Xu Hướng 3/2024 # Sự Tích Đức Phật A Di Đà # Top 7 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Sự Tích Đức Phật A Di Đà được cập nhật mới nhất tháng 3 năm 2024 trên website Apim.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Đức phật A Di Đà là một ngôi giáo chủ trên cõi Lạc Bang, oai đức không cùng, thệ nguyện rất lớn, mở môn phương tiện, độ kẻ chúng sanh ra khỏi Ta bà đem về Tịnh độ.

Trong Kinh Bi Hoa nói rằng: “Về khoảng hằng sa kiếp trước, có một đại kiếp gọi là Thiện trì”. Khi ấy tại cõi Tản đề lam thế giới có vua Chuyển Luân Thánh Vương, tên Vô Tránh Niệm, thống lãnh cả bốn xứ thiên hạ: một là Đông thắng thần châu, hai là Nam thiệm bộ châu, ba là Tây ngưu hóa châu, và bốn là Bắc cu lô châu, tiếng nhơn hiền đồn dậy bốn phương, đức từ thiện đượm nhuần khắp xứ, nên hết thảy nhân dân ai nấy cũng sẳn lòng ái kính.

Vua ấy có nhiều người con và có một vị đại thần, tên là Bảo Hải, con dòng Phạm Chí, rất tinh thông về nghề xem thiên văn.

Ông Bảo Hải lại có một người con trai tướng tốt lạ thường, từ dưới chân lên đến trên đầu đều có ba mươi hai dấu tốt.

Khi con ông mới sanh ra, thì có các hàng khách tôn quý đem nhiều đồ lễ vật đến dưng cho, nhơn vậy mà đặt tên là Bảo Tạng.

Lúc khôn lớn, thì Bảo Tạng xem biết việc đời là thống khổ thân mạng lại vô thường, tự nhiên sanh lòng chán ngán, bỏ cuộc vinh hoa, liền xuất gia tu hành, chẳng đặng bao lâu mà đã thành Phật, hiệu là Bảo Tạng Như Lai, đủ các đạo Pháp nhiệm mầu, thần thông rộng lớn. Khi thành Phật rồi, thì Ngài dạo khắp các nơi mà hóa độ chúng sanh, có nhiều hàng đệ tử đã chứng đặng quả Thanh Văn, Duyên Giác và Bồ Tát, nên nhơn dân ai nấy cũng sẵn lòng hoan nghinh.

Có một bữa kia, vua Vô Tránh Niệm nghe Phật Bảo Tạng cùng Đại chúng đến giảng Đạo tại vườn Diêm Phù, gần bên thành, thì tự nghĩ rằng: “Nay Ta muốn đến chỗ Phật, đặng xem coi giảng Đạo lý gì mà thiên hạ tín ngưỡng đông như thế!”

Nghĩ như vậy rồi, vua cùng các vị vương tử, đại thần và quyến thuộc bèn đến vườn Diêm phù lễ Phật vừa xong, liền đi chung quanh ba vòng, rồi ngồi bên Ngài mà nghe Pháp.

Vua Vô Tránh Niệm xem thấy Đức Bảo Tạng Như Lai khoanh chân ngồi trên bảo tọa có hình con sư tử, rất bực trang nghiêm, đủ tướng tốt đẹp, chung quanh thân Ngài có ánh sáng nhiều sắc chói lòa.

Còn trong Pháp hội thì thấy: nào là những người đã xuất gia làm đệ tử của Phật cạo tóc đắp y, nào là những hàng vương tử đại thần mặc đồ anh lạc, nào là cung nga mỹ nữ dung mạo tốt xinh, nào là sĩ, nông, công, thương, áo xiêm chỉnh đốn, kẻ thì chấp tay ngồi im lặng, người thì quỳ gối thưa hỏi, xem bộ ai nấy cũng chăm ngó Phật mà nghe Pháp cả.

Vua Vô Tránh Niệm quan sát khắp đủ mọi lẽ, bèn ngắm nhìn thân mình, rồi trở lại ngó Phật, mắt sững không nháy, lòng thiệt hoan nghênh, cái tâm niệm tín ngưỡng tự nhiên phát lộ, liền đảnh lễ Ngài và đi xung quanh ba vòng, rồi cũng ngồi xuống một bên Ngài mà chăm nghe lời giảng dạy.

Vua nghe đức Bảo Tạng Như Lai diễn đủ các Pháp, thì lòng đã mở thông, căn thân thanh tịnh, rõ đường giải khổ, biết sự làm lành, liền quỳ xuống chấp tay mà thưa rằng: “Bạch Đức Thế Tôn! Nay tôi muốn sắm đủ những đồ ăn uống: áo chăn, mền nệm và thuốc men, đặng dưng cúng cho Ngài và đại chúng luôn trọn ba tháng ở đây mà giảng đạo, xin Ngài từ bi ai nạp”.

Vua Vô Tránh Niệm thấy Phật nhận lời, liền trở về truyền lịnh sắm sửa đủ mọi lễ, cứ đúng buổi mà dưng cúng không hề trễ nãi.

Vua lại khuyên bảo các vị vương tử, đại thần, quyến thuộc và nhơn dân rằng: “Các ngươi có biết hay không?

Nay Trẫm đã mở lòng bố thí, kính thỉnh Đức Bảo Tạng Như Lai và đại chúng đến mà cúng dường trọn ba tháng. Những đồ báu trọng ngon đẹp của Trẫm thọ dụng bấy lâu nay đều đem dâng cúng tất cả. Các ngươi cũng thể theo ý Trẫm xả bớt huyễn tài mà cúng Phật Tăng đặng cầu phước báu”

Cả thảy đều vâng lời vua khuyên, hết lòng sắm sửa lễ vật mà dưng cúng Phật.

Có một hôm, quan Đại thần Bảo Hải, là phụ thân Đức Bảo Tạng Như Lai, nằm chiêm bao thấy vua Vô Tránh Niệm làm sự bố thí thì lớn, mà việc cầu phước báu thì nhỏ. Sự ao ước của vua còn thuộc về phước hữu lậu trong cõi nhơn thiên, chưa thoát ra khỏi luân hồi sanh tử.

Vậy nên quan Đại thần chẳng đặng vui lòng, vì ý của ông muốn làm sao cho vua phát tâm cầu quả Bồ đề, tu thành Phật đạo mà cứu vớt mọi loài chúng sanh, chớ không muốn cho vua cầu phước báu nhỏ nhen như hàng tiểu dân vậy.

Quan Đại thần suy nghĩ như vậy, bèn đến chỗ Phật Bảo Tạng Như Lai tỏ điềm chiêm bao ấy, và tâu với vua Vô Tránh Niệm rằng: “Muôn tâu Đại Vương! Xin suy nghĩ đến việc này. Về sự sanh tử luân hồi phải bỏ thân này mang lốt khác, nên khó đặng thân người. Nay Đại Vương đã cảm lấy phước báu làm đặng vương thân, thiệt là quí báu biết dường nào! Các Đức Phật tùy cơ duyên của chúng sanh cảm triệu mà ứng hiện ra đời, cũng như bông ưu đàm ứng thời mà nở, thiệt là ít có! Nay Đại Vương gặp Phật xuất thế, thì phần hân hạnh biết bao! Dứt trừ lòng dục vọng, làm mọi sự phước duyên, cũng là việc khó mà Đại vương làm đặng như vậy, thiệt là ít ai bì đặng!

Xin Đại Vương thứ lỗi cho ngu thần hỏi lời này: Ngày nay Đại Vương cúng dường Phật Tăng, dùng phước duyên đó mà cầu nguyện những việc chi, xin cho ngu thần rõ.

Nếu Đại Vương muốn cầu sanh về cõi Trời mà làm một vị thiên tử hưởng sự phước thọ hay là muốn cầu sanh về cõi Nhơn gian làm vua Chuyển Luân, thống lãnh bốn châu thiên hạ như ngày nay vậy, thì cũng còn ở trong khổ ải, chớ chưa ra khỏi vòng sanh tử luân hồi.

Thưa Đại Vương! Hai sự phước báu tôi đã trần tấu đó đều là tướng vô định, đều là sự vô thường, thí như cơn gió thổi, dường tợ đám mây tan, có chắc chắn lâu dài chi đâu mà phải cầu nguyện!

Nếu sanh về cõi Trời, khi hưởng sự khoái lạc mà có tạo ác nghiệp, thì cũng phải đọa vào địa ngục, đặng chịu khổ. Còn như sanh về cõi nhơn gian, thì lại chịu mọi sự khổ não phần thì oán cừu gặp gỡ, phần thì ân ái chia lìa cái khổ trạng ấy không thể kể xiết.

Vì Đại Vương nhờ nhân duyên tu phước đời trước, nên mới hưởng đặng sự tôn vinh như vầy. Nếu nay Đại vương giữ gìn giới luật, thì sẽ đặng phước báu lớn hơn nữa: còn như tu học chánh pháp, thì sẽ thành chưởng trí.

Vậy xin Đại vương nên phát tâm cầu đạo Vô Thượng Bồ Đề, chớ đừng cầu nguyện những việc phước nhỏ nhen như hạng người thường kia vậy.

Vua Vô Tránh Niệm nghe quan Đại thần Bảo Hải khuyến thỉnh như thế, thì tâm lượng tự nhiên mở rộng, liền đáp rằng: ” Trẫm chẳng cầu những việc như khanh nói đó đâu! Trẫm muốn trải khắp trong đường sanh tử, làm sự bố thí, trì giới, hầu nghe những pháp mầu nhiệm, tu hạnh Bồ Tát và cứu vớt chúng sanh, do nhân duyên ấy mà phát tâm Bồ Đề”.

Đại thần Bảo Hải lại nói rằng: “Bồ đề là một đạo rất trong sạch sáng suốt, rất ngay thẳng chính đáng rất trang nghiêm tốt đẹp, rất rộng lớn cao sâu, khắp cả hư không, trùm cả sa giới rất có oai thần mảnh lực.

Vả lại đạo Bồ đề là hạnh bố thí, sẽ đặng giàu sang, là hạnh trì giới, sẽ đặng thanh tịnh, là hạnh nhẫn nhục, sẽ đặng vô ngã, là hạnh tinh tấn, sẽ đặng bất thối, là hạnh thiền định, sẽ đặng vắng lặng, là hạnh Bát nhã, sẽ đặng sáng suốt.

Tu được như vậy mới đến chỗ an lạc và mới chứng đặng quả Niết Bàn. Vậy xin Đại vương nên phát tâm mà cầu đạo ấy.

Vua Vô Tránh Niệm đáp rằng: “Này khanh! Đương thời trung kiếp, mỗi người sống lâu chỉ có tám vạn tuổi mà thôi! Nay Đức Bảo Tạng Như Lai ứng hiện ra đời mà giáo hóa chúng sanh, hoặc có kẻ chứng pháp Tam muội, hoặc có người đặng bực Bồ Tát, hoặc đặng thọ ký làm Phật, hoặc đặng quả báo nơi cõi Nhơn Thiên. Trong hàng chúng sanh có một người nào không trồng căn lành mà Đức Như Lai chẳng nói Pháp đoạn khổ.

Tuy Ngài là phước điền của chúng sanh, song những người không có căn lành thì Ngài không có thể hóa độ cho dứt đặng mọi sự khổ não”.

Nay Trẫm phát Bồ đề tâm, tu Bồ Tát hạnh, học đạo Đại thừa, chứng pháp môn rất mầu nhiệm, chuyên làm Phật sự mà giáo hóa chúng sanh. Trẫm muốn cầu làm sao cho khi thành Đạo Bồ đề, thì Thế giới đặng trang nghiêm thanh tịnh chúng sanh không còn có một chút khổ gì. Nếu đặng như vậy thì Trẫm sẽ chứng đạo Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.

Vua Vô Tránh Niệm nói như vậy rồi, bèn đi với quan Đại thần Bảo Hải đến chỗ Đức Bảo Tạng Như Lai, thấy Ngài đương nhập định, lại dùng phép thần thông biến hóa và phóng hào quang sáng suốt, hiện cả mười phương thế giới của Chư Phật ra trước mặt cho chúng hội xem: hoặc có cõi Phật đã Niết Bàn rồi, hoặc có cõi Phật đương Niết Bàn, hoặc có các cõi vị Bồ Tát mới ngồi nơi đạo tràng dưới cây Bồ đề, đương hàng phục chúng ma, hoặc có cõi Phật mới thành đạo và mới nói Pháp, hoặc có cõi Phật thành đạo đã lâu, đương còn nói Pháp, hoặc có thế giới toàn là các bực Bồ tát, hoặc có thế giới toàn là những hàng Thinh Văn và Duyên Giác, hoặc có thế giới không có Phật, Bồ Tát, Thinh Văn và Duyên Giác chi hết, hoặc có thế giới đủ năm món ác trược, hoặc có thế giới đủ các thứ trang nghiêm, hoặc có thế giới hèn dơ nhớp, hoặc có thế giới tốt đẹp lạ thường, hoặc có thế giới mà nhơn dân sống lâu vô cùng, hoặc có thế giới mà nhơn dân thọ mạng ngắn ngủi, hoặc có thế giới thường bị tai nạn thủy hỏa, hoặc có thế giới hằng bị tai nạn gió bão, hoặc có thế giới gần thành tựu, hoặc có thế giới đã thành tựu rồi.

Đại thần Bảo Hải thấy vậy, bèn tâu với vua Vô Tránh Niệm rằng: “Nay Đại vương nhờ sức oai thần của Đức Như Lai mà đặng thấy các thế giới, vậy Đại vương phát Bồ đề tâm muốn cầu lấy thế giới nào”

Vua chấp tay mà thưa với Đức Bảo Tạng Như Lai rằng: “Bạch Đức Thế Tôn! Chẳng biết các vị Bồ Tát tu hạnh gì mà chiếm đặng cõi Phật tốt đẹp trang nghiêm, tu nghiệp gì mà chiếm đặng thế giới xấu xa ác trược.

Do nghiệp gì mà đặng thọ mạng lâu dài, tạo nghiệp gì mà thọ số ngắn ngủi? Xin Ngài chỉ dạy cho tôi biết mà tu học”.

Đức Bảo Tạng Như Lai nói rằng: “Vì bởi các vị Bồ Tát có sức thệ nguyện, muốn ở cõi thế giới thanh tịnh, không có các điều ác trược, nên sau khi thành đạo được về ở cõi ấy rất trang nghiêm.

Còn các vị Bồ Tát nào do sức thệ nguyện, muốn ở cõi thế giới ngũ trược đủ sự phiền não, nên sau khi thành đạo về ở cõi ấy”.

Vua Vô Tránh Niệm lễ Phật rồi lui trở về trong cung, một mình ngồi im lìm mà suy nghĩ đến sự thệ nguyện của mình, mong cầu cho đặng cõi cực kỳ tốt đẹp, đặng tiếp dẫn chúng sanh.

Suy nghĩ rồi vua bèn trở lại lễ Phật mà thưa rằng: “Bạch Đức Thế Tôn! Vì tôi muốn chứng đạo Bồ đề, nên đem công đức cúng dường Ngài và đại chúng trong ba tháng mà cầu đặng cõi Phật rất thanh tịnh trang nghiêm.

Bạch đức Thế Tôn!

1- Nay tôi nguyện trong khi tôi thành Phật, làm sao đặng một thế giới đủ sự vui đẹp, hình dạng nhơn dân trong cõi ấy toàn là sức vàng và không có những đường địa ngục, ngạ quỷ và súc sanh xen ở chung lộn. Hết thảy chúng sanh nơi cõi ấy chẳng khi nào còn phải thối chuyển mà đọa vào trong ba đường dữ đó nữa, và người nào cũng đủ sáu phép thần thông và căn thân tốt đẹp.

2- Tôi nguyện tất cả chúng sanh được về cõi ấy, đều thành đàn ông tươi tốt vô cùng, không còn thọ báo sắc thân đàn bà và cũng chẳng cần có danh hiệu của người đàn bà nữa. Hết thảy chúng sanh khi được về đó, thần thức đầu thai trong bông sen, lúc bông nở ra thì căn thân xinh tốt, thọ mạng lâu dài, không kể xiết đặng.

3- Tôi nguyện cõi ấy đặng trang nghiêm, cảnh vật thiệt xinh đẹp, không có mọi sự nhiễm trược, hằng có hoa tốt hương thơm mùi bay các hướng.

4- Tôi nguyện cho chúng sanh trong cõi ấy, ai nấy cũng đều đặng ba mươi hai tướng tốt, sáu phép thần thông, trong giây phút dạo khắp các cõi Phật trong mười phương, đặng cúng dường và nghe Pháp, rồi trở về cũng chưa trễ buổi ăn.

5- Tôi nguyện nhơn dân trong cõi ấy đều đặng mọi sự thọ dụng tự nhiên, đúng giờ ăn thì có đủ các món ngon vật lạ hiện ra trước mắt, còn muốn bận đồ gì thì có áo xiêm tốt đẹp hiện ra bên mình, không cần phải sắm sửa như trong cõi nhơn gian vậy.

6- Tôi phát nguyện cầu đặng cõi Phật như vậy, đặng từ rày về sau, đời đời kiếp kiếp, thường tu hạnh Bồ tát, làm sự hi hữu mà tạo thành cõi Tịnh Độ, đến thời kỳ chứng đạo thì ngồi dưới cây Bồ đề mà thành quả Chánh Giác, phóng hào quang soi các thế giới cho các Đức Phật đều xem thấy, đặng khen ngợi danh hiệu của tôi.

7- Tôi nguyện khi thành Phật rồi, những loài chúng sanh ở trong thế giới khác, đã có tu tập thiện căn, hễ nghe danh hiệu tôi mà muốn sanh về cõi tôi, đến khi lâm chung đặng vãng sanh, chỉ trừ những người phạm tội ngũ nghịch, tội chê bai các Pháp Đại thừa và phá hư Chánh Pháp mà thôi.

8- Tôi nguyện khi tôi thành Phật rồi, mà có chúng sanh ở các thế giới đã phát Bồ đề tâm, tu Bồ tát đạo, muốn sanh về cõi tôi, thì đến khi mạng chung, tôi và đệ tử tôi đều hiện thân đến trước mặt người ấy đặng tiếp dẫn.

9- Tôi nguyện khi tôi nhập diệt, trải vô số kiếp về sau những người nữ nhơn ở trong các thế giới nghe danh hiệu tôi mà chăm lòng vui mến và phát Bồ đề tâm, cho đến lúc thành Phật, cứ cảm báo đặng làm thân đàn ông hoài, chớ không khi nào còn mang lấy thân đàn bà nữa.

Bạch Đức Thế Tôn! Tôi nguyện đặng cõi Phật như vậy, chúng sanh như vậy, mọi sự thanh tịnh trang nghiêm như vậy, thì tôi mới chịu thành Phật.

Đức Bảo Tạng Như Lai nghe vua Vô Tránh Niệm nguyện mấy lời ấy rồi khen rằng: “Hay thay! Hay thay! Đại vương phát nguyện sâu lớn, muốn cõi thanh tịnh. Kìa Đại vương hãy xem qua hướng Tây, cách trăm ngàn muôn ức cõi Phật có một thế giới gọi là Tôn Thiện Vô Cấu, giáo chủ cõi ấy hiệu là Tôn Âm Vương Như Lai, hiện nay đương vì các bực Bồ Tát mà giảng dạy Pháp Đại thừa, giáo hóa các người Thượng căn, chứ không diễn thuyết mấy Pháp quyền tiểu”.

Trong cõi ấy cũng không có chúng sanh căn trí Tiểu thừa và cũng không có một người nữ nhân. Nhưng y báo (y báo là cảnh vật) và chánh báo (chánh báo là căn thân) của Phật Tôn Âm Vương Như Lai thiệt thanh tịnh trang nghiêm, rất xứng hiệp với chỗ cầu nguyện của Đại vương đó! Vì Đại vương có thệ nguyện muôn cõi thanh tịnh, nên nay Ta đổi hiệu Đại vương là Vô Lượng Thanh Tịnh.

Khi Vô Lượng Thanh Tịnh mãn một trung kiếp, thì Đức Phật Tôn Âm Vương Như Lai nhập Niết Bàn, Chánh Pháp truyền bá đặng mười trung kiếp. Đến khi diệt rồi, trải qua sáu mươi trung kiếp, thì cõi Tôn thiện vô cấu đổi tên lại là: Di Lâu Quang Minh có Đức Phật, hiệu là Bất Khả Tư Nghị Công Đức Vương Như Lai, ứng hiện ra đời mà hóa đạo chúng sanh. Sau khi Đức Phật ấy nhập Niết Bàn rồi, trải vô số hằng sa kiếp và vô lượng Phật diệt độ, thì cõi Di lâu Quang Minh đổi tên lại là: An lạc, đến thời kỳ Vô Lượng Thanh Tịnh chứng quả về cõi đó mà thành Phật thì hiệu là: A Di Đà Như Lai (dịch là Vô Lượng Thọ), sống lâu vô cùng, tiếp dẫn vô lượng chúng sanh trong các thế giới về đó, rồi giáo hóa cho thành Phật đạo tất cả.

Vua Vô Tránh Niệm nghe Phật Bảo Tạng Như Lai thọ ký như vậy liền thưa rằng: “Bạch Đức thế Tôn! Nếu lòng thệ nguyện của tôi quả đặng y như lời thọ ký của Ngài, thì tôi kỉnh lễ xin nhờ Ngài dùng phép thần thông làm cho các Đức Phật ở trong hằng sa thế giới cũng thọ ký cho tôi như Ngài nữa”.

Vua Vô Tránh Niệm thưa rồi, đương cúi đầu thi lễ, tức thì mười phương thế giới thảy đều vang động.

Vua ở trong pháp Hội nghe Chư Phật đều thọ ký cũng như lời Đức Phật Bảo Tạng đã nói trên đó, thì rất đổi vui mừng, liền chấp tay đảnh lễ, rồi ngồi nghe Phật Bảo Tạng thọ ký cho các vị Bồ Tát khác.

Từ đó về sau, vua Vô Tránh Niệm mạng chung thọ sanh ra các đời khác, kiếp nào cũng giữ lời bổn nguyện, tu hạnh Bồ Tát cứu độ chúng sanh, trải vô lượng kiếp quả mãn công viên hiện thành Chánh Giác, đến nay đã mười đại kiếp rồi, Ngài ở cõi Cực Lạc Thế Giới bên Tây Phương, đương giảng dạy các Pháp Đại Thừa và hằng tiếp dẫn chúng sanh đem về cõi ấy.

(SỰ TÍCH PHẬT A-DI-ĐÀ VÀ BẢY VỊ BỒ TÁT Phật học tạp chí Từ Bi Âm (200-204) Thanh Tâm sưu tầm và đánh máy)

Sự Tích Đức Phật Di Lặc

Đức Phật Di Lặc là vị Phật thứ năm trong Hiền Kiếp nối ngôi Phật Thích Ca. Tuy nhiên số kiếp chưa đến, Ngài còn ở trong trời đất hóa thân trong mười phương mà thuyết pháp độ chúng sinh. Phật Di Lặc có tướng mập tròn, thường có trẻ con quấn quýt vui vẻ xung quanh.

Ngày xửa ngày xưa tại một nước Lương nọ, đời Ngũ Quý, tại Phụng hóa Châu Minh, có một vị hòa thượng thân hình khác người, trán nhăn bụng lớn và hình vóc mập mạp. Chẳng biết vị hòa thượng này đến từ đâu, tên họ là gì, chỉ thấy ông thường mang theo một cái túi vải và một chiếc gậy tích trượng nên mọi người gọi ông là Bố Đại Hòa Thượng. Hòa thượng tính rất đỗi khôi hài, ban ngày đi lưu lạc không cỗ định, ông đi đâu rồi cũng trở về chùa Nhạc Lâm.

Mỗi lần đi đường là xung quanh ông lại có 18 đứa trẻ con vây xung quanh mà vui đùa, ông cứ nhoẻn miệng cười mãi. Mọi người cho ông những vật gì, khi ăn xong, còn lại bao nhiêu đều gói bỏ vào chiếc túi vải bên hông.

Có một lần, Hòa thượng gặp thầy Sa Môn, ông vỗ vai một cái làm cho thầy giật mình, thầy Sa Môn mới ngó hỏi:

– Hòa thượng có việc gì thế?

Xét nét lo lường giữ lấy ta;

Tâm để rỗng thông thường nhẫn nhục,

bửa hằng thong thả phải tiêu ma;

Nếu người tri kỷ nên y phận,

Dẫu kẻ oan gia cũng cộng hòa;

Miễn tấm lòng này không quái ngại,

Tự nhiên chứng đặng “Lục ba la”

Ông Trần cư sĩ lại hỏi rằng:

– Hòa thượng người có pháp hiệu hay không?

Hòa thượng đáp:

– Ta có chiếc túi vải này, rộng lớn vô biên, mở ra là thấy mười phương cõi lạc, ung dung tự tại.

Trần cư sĩ thắc mắc:

– Thế Hòa thượng có hành lí mang theo không?

Ngài cười mà nói rằng:

– Ta chỉ có thân này, cơm ăn vạn nhà, ngao du thiên hạ, đâu vướng bận những phàm tục trần thế?

Ông Trần cư sĩ nghe thế thì cảm phục lắm, ông kính cẩn:

– Đệ tử không tinh thông phật pháp, vậy làm thế nào để thấy Phật đây?

Hòa thượng bèn đáp:

– Phật chính là tâm mình vậy, tâm thiện chính là Phật trong lòng, các người có đi khắp nơi cũng không bằng tấm lòng chân thật hướng thiện.

Cư sĩ gật đầu hiểu chuyện:

– Cảm tạ ngài đã khai thông, lần này ngài đi nên ở nơi đình chùa, đừng ở nhà thế gian mà sinh phiền não.

Hòa thượng bèn đáp:

– Ta lấy bốn phương làm nhà, người kia tâm linh rõ ràng thì không thể tạo ngược, chúng sinh là con trời, gieo nhân ắt gạp quả.

Trần cư sĩ nghe thế thì nể phục, lại rất cóc ảm tình, bèn thưa:

– Xin hòa thượng ở lại nhà tôi một đêm dùng cơm chay với tôi, đệ tử hết lòng cung kính mong người từ bi ai nạp.

Hòa thượng gật đầu đồng ý, sáng ra hào thượng dậy từ sớm bỏ đi, trước khi đi òa thượng viết một bài kệ dán trên cửa:

Ta có một thân Phật,Có ai đặng tường tất;Chẳng vẽ cũng chẳng tô,Không chạm cũng không khắc;Chẳng có chút đất bùn,Không phải màu thể sắc;Thợ vẽ, vẽ không xong,Kẻ trộm, trộm chẳng mất;Thể tướng vốn tự nhiên,Thanh tịnh trong vặc vặc;Tuy là có một thân,Phân đến ngàn trăm ức.

Hòa thượng đến quận Tứ minh thì hay giao du với ông Tưởng Tôn Bá, hai người như bạn lâu năm mà thân thiết. Hòa thượng khuyên Tưởng Tôn Bá nên niệm câu chú mỗi ngày: “Ma ha bát nhã ba la mật đa”. Vì vậy người ta đều kêu ông Tưởng Tôn Bá là: Ma ha cư sĩ. Một ngày nọ hai người cùng tắm dưới khe Trường Đinh, ông Ma Ha mới nhìn thấy lưng hòa thượng có 4 con mắt rực rỡ chói sáng thì ngạc nhiên hết sức bèn thốt lên:

– Hòa thượng đúng là một vị Phật tái thế.

Hòa thượng liền bảo:

– Người chớ tiết lộ ra ngoài, ta và ngươi đã kết thân 4 năm rồi, nay đã đến lúc ta phải đi, vậy ta hỏi ngươi có muốn giàu sang hay không?

Ông Ma Ha cư sĩ thưa rằng:

– Giàu sang như mây trôi gió cuốn, không bền chắc được, tôi chỉ mong con cháu tôi đời đời viên mãn.

Hòa thượng thò tay vào túi móc ra một chiếc túi nhỏ đưa cho Ma Ha cư sĩ căn dặn ông phải giữ gìn cho kĩ cũng như hậu vận của ông. Ma Ha cư sĩ chưa hiểu gì thì hòa thượng đã bỏ đi, vài bữa sau hòa thượng quay lại bảo:

– Nhà ngươi có hiểu ý ta hay không?

Ma ha cư sĩ cung kính mà thưa rằng:

– Thưa ngài, tôi nghĩ mãi mà vẫn chưa tỏ tường được.

Hòa thường cười đáp:

– Ta muốn cho con cháu nhà ngươi sau này cũng như mấy vật của ta cho đó vậy.Thế rồi hòa thượng từ giã đi. Quả nhiên về sau con cháu Ma Ha được vinh hoa phú quý, hưởng lộc nước đời đời.

Ngày mồng ba tháng ba năm thứ ba niên hiệu Trịnh Minh, hòa thượng không chút bệnh tật, ngồi trên bàn thạch gần mái chùa Nhạc Lâm mà nhập diệt. Có một ông Trấn Đình trước kia hay giật túi vải của hòa thượng mà đốt, cứ đốt xong hôm sau lại thấy cái túi vải vẫn y nguyên trên người hào thượng thì kinh hãi, để tỏ lòng hối lỗi ông Trấn Đình lo mua quan quách mà tẩn liệm thi hài, nhưng khi khiêng quan tài đi chôn thì bao nhiêu người cũng không khiêng nổi. Trong mấy người đó có một người họ Đồng ngày thương tỏ lòng tôn kính hòa thượng trọng hậu, bèn đi mua cái quan tài khác, rồi liệm thi hài của Ngài thì đến khi khiêng, số người vẫn như đó mà khiêng nhẹ bỗng. Mọi người thấy thế thì cung kính muôn phần.

Dân chúng tỏ lòng mến mộ bèn cùng nhau xây tháp cho Ngài ở núi Phong Sơn, nơi mà trước kia Ngài từng ngự, có chỗ để tích Trượng, chỗ để bình bát của Ngài. Những chỗ sâu, cạn, chỗ lớn chỗ nhỏ đều có nước đầy ắp, dẫu trời hạn thì cũng chưa bao giờ khô cạn.

Tượng Phật A Di Đà

Tượng Phật A Di Đà thường được thờ trong chùa hoặc các gia đình theo đạo Phật. Vậy ý nghĩa của việc thờ cúng tượng Phật A Di Đà là gì?

Tìm hiểu hình tượng Phật A Di Đà

Phật A Di Đà là một trong các vị thần có tuổi thọ “vô lượng thọ” (không thể lượng được tuổi thọ). Ngài là vị giáo chủ của cõi cực lạc phương Tây. Phật A Di Đà được biết đến với 48 lời nguyện lớn trước khi trở thành Phật. Một trong những lời nguyện đó là sẵn sàng tiếp dẫn chúng sinh khi chúng sinh niệm danh hiệu của ngài. Vì thế, các Phật tử thường có thói quen niệm “A Di Đà Phật” mỗi khi gặp chuyện không may để mong có được sự giúp đỡ, độ trì của Ngài.

Tượng Phật A Di Đà

Tượng Phật A Di Đà trong thờ cúng thường có 2 hình dạng:

Tượng Phật A Di Đà ngồi kiết già trên tòa sen, tay kiết định ấn, tương tự tượng Phật Thích Ca.

Tượng Phật A Di Đà đứng trên hoa sen, lơ lửng trong hư không, bên dưới là biển cả sóng dậy chập chồng, mắt Ngài nhìn xuống, tay mặt đưa lên ngang vai, tay trái duỗi xuống như sẵn sàng chờ đợi tiếp cứu những người đang trầm mịch. Tượng ấy gọi là tượng Di Đà phóng quang. Tay phải của Phật A Di Đà đưa lên biểu thị tứ thánh (Thanh văn, Duyên giác, Bồ-tát, Phật), tay trái duỗi xuống biểu thị lục phàm (Thiên, nhơn, A-tu-la, súc sanh, ngạ quỉ, địa ngục). Nghĩa là Ngài sẵn sàng tiếp độ lục phàm đưa lên quả vị tứ thánh.

Ý nghĩa của việc thờ cúng tượng Phật A Di Đà

Đức Phật A Di Đà xuất hiện để thực hiện nghĩa vụ phổ độ chúng sinh. Ngài đưa con người thoát ra khỏi những điều khốn khổ trong cuộc sống. Hướng về những điều thiện, tránh những cái ác trong cuộc sống.

Nếu con người sớm thức tỉnh, nhận ra chân lý của sự khổ đau, thoát khỏi bể ái thì sẽ được Phật dẫn dắt. Nhờ đó con người nhận ra những điều chân lý và tránh khỏi buồn đau cuộc sống.

Phật A Di Đà thường được thờ cạnh Đức Phật Thích Ca Mâu Ni và Phật Di Lặc. Hàm ý để thể hiện cho quá khứ, hiện tại và tương lai. Trong đó Phật A Di Đà được coi là hiện hữu của quá khứ.

Đèn Cúng Phật In Hoa Sen Chữ A Di Đà Phật

Đèn cúng Phật in chìm hoa sen 3D Chữ A Di Đà Phật được khắc chìm trong khối hình cầup bằng pha lê trong suốt, chân đế bằng chất liệu hợp kim nguyên khối, sơn tĩnh điện màu nâu đồng, chống oxy hóa cao, cảm giác cầm chắc chắn, an toàn khi trưng bày trên không gian cao, tạo sự uy nghiêm cho không gian thờ cúng. Đây là một tuyệt tác được thiết kế để trưng bày bàn thờ Phật, bàn thờ gia tiên, ánh hào quang 5 màu từ đèn Led là những vệt ánh sáng dài, sáng đẹp, điều khiển bởi bộ Adapter nhỏ gọn, có chế độ điều chỉnh màu nhanh chậm tùy ý.

Đặc tính siêu tiết kiệm điện của đèn Led, kết hợp màu sắc đẹp khi vận hành, Đèn cúng Phật in chìm hoa sen 3D Chữ A Di Đà Phật ngoài công dụng trưng bày bàn thờ cúng thêm trang trọng trong các dịp lễ cúng, thì tại gia đình hoặc đạo tràng có thể sử dụng để tô điểm không gian chung thêm ấm áp và thiêng liêng hơn.

Tại Shop Tĩnh Tâm Quán ngoài cung cấp dòng sản phẩm Tượng Phật A Di Đà , Bổn Sư Thích Ca, Quán Thế Âm Bồ Tát… Thì dòng sản phẩm tượng Phật bằng gỗ, gốm, đá ép, đá lưu ly cũng được chế tác tinh xảo, giúp cho mỗi người khi lễ lạy đều sinh tâm hoan hỉ.

“Shop Tĩnh Tâm Quán – Kênh Mua Bán Online Tranh Tượng Phật Đồ Thờ Cúng cam kết với khách hàng luôn đảm bảo tính chính xác rõ ràng, nguồn góc xuất xứ cũng như thái độ hoan hỷ khi phục vụ với mong muốn đem lại cho Quý khách hàng cảm giác mua hàng ONLINE ĐÚNG MẪU ĐÚNG CHẤT LƯỢNG AN TOÀN CAO ” – Với phương châm: ” Chữ Tín Làm Đầu” – Chất lượng phục vụ tốt – Giao hàng đúng hẹn – Dịch vụ nhanh, chuẩn xác độ tinh cậy cao. – Hàng hóa được chọn lọc rất kỹ trước khi phát hành. A Di Đà Phật!

Shop Tĩnh Tâm Quán Web: tinhtamquan.com Fanpage : Shop Tĩnh Tâm Quán Call: 0932.808.715 – zalo – Viber – Messger

5. Nghi Cúng Vía Phật A Di Đà

Chùa Quang Thiện, California, USAẤn hành 2002

5. NGHI CÚNG DƯỜNG THÁNH ĐẢN ĐỨC PHẬT A DI ĐÀ

(Ngày 17-11 Âm Lịch) * Tiết thứ làm nghi: – Chuông trống Bát Nhã. – Cử nhạc khai đàn. – Chủ lễ đăng điện. – Cử nhạc tham lễ. – Chủ lễ niệm hương. – Dâng hương – tác lễ. Nguyện đem lòng thành kính, Gởi theo đám mây hương, Phưởng phất khắp mười phương, Cúng dường ngôi Tam Bảo. Thề trọn đời giữ đạo, Theo tự tánh làm lành, Cùng pháp giới chúng sanh, Cầu Phật từ gia hộ: Tâm Bồ đề kiên cố, Chí tu học vững bền, Xa biển khổ mông mênh, Nam mô Hương Cúng Dường Bồ Tát. Đấng Pháp vương vô thượng, Ba cõi chẳng ai bằng, Thầy dạy khắp trời người, Cha lành chung bốn loại. Qui y tròn một niệm, Dứt sạch nghiệp ba kỳ, Xưng dương cùng tán thán, – LỄ PHẬT: Phật, chúng sanh tánh thường rỗng lặng, Đạo cảm thông không thể nghĩ bàn, Lưới Đế châu ví đạo tràng, Mười phương Phật bảo hào quang sáng ngời . Trước bảo tọa thân con ảnh hiện, – ĐẢNH LỄ TAM BẢO: (3 lần) Lư vàng vừa bén, Pháp giới hương bay, Mười phương chư Phật thảy đều hay, Theo gió cuốn mây bay, Xin gởi lòng này, Nam mô Hương Vân Cái Bồ Tát.Thiên thủ thiên nhãn, vô ngại đại bi tâm đà la ni. Nam mô hắc ra đát na đa ra dạ da. Nam mô a rị da bà lô kiết đế thước bàn ra dạ, ta bà ha. Án tất điện đô mạn đà ra bạt đà dạ ta bà ha. Tán lễ Tây phương, Cực lạc thanh hương, Sen vàng chín phẩm hoa hương, Cây báu thành hàng, Thường nghe thiên nhạc du dương. A Di Đà Phật đại phóng từ quang, Hóa đạo chúng sanh vô lượng, Giáng cát tường. Hiền tiền chứng đẳng ca dương, – TỤNG BÀI Ý NGHĨA KỶ NIỆM NGÀY THÁNH ĐẢN: (Tất cả đồng ngồi, tụng châm, đậu câu thay vì bạch sớ). Nam mô Tây phương Giáo Chủ Đại Từ Đại Bi Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật. Chúng con cung kính nghe rằng: Thân vàng tươi tốt, Ba đời uy đức huy hoàng; Ao báu sen vàng, Mười cõi hào quang rực rỡ. Tịnh nghiệp pháp môn nguyện mở, Thiện nhơn liên xã xin đăng, (3 lần) Niệm Phật vãng sanh Thánh cảnh. Nhớ đức Di Đà Đại thánh, Thương tình tiếp dẫn Lạc bang. Hôm nay tất cả chúng con: Cung kính quỳ trước đạo tràng, Chí thành dâng nguyện lên pháp cúng. Di Đà kinh văn phúng tụng, Hồng danh Thánh hiệu xưng dường

– TÁN HƯƠNG:

Theo ngài Tuệ Viễn cao tăng, (11)

Dâng đủ ngũ căn hương, (1)

Cúng đầy bát đức thủy. (2)

Cúng duờng Cực lạc Đạo sư, Tôn vinh giờ thiêng vía Thánh Đông Tây hai cảnh, Cảm cách một lòng, Cúi đầu cầu mong, Dủ lòng chứng giám. Tất cả chúng con nghĩ rằng: Tự tánh Di Đà mặc cảm, Duỳ tâm Tịnh độ nghĩ suy. A Di Đà Phật là gì? Là vô lượng quang, Vô lượng thọ, Là vô biên trí tuệ từ bi! Duy tâm Tịnh độ là gì? Là đất nước trang nghiêm công đức Là phương trời tự tại an vui! Thế nhưng tất cả chúng con, Từ vô thỉ kiếp đến nay:

Cùng thất chi quả quí, (3)

Với chúng diệu hoa tươi. (4)

Đến như thế giới chúng con:

Sáu đường sanh tử tới lui, (9)

Ba cõi luân hồi qua lại. (10)

Đến đây tất cả chúng con: Nguyện phát minh thể tánh chơn thường, Hầu thấy Di Đà tự tánh. Mong xây dựng cuộc đời đạo hạnh, Ngõ thành Tịnh độ duy tâm. Cúi đầu thệ nguyện âm thầm, Nam mô Tây phương Giáo Chủ Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật, tác đại chứng minh. Duy nguyện: Núi bạch hào uyển chuyển, Biển thệ nguyện bao la. Thả thuyền vô để đến Ta bà, Rước chúng hữu tình về Cực lạc. Đồng lên bờ giác, Cùng thoát bến mê, Viên mãn lời thề, – TÁN: Tây phương thế giới cõi an lành, Người vật nơi đây thảy hóa sanh. Bảy báu trang nghiêm đầy đất nước, – TỤNG: (Kinh A Di Đà, lễ 12 Phật hiệu sau kinh hoặc tụng 48 lời nguyện; nên soạn kinh trước khi làm lễ). – TỤNG: (Bát Nhã Tâm kinh: Ma ha Bát nhã … hoặc: A Di Đà Phật thân kim sắc …) – TÁN: A Di Đà Phật, Thệ nguyện khôn lường, Phóng quang tiếp dẫn khắp muôn phương, Thánh đản ca dương, Nam mô Tây Phương A Di Đà Phật. – CHỦ LỄ XƯỚNG: Tôn vinh Thánh Đản lễ viên hoàn, Công đức vô biên nguyện cúng dàng, Xin nguyện chúng sanh cùng pháp giới, – PHỤC NGUYỆN: Vừng hồng Phật nhựt huy hoàng, Tiếng gọi Pháp âm vang dội, Trang nghiêm Pháp hội, Thanh tịnh Tăng đoàn, Sông núi bình an, Phổ nguyện: Đàn na thí chủ, Tăng ích phước điền, Pháp giới nhơn thiên, Nam mô A Di Đà Phật. – TỤNG: Nguyện tiêu ba chướng trừ phiền não, Nguyện được trí tuệ thật sáng tỏ, Nguyện bao tội chướng thảy tiêu trừ, Nguyện sanh Cực Lạc cảnh Tây phương, Chín phẩm hoa sen là cha mẹ, Hoa nở thấy Phật chứng vô sanh, Bất thoái Bồ Tát là bạn hữu, Nguyện đem công đức này, Hướng về khắp tất cả, Đệ tử và chúng sanh Tự qui Phật, xin nguyện chúng sanh, thể theo đạo cả, phát lòng vô thượng. Tự qui y Pháp, xin nguyện chúng sanh thấu rõ kinh tạng, trí tuệ như biển. Tự qui y Tăng, xin nguyện chúng sanh, thống lý đại chúng, hết thảy không ngại. Thù ân kỷ niệm, Lễ đã viên thành, Chuông trống hòa thanh, Cúi đầu lễ tất. * Ghi chú: (1 lễ) (1 lễ) (1 lễ) (đồng hòa) (3 lần)

Tám nạn, ba tai kinh hãi, (5-6)

Bốn suy, tám khổ chán chường. (7-8)

1. Ngũ căn hương: Tín, Tấn, Niệm, Định, và Tuệ – 5 công hạnh.

2. Bát đức thủy: Nước có 8 công đức: ngọt, lạnh, mềm dẻo, nhẹ, trong sạch, không hôi, uống rồi không khô cổ, uống không hại bao tử.

3. Thất giác chi: Bảy giác quán là trạch pháp, tinh tấn, hỷ xả, khinh an, niệm, định và hành xả.

4. Chúng diệu hoa: các thứ hoa quí; xem kinh A Di Đà Sớ Sao thì rõ hơn.

5. Tám nạn: Địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, Uất đơn việt, (nơi đầy đủ mọi thứ sung sướng) trời sống lâu, câm điếc, ngọng lịu, thông minh thế gian, trước Phật, sau Phật.

6. Ba tai: chiến tranh, đói khát và bệnh hoạn.

7. Bốn suy: sanh, già, bệnh, chết; hoặc: thành, trụ, hoại, không.

8. Tám khổ: sanh, lão, bệnh, tử, thương yêu xa nhau, oán ghét gặp nhau, tìm cầu không được, và năm ấm đầy nhầy (tức thân thể to mập, nặng nề, và tinh thần suy nhược); Năm ấm gồm: sắc, thọ, tưởng, hành và thức.

9. Sáu đường: Địa ngục, ngạ quỉ, súc sanh, người, trời và A tu la.

10. Ba cõi: Cõi dục, cõi sắc, và cõi vô sắc.

11. Cao tăng Huệ Viễn: Tổ lập ra Tịnh nghiệp Đạo tràng để giáo hóa người tu pháp môn Tịnh độ đầu tiên ở Trung Quốc.

Nghi Thức Tụng Kinh Nam Mô A Di Đà Phật

Việt Nam là một đất nước đa dạng về tôn giáo và tín ngưỡng. Có những tôn giáo được truyền bá vào Việt Nam từ rất lâu đời và trở thành đời sống tinh thần cho đại đa số người dân Việt. Phật giáo luôn là một trong những tín ngưỡng văn hóa lớn nhất của chúng ta với rất nhiều những chùa chiền, miếu thờ hay những lễ nghi thờ cúng khác nhau. Việc thờ cúng tranh tượng phật trong gia đình sẽ giúp cho các gia chủ được bình an, hạnh phúc, sức khỏe dồi dào và luôn gặp may mắn trong cuộc sống. Hình Phật A Di Đà là một trong số đó.

Nguồn gốc Phật A Di Đà

Nhiều người cho rằng việc thờ cúng một vị thần Phật nào đó hoặc đặt niềm tin vào một thế lực siêu nhiên chỉ là việc làm vô căn cứ, đó là sản phẩm của trí tưởng tượng của con người. Phật giáo được truyền bá vào Việt Nam từ rất lâu đời, đi cùng với đó là những câu chuyện, những sự tích với các bài học khác nhau, những vị thần phật cũng luôn gắn liền với sự mơ hồ. Phật A Di Đà là một vị phật được thờ cúng nhiều nhất hiện nay trong chùa, miếu hay cúng tại gia. Tuy nhiên rất ít người có thể biết được rằng Phật A Di Đà có thật không?

Theo giáo lý Phật giáo thì Phật A Di Đà là giáo chủ cõi “Tây Phương Cực Lạc”, đây là một cõi Niết Bàn mà các Phật tử luôn muốn hướng đến. Khoảng cách giữa chốn trần gian và “Tây Phương Cực Lạc” là “Mười Muôn Ức Cõi”. Trong kinh A Di Đà đã nói rõ, chính Phật Thích ca Mâu Ni bằng trí tuệ siêu việt và sự giác ngộ của mình Phật đã thấy nhân duyên lớn của chúng sinh ở Ta Bà với Đức Phật A Di Đà và cõi Tây phương Cực lạc nên đã giới thiệu pháp môn Tịnh độ để người hữu duyên tu tập. Như vậy hầu hết những phật tử đều là người phàm nên quan niệm về cõi Tây Phương Cực Lạc và đức phật A Di Đà không thể kiểm chứng được. Vì vậy những phật tử muốn biết phật A Di Đà có thật hay không còn tùy thuộc vào duyên của mỗi người. Tuy nhiên phật Thích Ca Mâu Ni đã kiểm chứng về sự giác ngộ và duyên của người phàm với cõi Tây Phương Cực Lạc thì chúng ta cứ tin và thành tâm tu tập sẽ có ngày giác ngộ được.

Một sự tích khác là theo kinh Bi Hoa, về đời vua Chuyển Luân Thánh Vương tên Vô Tránh Niệm có vị đại thần tên là Bảo Hải, tức là thân phụ của Phật Bảo Tạng. Một hôm vua Vô Tránh Niệm nghe Phật thuyết pháp liền phát tâm cúng dường đầy đủ các lễ vật cho đức Phật và Đại chúng trong ba tháng. Vị đại thần Bảo Hải khuyên vua nên phát tâm bồ đề cầu đạo vô thượng. Vua liền nguyện nếu sau này thành Phật sẽ làm giáo chủ cảnh giới trang nghiêm thanh tịnh để giáo hóa chúng sanh. Vua Vô Tránh Niệm vừa phát nguyện xong, đức Bảo Tạng Như Lai liền thọ ký cho vua sau này thành Phật sẽ lấy hiệu là A Di Đà và ở cõi Tây Phương Cực Lạc. Vị Đại Thần Bảo Hải sau này cũng thành Phật hiệu là Thích Ca Mâu Ni.

Sự truyền bá Phật A Di Đà

Như chúng ta đã nhắc đến ở trên việc thờ cúng tranh tượng phật luôn là tín ngưỡng văn hóa và còn là đời sống tinh thần của các phật tử. Mỗi một vị phật hay Bồ Tát sẽ ứng với các lời cầu nguyện khác nhau. Với Phật A Di Đà được gắn với ánh chiều tà rạng rỡ, lan ra khắp mọi ngõ ngách vũ trụ mà không làm thiêu đốt hay mù lòa. Chính vì thế việc thờ cúng tranh phật hoặc tượng phật A Di Đà sẽ giúp cho các gia chủ có được sự soi sáng trong cuộc đời, tránh được những điều đen tối, xua đuổi tà ma và bảo vệ gia đình. Ánh sáng của Phật A Di Đà luôn có thể tiêu diệt được những thế lực xấu xa, bảo vệ chúng sinh và giúp chúng sinh giác ngộ phật giáo.

Ngày nay việc truyền bá thông tin vô cùng dễ dàng phật giáo cũng ngày càng phát triển và được người dân tin cậy nhiều hơn. Đây là đời sống văn hóa của người dân Việt Nam khi mà cuộc sống quá xô bồ, luôn cần một niềm tin vào một thế lực nào đó để mong muốn được bình yên, có cuộc sống an lạc thanh thản. Việc thờ cúng hoặc treo ảnh Phật A Di Đà trong nhà sẽ giúp cho các gia chủ có thể răn dạy được con cháu, luôn hướng đến điều tốt và có cuộc sống yên bình.

Bài niệm trong việc thờ cúng Phật A Di Đà

Các gia đình có treo hoặc thờ cúng phật A Di Đà luôn có bài niệm riêng ở trong kinh giáo. Trong đó câu niệm Nam Mô A Di Đà Phật là nhiều nhất. Trong sáu chữ này luôn chứa đựng huyền cơ và cả một câu chuyện trong đó. Đầu tiên chúng ta phải nhắc đến sự ngắn gọn trong câu niệm. Rất nhiều tín đồ phật giáo phải bỏ công sức và sự khó khăn để có thể học được những câu niệm trong kinh phật. Với câu niệm Nam Mô A Di Đà Phật vừa đơn giản lại rất dễ nhớ, dễ thuộc. Chính vì thế mà câu niệm này được các tín đồ sử dụng nhiều nhất cho các trường hợp thờ cúng phật giáo. Với câu niệm Nam Mô A Di Đà Phật tất cả các tín đồ từ trung đến hạ, người già, người trẻ đều có thể niệm được.

Theo giải thích pháp môn niệm phật thì từ “Nam Mô” có nghĩa là quy y, lòng quyết tâm vâng theo những lời phật dạy. Mỗi một cá nhân niệm “Nam Mô” là cả sự thành kính và sự mong mỏi được soi sáng trong dòng đời tất bật, được bao bọc trước những giông bão và những chấp niệm tâm ma. Đặc biệt trong phật giáo có một câu “Niệm một tiếng Nam Mô cả đời ăn không hết”. Vì vậy chúng ta có thể thấy sức mạnh của hai từ Nam Mô.

Từ A Di Đà có nghĩa là vô lượng quang và vô lượng thọ. Khi niệm A Di Đà đây là giai đoạn tương tục giác của các tín đồ. Phật A Di Đà chủ quản cõi Tây Phương Cực Lạc nên luôn hướng đến việc soi sáng cho chúng sanh. Khi các tín đồ niệm A Di Đà là sự khao khát được dẫn lối, sự giác ngộ của bản thân về một cõi Niết Bàn không tranh đoạt, không có vướng bận, không có khổ đau.

Phật là viết tắt của từ Phật Đà có nghĩa là giác ngộ, dứt bỏ luân hồi, con người được giải thoát. Bao gồm cả 6 chữ thành một câu niệm dễ dàng nhưng chứa đựng trong đó là cả một sự giải thoát của con người.

Nghi thức tụng kinh Nam Mô A Di Đà Phật

Bởi là một vị phật vô lượng có thể phổ độ chính sanh nên việc tụng kinh hoặc cúng dường luôn có những nghi thức nhất định. Đối với kinh A Di Đà được chia thành nhiều khâu và các nghi thức khác nhau. Đầu tiên được nhắc đến nhiều nhất là cúng hương, cúng tán thán phật, cúng quán tưởng, tán lư hương, chú đại bi, sám hối, nghi thức trì tụng…Trong đó chúng ta phải kể đến “Chú Đại Bi”. Đây là bài chú được các chúng sanh sử dụng nhiều nhất với mong muốn sám hối mọi lỗi lầm, mong được các vị phật dẫn đường chỉ lối cho cuộc sống thanh thản.

Các cách tụng kinh A Di Đà theo từng nghi thức đã có nhắn đến trong kinh phật, các tín đồ cần phải tìm hiểu kỹ lưỡng kinh phật để có thể thực hiện nghi lễ đúng nhất. Đặc biệt đối với các gia chủ cần phân biệt được giữa cách tụng kinh và thờ cúng Phật A Di Đà với Phật Thích Ca Mâu Ni. Bởi vì xét về tạo hình hai vị Phật có tạo hình gần giống nhau nên rất dễ gây nhầm lẫn cho người mới tiếp cận Phật giáo.

Việc treo hình Phật A Di Đà trong gia đình cũng cần phải chú trọng đến một số điều cấm kỵ. Các gia chủ không thờ cúng mà chỉ treo ảnh phật cũng cần phải có được sự thành kính tuyệt đối với ngài, không được có những hành động hoặc lời nói khiếm nhã. Khi treo tranh Phật A Di Đà cần lựa chọn địa điểm phù hợp. Nên treo tranh tại những nơi trang trọng, cao ráo như là đối diện cửa ra vào hoặc là trên bàn thờ để thể hiện sự tin kính. Các gia chủ nên lưu ý tuyệt đối không được treo hình Phật A Di Đà ở gần cầu thanh hoặc đối diện, trong phòng ngủ cũng không được treo tranh Phật A Di Đà, bếp và khu chỗ vệ sinh cũng không được. Khi lau chùi vệ sinh tranh Phật A Di Đà cũng cần sử dụng khăn lau sạch, mới. Đặc biệt không được để ảnh Phật A Di Đà dưới đất hoặc cất trong tủ, trong két sắt hoặc treo quá thấp.

Như vậy chúng ta có thể nói Phật A Di Đà là một vị phật đầy quyền năng với tấm lòng bao dung cả thiên hạ. Đối với các quốc gia thuộc khu vực Đông Nam Á như: Việt Nam, Trung Quốc, Nhật Bản…đại đa số người dân là theo phật giáo nên nền văn hóa thờ cúng được truyền bá rất rộng và đầy đủ chi tiết. Tuy nhiên mỗi một quốc gia lại có những văn hóa, tôn giáo khác nhau nên trong việc thờ cúng cũng có những sự thay đổi cho phù hợp.

Cập nhật thông tin chi tiết về Sự Tích Đức Phật A Di Đà trên website Apim.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!