thể sử dụng đến 20 năm. Bên cạnh đó, người Mường thường dùng những lá chuối có màu hơi úa để làm lót mâm. Sau đó, người ta sẽ sắp xếp các món ăn đặc sản của núi rừng lên trên để tạo thành một mâm cơm đầy màu sắc.

Bức tranh lụa của Nguyễn Phan Chánh vẽ năm 1960. Ảnh: designs.vn.

Có thể ví mâm cơm như một ống kính — nhìn vào mâm cơm, người ta có thể thấy nét đẹp ẩm thực trong những bữa ăn hàng ngày của người Việt. Thực đơn cơ bản cho một bữa ăn bao gồm một món rau theo mùa, một món thịt và một tô canh. Các món ăn được sắp xếp hài hòa xung quanh mâm tròn, với bát nước mắm cay đặt ở trung tâm. Thật khó để hình dung một bữa cơm ngày hè mà không có dĩa rau muống xào hoặc một bữa cơm ngày đông lạnh giá mà không có món cá kho.

Thiết kế đơn giản và tiện dụng là lý do tại sao mâm được truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác. Một chiếc mâm tròn với những món ăn thơm ngon hấp dẫn chắc chắn sẽ nhanh chóng thu hút ánh nhìn thèm thuồng của những người đang vào cơn đói cồn cào. Sự xuất hiện của mâm cơm như một tín hiệu vô thanh để các thành viên trong gia đình biết rằng giờ ăn cơm đã đến. Mọi người nhanh chóng thu xếp những công việc đang làm dở để cùng sum họp quanh mâm cơm. Khác với cách bày biện bàn ăn của phương Tây với từng vị trí ngồi thể hiện đẳng cấp, ý nghĩa khác nhau, mâm cơm tròn Việt Nam là tượng trưng cho tinh thần bình đẳng. Trong bữa cơm, chiếc mâm gắn kết tất cả mọi người, cùng nhau ngồi vòng quanh không phân biệt địa vị hay tuổi tác, cả nhà cùng sum họp trò chuyện để tăng thêm không khí vui vẻ cho bữa cơm. Mặc dù chiếc mâm chỉ đơn thuần là một vật dụng để bưng cơm từ bếp và dọn dẹp khi đã dùng xong nhưng khi mọi người ngồi quây quần xung quanh, nó lại chứa đựng nhiều giá trị tinh thần sâu sắc.

Bố tôi, năm nay đã hơn 60 tuổi, cho rằng sự gắn kết xung quanh mâm cơm của người Việt xuất phát từ nền nông nghiệp lúa nước. Ông bà tôi và chín người con đã từng làm việc trên đồng từ khi gà gáy đến lúc mặt trời lên quá đỉnh đầu. Cuộc sống lam lũ, khó nhọc lắm. Ăn cơm chỉ với hai quả trứng luộc, một ít nước mắm pha loãng và bó rau rừng. Bố tôi hồi tưởng lại: “Hồi xưa có gì ăn nấy, nhưng cả nhà đợi nhau, gắp cho nhau. Nghĩ lại vẫn thấy ấm lòng.”

Những cử chỉ diễn ra xung quanh mâm cơm truyền thống, từ bao đời nay, dù nhỏ nhặt thôi, nhưng diễn ra rất nhịp nhàng, tuần tự. Khi ngồi vào mâm, con cháu ít tuổi phải mời cơm lần lượt từng người theo thứ tự tuổi tác để thể hiện sự biết ơn, tôn trọng với các thành viên lớn tuổi trong gia đình. Những người lớn tuổi sẽ nhẹ nhàng gật đầu đáp lại và chỉ khi người lớn tuổi nhất cầm chén lên thì các thành viên khác mới bắt đầu. Bữa cơm không chỉ đơn thuần là gặp gỡ mọi thành viên trong gia đình, mà còn là cơ hội để thể hiện sự yêu thương, chia sẻ, chăm sóc cho nhau. Hành động gắp thức ăn cho người ngồi hơi xa một món ăn nào đó thể hiện sự quan tâm một cách tinh tế của người trong nhà. Hay nếu ai đó không về kịp để ăn bữa cơm tối với gia đình, thức ăn sẽ được để phần lại trong bát được đậy kín.

Hình ảnh mâm cơm khiến tôi liên tưởng tới một chiếc đồng hồ báo thức, không kim, không số, không chuông báo: chỉ cần nhìn thấy là các thành viên trong gia đình tự động quây quần cùng nhau. Mâm cơm gia đình, một cách vô thức, báo gọi mọi người nhanh chóng sắp xếp công việc, tạm gác lại những cuộc điện thoại và rời xa nhịp sống hối hả, bộn bề hàng ngày để nhanh chóng về nhà, ngồi quanh mâm cơm với những người thân yêu. Vào đêm 30, thấy con cháu tề tựu đông đủ quanh mâm cơm sau khi cúng giao thừa, thế là thấy Tết về rồi.

Tính kết nối của chiếc mâm không chỉ thể hiện ở bữa cơm ngày thường. Ở lễ ăn hỏi, những chiếc mâm xếp đầy trầu cau, sính lễ đã giúp trai gái nên đôi nên cặp, đưa hai họ về cùng một nhà. Trong những dịp lễ tết, mâm lễ cúng được sửa soạn chu đáo để đặt lên bàn thờ cúng tổ tiên, thể hiện sự thành kính, biết ơn của con cháu.

Ngoài việc gắn kết những thành viên trong gia đình, chiếc mâm đôi khi cũng là hiện thân của sự phân chia cao thấp bởi những quan niệm phong kiến xưa cũ và gia trưởng. Trong những dịp giỗ tết ở nông thôn, đến ngày nay vẫn còn khái niệm mâm trên mâm dưới. Khi vào bàn tiệc, phụ nữ ngồi với nhau, xung quanh là đám trẻ con. Trong khi các cụ lớn tuổi và đàn ông ngồi cụng ly vui vẻ, thoải mái ăn uống thì phụ nữ vừa chăm trẻ con, vừa chạy lên chạy xuống để phục vụ mâm khác. 

Gia đình ba thế hệ cùng nhau ăn tối. Ảnh: Trang Six.

Với những gia đình Việt Nam hiện đại ở thành phố, sự gắn kết giữa các thành viên và thế hệ dần trở nên ít hơn. Em gái tôi, sinh viên năm hai, nói rằng không khí trong nhà khiến bản thân thấy ngột ngạt. Cô gái thấy ăn quà quán xá cùng bạn bè vui hơn nhiều. Thói quen và sở thích ăn uống của cô em tôi, và cũng là của các bạn trẻ bây giờ là một trong những yếu tố khiến những buổi gia đình quây quần ăn uống bên nhau ngày một thiếu vắng.

Ngày nay, các hàng quán cũng đang tìm cách để tích hợp truyền thống và hiện đại trước những thay đổi văn hóa mới mẻ. Chủ các nhà hàng hiện đại phục vụ món Việt Nam cũng bày biện món ăn trên mâm cơm truyền thống. Ngồi ăn quanh mâm cơm tròn là cách giúp các đối tác làm ăn dễ dàng giao tiếp, tạo cảm giác tin tưởng hơn. Chủ các homestay cũng hay nấu mời khách cùng dùng bữa để thưởng thức hương vị truyền thống đích thực của ẩm thực Việt.

Tự bao đời, mâm cơm đã nuôi dưỡng biết bao thế hệ, luôn ở đó trong mỗi lần sum họp như nói khẽ cho ta nghe rằng: giữa chúng ta, những thành viên trong gia đình, giữa bạn và tôi đều có sự kết nối lạ kỳ. Chúng ta không lẻ loi trong cuộc sống mà là một phần của những vòng tròn gắn kết, rất thiêng liêng và đầy yêu thương.

Tản Mạn Về Tục Thờ Cúng Tổ Tiên Ở Việt Nam Và Thế Giới

Đồ Thờ Cúng Tâm Linh chia sẻ với bạn đọc bài viết của ThS. Nguyễn Ngọc Thơ về thờ cúng tổ tiên ở Việt Nam và thế giới.

“Con người có tổ có tông Như cây có cội, như sông có nguồn”

Câu ca dao ngày nào vẫn được bọn trẻ ê a đánh vần trong những buổi học đầu đời. Biết bao thế hệ trôi qua và biết bao thế hệ lại đến, tất cả đều được dạy cách làm người, cách sống một cuộc sống trọn đạo với đạo đức gia đình, với truyền thống thờ tổ tiên. Thời cuộc dẫu có thăng trầm dâu bể, bia đá dẫu có mòn, vật có thể đổi, sao có thể dời, truyền thống ấy vẫn tồn tại.

Bất chợt có ai đó chợt hỏi rằng, người Việt Nam ta thờ tổ tiên ông bà tự khi nào, câu trả lời tất nhiên sẽ là “lâu rồi, lâu lắm rồi nên không nhớ nỗi”. Thuở lập quốc, con cháu dòng dõi Lạc Long Quân – Âu Cơ đã gầy dựng nên truyền thống ấy, bao lớp sóng dâng rồi hạ, bao binh biến đi qua rồi hòa bình trở lại, truyền thống ấy vẫn ngày một đơm hoa kết trái, được Nguyễn Đình Chiểu khẳng định chắc nịch trong thơ Lục Vân Tiên:

“Thà đui mà giữ đạo nhàCòn hơn sáng mắt ông cha không thờ”

Không phải chỉ có người Việt Nam mới có tục thờ cúng tổ tiên. Thưở bình minh văn minh, tục thờ này hầu như có mặt ở từng góc cạnh của thế giới. Qua trường kì lịch sử nhân loại, tục thờ trải qua những biến đổi nhất định, ở cả nội dung và hình thức, cho đến nay vẫn tồn tại ở nơi này nơi khác, ở dạng này hay dạng khác.

Nhìn trên bản đồ văn hóa thế giới, chúng ta có thể phân tục thờ cúng tổ tiên ra hai phong cách đông – tây với những điểm khác biệt tương đối. Phong cách phương Đông có trọng tâm ở vùng Đông Nam Á nông nghiệp lúa nước, phía bắc lên đến Trung Hoa và phần còn lại của Đông Bắc Á, phía đông qua vùng biển Tây Thái Bình Dương (Polynesia, Micronesia, Melanesia…), còn phía tây xuyên qua Nam Ấn đến tận Ai Cập cổ đại và vùng châu Phi nhiệt đới (hạ Sahara). Thứ hai là nhóm văn hóa phương Tây Kitô giáo có trọng tâm nằm ở châu Âu. Giữa hay nhóm này có một nhóm trung gian kết nối cả hai phong cách nằm ở khu vực Trung – Nam Mỹ và các quốc gia phương Đông chịu ảnh hưởng mạnh của văn hóa phương Tây.

Ở nhóm thứ nhất, tục thờ cúng tổ tiên là sợi dây thiêng kết nối ba chuỗi thời gian quá khứ – hiện tại – tương lai của từng gia đình, trong đó giá trị đạo đức từ quá khứ sẽ là tiêu chí cho cuộc sống hiện đại và là nguồn sống của tương lai.

Nói về tục thờ này ở Việt Nam, một trang web nước ngoài viết “thờ cúng tổ tiên ông bà là tín ngưỡng gốc xuyên suốt quá trình lịch sử Việt Nam, nó là sợi dây liên kết rắn rỏi để góp phần cột chặt tính thống nhất toàn dân tộc và cũng là cội nguồn của các phong tục, tín ngưỡng khác”. Nhà dân tộc học người Nga G.G. Stratanovich cũng có cách nhìn nhận tương tự. Người Việt Nam dù theo Phật giáo, Đạo giáo hay Kitô giáo, nhất thể đều thờ cúng tỗ tiên. Đó là một phần máu thịt vẫn ngày đêm rong ruổi trong huyết quản để nuôi sống cả cơ thể đạo đức gia đình.

Người Việt Nam và các nước phương Đông coi trọng ngày mất và ngày giỗ của tổ tiên, thể hiện của tinh thần coi trọng quá khứ và di sản từ quá khứ. Có hai ý nghĩa lớn hình thành nên đạo thờ này ở phương Đông, một là quan niệm chữ hiếu đối với thế hệ đi trước, qua các nghi lễ thể hiện mong muốn ông bà tổ tiên có một cuộc sống tốt đẹp ở thế giới bên kia, bên cạnh họ cũng mong muốn được vong linh tổ tiên che chở, “chỉ đạo” trước những khúc mắc của cuộc sống phàm trần, và hai là ý nghĩa giáo dục dành cho người còn sống.

Đạo thờ ông bà gắn liền với chữ hiếu. Hơn ai hết từ thưở bé thơ chúng ta đã được kể chuyện một người đàn ông toan chở mẹ già bỏ vào rừng sâu cho rảnh việc lại bị chính con trai mình học cách để sau này cũng đẩy chính anh ta vào rừng. Vậy đó, đạo hiếu Việt Nam vẫn còn nguyên giá trị, vẫn là bài học lớn đến nỗi cả đời chúng ta vẫn không thể học hết. Ở tầm cao hơn, đạo hiếu trong gia đình chỉ là tiểu hiếu, còn đạo hiếu với non sông, giống nòi mới là đại hiếu. Mỗi người con đất Việt đều phải học sóng đôi hai chữ tiểu hiếu, đại hiếu thiêng liêng này.

Giống như người Việt Nam, vào ngày cúng tổ tiên, người Trung Hoa cũng bày mâm cỗ, hoa trái và đốt vàng mã và một số vật dụng bằng giấy với hy vọng người đã khuất sẽ được hưởng thụ hoặc sẽ nhận được ở kiếp sống bên kia. Người Dayak (đảo Borneo), người Toraja (đảo Sulawesi) ngày nay vẫn giữ tục thờ tổ tiên và cúng tế truyền thống. Người Nhật, người Triều Tiên vẫn coi phong tục này là một di sản quý báu cho tương lai dù đã có nhiều thay đổi. Người Ai Cập cổ đại với niềm tin tái sinh – bất tử của linh hồn luôn coi việc thờ tự người đã khuất là một phần trách nhiệm trong đời sống tâm linh của mỗi gia đình. Với hầu hết các dân tộc phương Đông, thế giới hôm qua là một phần quan trọng không thể thiếu cho xã hội hôm nay và ngày mai.

Đạo thờ ông bà còn là một sợi dây linh thiêng gắn kết gia đình, dòng tộc, qua đó mỗi thành viên đều được giáo dục đạo đức truyền thống gia đình. Ý nghĩa ấy phần nào thể hiện tính cộng đồng vốn có trong văn hóa nông nghiệp phương Đông.

Vào bất kì một gia đình người Việt nào, cái đập vào mắt đầu tiên chính là bàn thờ tổ tiên đặt ở vị trí trang trọng nhất. Ngày lễ tết, ngày tế tự hay các dịp hiếu hỷ khác, con cháu quây quần trước là kính cẩn vong linh ông bà tổ tiên, sau là sưởi ấm quan hệ gia đình, dòng họ. Vong linh ông bà tổ tiên nơi chín suối kia có biết được tấm lòng hiếu thảo của con cháu hay không là điều nằm ngoài tầm hiểu biết của chúng ta, song giá trị đọng lại trong nhận thức của từng thành viên là vô cùng quý giá.

Cũng như vậy, người Trung Hoa, người Nhật Bản và người Triều Tiên dù bận rộn đến mấy cũng thu xếp thời gian về với gia đình trong ngày kỷ niệm tổ tiên. Một số dân tộc Đông Nam Á coi ngày tế tự ông bà là ngày hội gia đình, có khi mở rộng ra cả làng bản. Cư dân vùng Trung Phi tự tay nấu lấy những món ăn ngon nhất mà sinh thời ông bà tổ tiên thích ăn bày quanh mộ phần người đã khuất. Sau cúng tế, mọi người quây quần cùng ăn với nhau trong một không gian thực sự ấm cúng. Người Polynesia tụ tập nhảy múa, đánh trống khua chiêng trong ngày giỗ tổ tiên với hy vọng linh hồn người chết sẽ quay về cùng hòa vào không khí chung như những thành viên thực sự. Một số nơi vùng Nam Ấn nay vẫn giữ tục thờ trong gia đình.

Ở nhóm thứ hai, tục thờ cúng tổ tiên ở thế giới phương Tây tương đối nhẹ nhàng, chủ yếu là lưu lại kỷ niệm của người đã khuất, thể hiện lời tạ ơn đối với những người đi trước. Đối với họ, muốn đến tương lai phải hướng về phía trước.

Không thể nói người phương Tây không có tục thờ tổ tiên. Tục thờ là một dạng tín ngưỡng dân gian, hiện diện bên trong từng gia đình dưới những hình thức khác nhau mà không có một quyển kinh sách nào quy định, do vậy không có một ranh giới rõ ràng giữa tục thờ này với các tín ngưỡng khác. Lịch sử đã chứng minh châu Âu cổ đại đã từng có tục thờ tổ tiên tại gia trước khi có những biến đổi lớn do tác động của quan niệm tư tưởng xã hội. Người La Mã xưa là một ví dụ, họ có tục lập bàn thờ tổ tiên trong nhà dù chưa phải là một hiện tượng cộng đồng.

Từ thời trung cổ đến nay, các dân tộc châu Âu và sau này cả vùng Bắc Mỹ vẫn duy trì tục Ngày các linh hồn vào ngày 2/11 hàng năm ngay sau Ngày các thánh (1/11). Người Đức, người Áo thường đến nghĩa trang thắp nến cầu nguyện. Người Tây Ban Nha, người Mỹ cũng có các hoạt động tương tự. Trong các dịp lễ hội mang tính tôn giáo khác như Lễ phục sinh, Lễ Giáng sinh v.v. người ta vẫn dành những khoản thời gian nhất định để cầu nguyện, để tưởng nhớ người đã khuất. Người Ireland thì có hẳn ngày Samhain (tiền thân của lễ Halloween ngày 31/10) riêng của họ theo lịch Celtic.

Đối với người phương Tây, việc thờ cúng tổ tiên vẫn thể hiện quan niệm chữ hiếu, vẫn chuyển tải thông điệp giáo dục đạo đức gia đình, song các giá trị ấy không phải là tất cả hành trang để mang vào tương lai. Đối với họ, ngày hôm nay khác ngày hôm qua, và ngày mai cũng phải khác ngày hôm nay. Chuỗi đời luôn là sự phát triển bất tận, trong đó vai trò cá nhân ở từng thời điểm rất được coi trọng. Đã từ lâu rồi, người phương Tây không còn giữ hình thực cúng giỗ, và nếu có cũng chỉ mang tính hình thức tự phát.

Nằm giữa hai phong cách ấy là thế giới của sự pha trộn giữa tín ngưỡng bản địa và truyền thống Kitô giáo. Người Mexico bản địa (gốc Aztec), người Honduras, Guatemala (gốc Maya) ngày nay kết hợp cả hai truyền thống ấy trong nghi lễ Ngày của người chết (Day of the Dead) vào hai ngày 1 và 2 tháng 11 hàng năm. Ngày đầu tiên dành cho các linh hồn trẻ em, trong khi ngày thứ hai là để tưởng nhớ người trưởng thành. Trong cả hai ngày, mọi hoạt động cộng đồng đều hướng về người đã khuất. Họ lập bàn thờ có di ảnh người chết, bày lên mâm trái cây cùng các món ăn đặc biệt, bánh kẹo, có cả tiền vàng mã, và đặc biệt là không thể thiếu những chiếc sọ người làm bằng bột bánh hay sô-cô-la.

Bàn thờ được giữ nguyên trong một thời gian dài, có khi suốt cả năm. Người dân tụ hợp ca hát, nhảy múa và dành một khoảng không gian, thời gian nhất định cho người chết với suy nghĩ họ cũng đang “tham gia” hăng hái. Nghi lễ này vốn xuất phát từ tục tế Nữ thần Chết Catrina trong tín ngưỡng bản địa, phát triển qua quá trình giao lưu với văn hóa Tây Ban Nha du nhập từ thế kỷ 16. Phong tục Trung Mỹ này cũng được “xuất ngoại” vào châu Âu, hiện có thể được tìm thấy trong phong tục của người Czech, hay sang Thái Bình Dương đến tận New Zealand.

Ở lục địa Nam Mỹ, người Brazil, người Peru vẫn có tục tương tự song chỉ mang tính chất địa phương. Phong cách pha trộn này còn hiện diện ở các nền văn hóa phương Đông khác có tiếp xúc với Kitô giáo. Người Philippine, người Hawaii, cùng một số dân tộc ở châu Phi cũng kết hợp truyền thống bản địa với những hoạt động theo nghi thức voodoo (hoặc shaman) với tục Ngày các linh hồn từ phương Tây đến.

Văn hóa thế giới mang tính đa nguyên. Tục thờ cúng tổ tiên cũng mang tính đa nguyên. Có thể mượn hình ảnh hai cây đời đông – tây do học giả người Ấn A.K. Ramanujan đề xuất khi so sánh quan niệm giáo dục đạo đức gia đình Ấn Độ và châu Âu để thể hiện sự khác biệt này. Theo đó, ý nghĩa giáo dục đạo đức gia đình trong truyền thống Việt Nam và phương Đông được tượng trưng bằng hình ảnh một thân cây mọc ngược (gốc ở trên, ngọn trút xuống dư gốc và thân cây ở vị trí cao nhất, phần ngọn cây luôn nằm ở vị trí thấp hơn). Ngược lại, ý nghĩa ấy trong văn hóa phương Tây lại là hình ảnh thân cây mọc thẳng đứng từ dưới đất lên, thế giới hôm qua và hôm nay sẽ là phần rễ và thân cây làm nền tảng cho ngọn cây mọc vụt lên trong không gian. Có thể kiểu ví von này chưa thật sự hoàn chỉnh, song nó vẫn thể hiện một ý nghĩa tương đối.

Mỗi phong cách đều có những điểm mạnh, yếu khác nhau của nó. Trong thế giới của thời đại thông tin hiện nay, những quy luật giá trị trong tục thờ cúng tổ tiên chắc chắn có những thay đổi nhất định, hoặc tích cực hơn, hoặc xấu hơn. Hơn ai hết, người Việt Nam chúng ta phải tỉnh táo để nhận thức đúng vai trò và nhiệm vụ của mình trong việc gìn giữ và phát huy tục thờ truyền thống này, sáng suốt để bổ sung cho những hạn chế do nhu cầu của thời đại mang đến để những thế hệ Việt Nam mai sau luôn sống trong một không gian gia đình đầm ấm, hạnh phúc.

(Nguồn: Tạp chí Phong cách sống (Lifestyle), 1/2008)

Giới Thiệu Về Cái Mâm Cơm

Giới thiệu về cái mâm cơm

Trong gia đình Việt Nam chiếc mâm cơm là một đồ dùng vô cùng quen thuốc. Ở bất kỳ gia đình nào ta cũng bắt gặp hình ảnh những chiếc mâm cơm vô cùng gần gũi được làm từ nhiều vật liệu khác nhau, có gia đình dùng mâm cơm bằng gỗ, có gia đình dùng mâm nhôm, mâm đồng…Nhưng bất kỳ gia đình nào cũng đều sắm cho mình một chiếc mâm. Mâm cơm xuất hiện trong bữa ăn của gia đình chúng ta ít nhất ngày hai lần là nơi để trưng bày những món ăn của gia đình. Mâm cơm cũng là nơi gắn kết các thành viên trong gia đình quây quần sum họp lại với nhau.

Thời ông bà ta mâm cơm thường được làm bằng gỗ là nhiều nhất. Một chiếc mâm cơm thường có phần lòng mâm, phần vành mâm và phần đế. Phần lòng mâm thì được thiết kế tròn đều dùng để dựng các đĩa thức ăn lên đó, còn vành mâm giúp người ta có thể cầm và bê mâm cơm di chuyển dễ dàng. Phần đế mâm thiết kế giúp cho mâm cơm cao lên một chút vừa tầm ngồi ăn cơm của mội người. Gia đình bình dân thì dùng mâm mộc còn gia đình giàu có khá giá như quan lại hoặc địa chủ thì dùng mâm son được sơn màu đỏ bên trong lòng mân và vành mâm sơn màu vàng.

Sau thời kỳ mâm gỗ thì mân đồng xuát hiện, mâm đồng trong sạch sẽ và sang trọng hơn, khi cọ sửa thuận tiện hơn không bị hỏng hóc học bị mối mọt nên loại mâm này khá được ưa chuộng. Tuy nhiên, mâm đồng thau khá đắt bởi nguyên liệu của nó quý hiếm nên ngày người ta thường dùng mâm nhôn hoặc mâm inox giá cả hợp lý, và dễ dàng trong việc cọ rửa. Các loại mâm đều sử dụng được khá nhiều năm mà không hề lo bị hỏng hóc, màu sắc sáng loáng, bền đẹp.

Mâm cơm là đồ dùng vô cùng quan trọng bởi nó là nơi cả gia đình sum vầy bên nhau. Một gia đình dù giàu có hay nghèo khổ thì bữa cơm vẫn là linh hồn của gia đình đó gắn kết các thành viên trong gia đình. Ngày nay nhiều gia đình không còn dùng mâm cơm mà họ thường dùng bàn ăn. Nhưng hầu hết các gia đình vẫn đều sắm mâm cơm để bày biện đồ ăn thắp hương cúng ông bà tổ tiên và mâm cơm giúp di chuyển đồ ăn thuận tiện hơn.

Khi chúng ta tham dự một bữa ăn của một gia đình nào đó, nhìn vào mâm cơm người ta có thể thấy được nếp sống của gia đình đó. Người xưa thường nói “Ăn trông nồi ngồi trông hướng” mâm cơm gia đình thể hiện lễ giáo, gia phong của một gia đình. Trong mâm cơm gia đình cha mẹ con cái vui vẻ chuyện trò, kính trên nhường dưới thì đó chính là một gia đình hạnh phúc có nề nếp. Trong mâm cơm gia đình mà mọi thành viên chỉ ăn cho thật nhanh mà không chuyện trò với nhau, hoặc không khí gia đình lúc nào cũng căng thẳng thì mâm cơm gia đình dù có ngon tới mấy cũng không tạo nên không khí gia đình vui vẻ.

Chiếc mâm cơm là hình ảnh bình dị quen thuộc trong mỗi gia đình Việt Nam gắn bó từ thế hệ này tới thế hệ khác của gia đình Việt. Mâm cơm thể hiện được đời sống tinh thần gắn bó đoàn kết của gia đình Việt

Tản Mạn Cỗ Chay Xứ Huế

Ăn chay là hiện tượng phổ biến ở Huế bởi nơi đây vốn là trung tâm Phật giáo của cả nước và có gần hai phần ba dân cư là Phật tử tại gia. Người Huế định ngày ăn chay trong tháng gọi là trai kỳ, có thể là nhị trai, tứ trai, thất trai, thập trai hay trường trai. Cho nên không lấy làm lạ khi cứ ngày Rằm hay mồng Một hàng loạt hàng quán ven những con đường thơ mộng bỗng trở nên chay tịnh! Vào mấy ngày này bạn có thể thưởng thức một món chay bình dân như bún trộn khô, bún nước, bánh lọc, bánh canh, cháo nấm… ở bất kỳ nơi đâu. Tuy nhiên, để được “tận mục sở thị” cái trình độ điệu nghệ và sự thăng hoa của các món chay xứ Huế bạn phải tham dự một buổi tiệc chay đúng nghĩa vào dịp kỵ giỗ hoặc ngày lễ lớn của đạo Phật.

Rằm tháng Bảy vừa rồi (2013) tôi được tham dự lễ cúng nhân ngày Vu Lan tại gia đình một người bạn Huế. Dù đã quen với những dịp “cúng kiếng” ở vùng đất Cố đô song tôi vẫn ngỡ ngàng bởi buổi lễ diễn ra trang trọng và rất lớn. Tất nhiên “trang trọng và lớn” không phải vì mâm cao cỗ đầy sơn hào hải vị mà là cách thức con cháu bày tỏ tấm lòng thành kính với tổ tiên. Trước ban thờ nghi ngút khói hương trầm thơm ngát, vị cao tăng trên chùa tuyên sớ trong tiếng nhạc lễ réo rắt như nghi thức chốn cung đình. Đặc biệt, đồ lễ hôm đó ngoài hoa quả, tiền vàng, đồ mã, gia chủ làm tiệc chay hoàn toàn, tuy thanh đạm nhưng tinh tế, thịnh soạn và mang nhiều ý nghĩa.

Người phụ nữ Huế nói rằng làm một bữa tiệc mặn khó một thì làm tiệc chay khó mười! Bạn thử nghĩ xem, một bàn tiệc mặn thông thường có gì? thịt gà, thịt heo, cá, giò, chả… thì cỗ tiệc chay cũng phải có những món như thế nhưng phải chế biến từ các nguyên liệu phi động vật, nghĩa là chỉ bằng bột mì, mè, đậu, bột lọc, mít non, chuối xanh cùng các loại củ quả khác… Cho nên làm cỗ chay thực ra là một quá trình tạo hình nghệ thuật và phù phép màu sắc, hương vị cho món ăn. Chỉ người đầu bếp có tâm hồn nghệ sĩ và tài năng, khéo léo như ảo thuật gia mới có thể làm ra một mâm cỗ chay hoàn hảo.

Với sự chuẩn bị nguyên liệu công phu, tỉ mỉ, mỗi thứ một chút… người đầu bếp có thể tạo ra vô vàn món ăn nào là chả quế, giò lụa, sườn heo chiên, cá chiên, gà xé bóp rồi nem rán… gợi lên cả hình dáng, màu sắc và hương vị như chính tên gọi mặn trần tục của nó.

Từ trái mít non hoặc quả chuối xứ còn trong búp, luộc nhừ xé nhỏ trắng muốt, trộn thêm rau răm, tiêu, ớt, chanh đã có đĩa “thịt gà xé bóp” đậm đà mùi vị. Còn món sườn heo ram lại là tác phẩm chế biến từ khoai lang và đậu xanh! Người ta thái khoai lang thành miếng bằng cỡ ngón tay rồi chiên vàng giả làm vì sườn heo. Đậu xanh đãi vỏ đồ chín, đánh nhuyễn, nêm thêm xì dầu, đường, tiêu, muối trộn đều giả làm thịt heo. Sau đó xếp mấy miếng khoai vào giữa hai lớp bột đậu đã được cán ra khay. Dùng tay ấn nhẹ từng chút, từng chút một cho ba lớp nguyên liệu dính chặt vào nhau rồi cho vào chảo dầu chiên vàng lần nữa. Nhìn từng miếng sườn heo vàng suộm trên lớp rau sống trong dĩa không khác gì miếng sườn heo thật khiến không ít người ngỡ ngàng mà quên đụng đũa.

Hay món chả làm từ khoai tía cũng công phu và sáng tạo vô cùng. Khoai tía nạo ra đánh nhuyễn rồi ướp với boa – rô băm nhỏ, muối, tiêu, xì dầu. Khéo léo viên lại từng miếng tròn dẹp như lát chả rồi chiên vàng. Món này được dọn lên với một chén nước tương kho chế biến từ dầu ăn, tương đậu nành xay và một chút đường được cô đặc trên lửa than… tạo nên mùi vị ngậy, béo thật dễ chịu và khó quên… Xa xa trên mâm tiệc, một đĩa cá trê chiên vàng nâu cánh gián nhưng không thể ngờ rằng đó là tác phẩm từ quả cà tím tẩm gia vị chiên dầu.

Mâm cỗ còn thịnh soạn hơn với các loại bánh lọc, bánh nậm. Chất bột thì giống với bánh mặn, chỉ khác ở chỗ nhân chay. Mỗi loại bánh có hương vị riêng không lẫn với nhau và ngọn tuyệt.

Dẫu không thể kể hết ra đây sự phong phú của các món ăn thường thấy trong mâm cỗ chay xứ Huế, song tựu chung lại có thể thấy món nào cũng đẹp, ngon không kém gì nem công chả phụng! Quả thực mâm cỗ chay đã khẳng định thêm rằng đối với người Huế thì “đồ ăn không phải cứ hễ cá thịt thì ngon, mà dưa rau thì dở”. Ngược lại, từ những nguyên liệu bình dị, dễ tìm chốn bình dân, qua sự sáng tạo tuyệt vời, phối trộn tài tình mà người phụ nữ Huế đã tạo ra những món chay đạt đến một trình độ nghệ thuật hiếm thấy. Nghệ thuật từ sự hài hòa màu sắc, hương vị và cách trình bày trên bàn tiệc đến sự thể hiện triết lý sống của con người chốn đến kinh một thời rất nhẹ nhàng, thanh cao, tuy nghèo mà sang trọng.

Có thể nói rằng trong bức tranh ẩm thực Huế nói chung, món chay và món mặn tạo nên thế cân bằng với nhau như một cặp tự tình “sông – núi” đến kỳ lạ. Người ta “thương” ẩm thực mặn của Huế bao nhiêu thì càng ngỡ ngàng và thán phục về độ tài tình của ẩm thực chay bấy nhiêu. Tuy nhiên, có lẽ ít ai biết rằng ẩm thực chay Huế từ những món bình dân đến món dọn trên mâm cỗ còn mang ý nghĩa nhân sinh và là nơi con người gửi gắm hạnh nguyện đến với đất trời, tổ tiên.

Trước hết, người Huế nấu cỗ chay là để thể hiện lòng kính trọng đối với ông bà tổ tiên. Quá trình chuẩn bị làm cỗ tuy không tốn kém về mặt tiền bạc nhưng công phu, tỉ mỉ. Thông qua quá trình chế biến những món ăn thanh đạm người Huế muốn gửi gắm tâm tư, tình cảm và làm trọn đức nhân, đức nghĩa ở đời.

Ngoài ra, nấu chay, ăn chay đối với họ còn để hướng tính thiện. Tôi được biết, nhiều gia đình Huế chưa một lần dám mua con gà, con vịt còn sống về nhà tự làm thịt bao giờ vì hợ sợ phải kết thúc một sự sống sẽ gây nên nghiệp chướng. Vì vậy, nấu và ăn các món có nguồn gốc thực vật là cách họ thể hiện lòng trân trọng sự sống, loại bỏ tham, sân, si, nuôi dưỡng tâm hồn, giúp lòng thư thái, hòa vào thiên nhiên đất trời. Cho nên, người Huế ăn chay không chỉ để đổi thực đơn hay khẩu vị mà còn để dưỡng tâm tính, một lòng hướng Phật. Quả là như nhiều người chiêm nghiệm:

“Tình thương trải rộng đất trời Sống bằng chay tịnh hóa đời thanh cao”

Hơn nữa, đối với người Huế nấu chay và ăn chay còn để cầu bình an cho tổ tiên, cha mẹ hay siêu độ khi tiên tổ và cha mẹ không còn nữa. Đó là việc làm thể hiện đạo Hiếu rất thiết thực, giản dị, không phô trương mà mang ý nghĩa tâm linh rất lớn. Các gia đình Huế vào những dịp kỵ, giỗ hay lễ trọng thường làm cỗ chay dâng cúng. Ngay cả dịp Tết, khác với các vùng miền trên cả nước có rất nhiều đặc sản thịt, cá thì nhiều gia đình Huế vẫn làm cỗ chay với ý niệm cầu cho hương linh tổ tiên sớm siêu sinh tịnh độ và mong con cháu cũng gặp điều may mắn, bình an. Nét văn hóa độc đáo này có lẽ chỉ riêng có trên đất Huế – Thần kinh!

Từ bao đời nay, “Sông Hương – Núi Ngự”, “mè xửng” rồi “bún bò giò heo” hay cả những món ăn chay nữa đã trở thành đặc sản của Huế – Một vùng đất của cung vàng điện ngọc và chùa chiền cổ kính. Lữ khách muôn phương đến Huế thưởng ngoạn cảnh sắc mây trời thơ mộng và “thời” một món chay trên mâm cỗ là thêm một lần trải nghiệm chất nghệ sĩ tài hoa của người Huế; thêm một lần “tìm lối vào cõi thiện, cõi tâm linh” siêu thoát để rồi sống tốt hơn, đẹp hơn giữa cuộc đời.

N-Phú Xuân

Tết Việt Và Ý Nghĩa Bữa Cơm Gia Đình

Mỗi dịp Tết đến, trong lòng mỗi người đều dâng lên những cảm xúc khó tả. Có thể là vui, có thể là lo lắng, nhưng chắc chắn ai cũng sẽ cảm thấy bồi hồi và mong đợi những giây phút gia đình được sum họp, vui vầy bên mâm cơm gia đình đậm tình yêu thương.

“Mừng ngày Tết trên khắp quê tôi Người ra Trung, ra Bắc, vô Nam Dù đi đâu ai cũng nhớ Về chung vui bên gia đình.”

Bữa cơm ngày Tết không chỉ là dịp để mọi người trong gia đình có thời gian ngồi lại bên nhau, mà nơi đó còn khơi nguồn biết bao tinh thần hay, ý nghĩa đẹp cùng những giá trị mang tính nhân văn sâu sắc.

 

Hạnh phúc từ những bữa cơm gia đình

Bữa cơm ấy chỉ cho mỗi người biết cách quan tâm, chăm sóc lẫn nhau; dạy cho mỗi thành viên đạo làm người, cách đối nhân xử thế; giáo dục con cháu biết kính trên nhường dưới, biết hiếu thuận với ông bà cha mẹ… Đó cũng là lúc mà mỗi người có thể cởi mở, chia sẻ cùng nhau mọi vấn đề trong cuộc sống, ông bà nhắc nhở con cháu về những giá trị văn hoá tốt đẹp của gia đình, dòng họ, cũng như không quên trao cho nhau những lời chúc tốt đẹp về một năm mới an khang thịnh vượng, vạn sự như ý.

Từ bữa cơm ngày Tết nghĩ đến cuộc sống thường ngày

Cuộc sống hiện đãi với sự phát triển về công nghệ mang đến nhiều tiện ích, giúp cho cuộc sống trở nên dễ dàng hơn. Tuy nhiên, nó cũng vô tình làm cho một số giá trị văn hoá tốt đẹp của chúng ta bị mai một. Người phụ nữ với trách nhiệm công việc xã hội đã không còn đủ thời gian để chuẩn bị cho gia đình một bữa cơm tươm tất. Các ông chồng cũng dành thời gian cho các buổi giao lưu với đối tác hơn là trở về nhà nơi vợ và con đang đợi. Con trẻ thì thích chơi game, đắm mình trong thế giới ảo, thích chia sẻ trên facebook hơn là tâm sự với cha mẹ. Những điều này đã khiến cho bốn chữ “hạnh phúc gia đình” trở nên mong manh hơn bao giờ hết.

Đâu rồi niềm hạnh phúc vô bờ bến của người mẹ khi được “cha con nó” khen cơm ngon? Đâu rồi những lời dạy của cha khi con bỗng thấy cuộc sống trở nên phức tạp? Đâu rồi những phút giây cả nhà nói cười rôm rả, hạnh phúc bên nhau? Ai cũng hiểu giá trị của mâm cơm sum vầy ngày Tết, nhưng tại sao trong cuộc sống thường ngày chúng ta không duy trì được điều đó?

Nguồn: forum.gocit.vn

Sưu tầm: Bá Hải – Tổ Bảo trì

Tản Mạn: Nguồn Gốc Và Hiện Trạng Tục Cúng Dâng Sao Giải Hạn Hiện Nay

TẢN MẠN:

Nguồn gốc và hiện trạng tục cúng dâng sao giải hạn hiện nay và có nên cấm hay không???

1. Nguồn gốc và hiện trạng tục cúng dâng sao giải hạn hiện nay

Không ai biết chính xác thời điểm ra đời của nghi lễ dâng sao giải hạn, chỉ biết nguồn gốc cúng dâng sao giải hạn là một tập tục từ Đạo Giáo – Trung Hoa khoảng thế kỷ thứ 14 (có được nói đến trong Tam Quốc diễn nghĩa của La Quán Trung). Theo thuyết Ngũ hành, con người sống và chịu ảnh hưởng, tác động của vũ trụ, mỗi cá nhân thuộc về một không gian riêng, hàng năm mỗi người đều bị một vì sao chiếu mạng vào ứng với tuổi của từng người.

Có nhiều học thuyết quay xung quanh quan điểm này như thuyết Âm – Dương; Bát quái … từ đó phát triển thành các thuật pháp tiên đoán (bói toán) dùng để đưa ra các dự đoán có tác động đến con người được coi như tiền định (số phận) trong khoảng thời gian (niên hạn) nhất định như Kinh dịch, Tử vi, Phong thuỷ …

Xuất phát điểm, Đạo Giáo Trung Quốc chỉ có 7 sao (thất tinh) gồm: Mộc Đức, Vân Hán, Thái Bạch, Thuỷ Diệu, Thổ Tú, Thái Dương, Thái Âm được tôn xưng là thần và được gọi là Tinh quân và con người muốn hoá đổi vận mệnh phải cúng các sao này. Khi truyền bá sang Việt Nam, Người Việt sáng tạo thêm 2 sao là La Hầu và Kế Đô nữa thành Cửu tinh. [Tóm tắt tài liệu của Dương thị Anh: về hiện tượng cúng dâng sao giải hạn]

Trong nhận thức dân gian Việt Nam thì có 3 sao ẩn chứa hung tinh là Thái Bạch: chủ sự Tiêu tán tài sản, cháy sạch cửa nhà; La Hầu (nặng hơn với nam giới) và Kế Đô (nặng hơn với nữ giới) chủ sự những điều đau ốm, bệnh tật, không may mắn cho những người có năm phạm phải sao này.

Nguyên gốc, việc cúng lễ được thực hiện tại các đạo quán của Đạo giáo do các pháp sư (thầy cúng) thực hiện tại các cung thờ Tử vi Đại đế. Lễ vật chủ đạo gồm bánh kẹo, hoa quả, tiền vàng (vàng mã) không cúng mặn (pháp sư cấm sát sinh), hình nhân thế mạng; Pháp sư mặc trang phục tượng trưng của Tử vi Đại đế (hoặc áo đạo sĩ) để làm các nghi lễ phép thuật như: múa kiếm gỗ (gọi là kiếm Thất tinh), dùng nước phép vẩy lên mọi người và cầm Bài y lệnh chiếu vào mặt người có sao xấu …

Ở Việt Nam hiện nay, Tử Vi Đại đế (Chí tôn Bắc cực Tử vi Trường sinh Đại đế) được coi là Vua cha Thiên phủ của đạo Mẫu Việt Nam – Hoàng Thiên Tiên Thánh Giáo, là vua cha của Cửu Trùng Thiên Thánh mẫu, quản cai hết bầu trời tinh tượng, hết Tiên Thánh Thần linh trên Thiên phủ, Ngài truyền trao Thiên phủ bầu trời cho Mẫu Cửu trùng coi sóc và quản lí … và nếu theo tín ngưỡng thì việc dâng sao giải hạn phải được thực hiện tại các phủ, đền, đình, miếu, quán (nơi thờ thánh – thần) theo đúng nghi lễ riêng chứ không phải được thực hiện tại các chùa (thờ Phật) và do tăng ni thực hiện theo hình thức tụng kinh gõ mõ trong trang phục của đạo Phật.

Việc tổ chức dâng sao giải hạn trong chùa, do tăng ni thực hiện về bản chất là trái với đạo lý nhân quả của đạo Phật, thậm chí một số cao tăng trong Giáo hội Phật giáo Việt Nam còn coi việc dâng sao giải hạn là mê tín. Tuy nhiên, cúng sao giải hạn lại là một trong những hình thức phương tiện mà các chùa Phật giáo vận dụng để đưa chúng sinh đến gần với Phật pháp, việc này có thể xuất phát cùng với cải cách tôn giáo thời nhà Lý , cực thịnh thời nhà Trần với thuyết Tam giáo đồng nguyên (Nho giáo, Phật giáo và Đạo giáo) khi mà các thánh thần cùng được đưa vào thờ phụng khuôn viên nhà chùa.

Khi vận dụng nghi thức cúng sao giải hạn của Đạo giáo, các thầy chủ lễ là tăng ni không sử dụng nghi thức Đạo giáo mà thay vào đó là tụng kinh, sử dụng các nghi thức của Phật giáo và / hoặc cúng theo bài của Đạo giáo. Theo đúng nghi lễ nhà Phật, hàng năm nhà chùa chỉ tổ chức các khoá lễ cúng cầu bình an cho phật tử có ý nghĩa tương tự như dâng sao giải hạn

2. Có nên cấm dâng sao giải hạn???

Tục dâng sao giải hạn được nói đến từ nhiều năm gần đây nhưng từ sau “sự kiện” không nhận giải hạn do thiếu 50k ở chùa Phúc Khánh đã đẩy sự việc đến cao trào và làn sóng dư luận đả phá, coi là mê tín dị đoan, thậm chí nhiều sư tăng đức cao vọng trong trong giáo hội Phật giáo VN cũng đăng đàn trả lời báo chí thể hiện không đồng tình việc cúng dâng sao giải hạn trong chùa và không thừa nhận đây là nghi lễ nhà Phật.

Vậy phải nhìn nhận sự việc này thế nào? Theo quan điểm của tôi sau khi tìm hiểu nguồn gốc của tục cúng sao giải hạn xin có một số nhận xét như sau:

Nếu thuyết “Tam giáo đồng nguyên” đã được chấp nhận, tam phủ, tứ phủ, thánh nhân được thờ cúng trong chùa thì nhà chùa cũng có thể là nơi tổ chức cúng dâng sao giải hạn được, tuy nhiên nghi lễ, nghi thức, y phục … khi hành lễ không thể trùng nhau và phải được thực hiện ở các ban thờ khác nhau.

Cúng sao giải hạn lại là một trong những hình thức phương tiện mà các chùa Phật giáo sử dụng để đưa chúng sinh đến gần với Phật pháp, nói cách khác là một cơ hội đưa giáo lý nhà Phật tiếp cận song song với phong tục địa phương để từ đó có cơ hội cảm hóa người dân thành Phật tử.

Nhà chùa với việc gõ mõ tụng kinh chỉ nên nhận cúng cầu an đúng theo nghi lễ nhà Phật, còn cúng giải hạn phải do đạo sĩ hành lễ tránh hiểu nhầm hai trong một vì một người tu hành không thể ngộ (đắc đạo) đồng thời hai thuyết tâm linh của Phật giáo và Đạo giáo vốn dĩ không cùng triết lý.

Nếu để ý chúng ta sẽ thấy việc phổ cập Phật giáo đang được âm thầm thực hiện một cách có hệ thống và bài bản khi mà trong các bài cúng gia tiên, cúng ngày rằm, mùng một … (là đạo thờ gia tiên ngàn đời của người Việt) được in sẵn đều bắt đầu và kết thúc là 3 câu niệm Phật. Người không am hiểu sẽ niệm Phật một cách vô thức trong khi chả hiểu có ý nghĩa gì??? Hay như việc khi đi chùa trong các dịp lễ tết thường khấn cầu đủ thứ trong khi giáo lý nhà Phật là thuyết nhân quả, tức là ở hiền gặp lành, hay muốn có sức khỏe thì phải giữ gìn, không ăn uống sinh hoạt vô độ rồi cứ đến chùa mà đến cầu xin là được …

Người Việt chủ yếu theo đạo Gia tiên (tập tục thờ cúng người đã chết), Đạo giáo xâm nhập vào Việt Nam cùng với các thời kỳ Bắc thuộc có từ rất lâu so với sự xuất hiện của Phật giáo, cùng với đó là các thuật pháp tiên đoán (bói toán) dùng để đưa ra các dự đoán có tác động đến con người được coi như tiền định (số phận) trong khoảng thời gian (niên hạn) nhất định như Kinh dịch, Tử vi, Phong thuỷ … các thủ tục tín ngưỡng được dị bản như đốt vàng mã, hình nhân thế mạng … từ đó mà hình thành gần như đã được chấp nhận một cách đương nhiên trong dân gian.

Vậy nếu xã hội đã chấp nhận Hầu đồng, hát văn là di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO công nhận; các đền, đình, miếu, mạo, am, quán thờ thánh thần là cơ sở tôn giáo thì sao lại không chấp nhận các nghi lễ tôn giáo (trong đó có cúng dâng sao giải hạn) của Đạo giáo …

Nhà nước sẽ không cấm vì quyền tự do tín ngưỡng (tương tự như không cấm đốt vàng mã mà chỉ tuyên truyền về nhận thức) mà chỉ Giáo hội Phật giáo Việt Nam được quyền không cho phép nhà chùa tổ chức cúng dâng sao giải hạn hoặc phải tuyên truyền rõ các nghi lễ là tách biệt, hướng dẫn cho sư tăng không được thực hành nghi lễ ngoại đạo hoặc nếu thực hành thì phải kèm theo những điều kiện gì.

Còn việc coi cúng giải hạn là nghi lễ tín ngưỡng hay quy là mê tín dị đoan là điều không có căn cứ vì vốn dĩ tôn giáo (Đạo giáo và Phật giáo …) được hình thành và phát triển trên triết lý Duy tâm, không trên cơ sở thuyết Duy vật biện chứng.

Ngô Gia Cường – Tổng hợp phân tích

Cập nhật thông tin chi tiết về Tản Mạn Về Cái Mâm Và Sự Kết Nối Trong Bữa Cơm Việt trên website Apim.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!