Xu Hướng 2/2023 # Sắm Lễ &Amp; Lời Văn Khấn Lễ Tạ Đền Ông Hoàng Bảy # Top 6 View | Apim.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Sắm Lễ &Amp; Lời Văn Khấn Lễ Tạ Đền Ông Hoàng Bảy # Top 6 View

Bạn đang xem bài viết Sắm Lễ &Amp; Lời Văn Khấn Lễ Tạ Đền Ông Hoàng Bảy được cập nhật mới nhất trên website Apim.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Sắm lễ & Lời văn khấn lễ tạ đền ông Hoàng Bảy

20 tháng 5, 2017

Con lạy chín phương trời, mười phương chư Phật

Ngũ phương ngũ phật, thập phương thập phật

Hằng hà sa số Đức Phật công đức, công lượng vô biên.

Đệ trước án tiền, kín lạy Đại từ đại bi cứu khổ cứu nạn quán thế âm bồ tát

Cung Phật thỉnh Thánh, cung thỉnh thiên cung tấu thỉnh thiên đình, sám hối:

Tam phủ thần vương, tứ phủ thánh đế

Con xin sám hối Thiên phủ Thánh Đế – Cao thiên Thượng thánh- Đại từ Nhân giả – Huyền khung Cao Thượng đế -Ngọc Hoàng Đại Thiên tôn.

Con sám hối Nhạc Phủ Thánh Đế – (Tản Viên Sơn Thánh) -ngũ nhạc thần vương – năm phương sơn động

Con sám hối Thủy Phủ Thánh Đế – (Lạc Long Quân Đại Đế) – Bát Hải Long Vương – tám phương cửa bể

Con sám hối Địa phủ Thánh Đế- thập điện minh vưong tòa chương địa phủ

Bắc Cực Trung Thiên Tam nguyên tam phẩm tam quan

Con sám hối Đại Thánh Nam Tào Lục Ty duyên thọ tinh quân

Con sám hối Đại Thánh Bắc Đẩu Cửu hoàn giải ách tinh quân

Cửu tinh thiên chúa thập nhị bát tú chư bộ thiên binh chư dinh văn võ.

Con sám hối tấu lạy quốc mẫu vua bà bơ tòa tiên thánh tứ phủ Thánh Mẫu:

Kính lạy Cửu trùng thánh mẫu .bán thiên công Chúa Thiên tiên thánh mẫu

Kính lạy địa tiên thánh mẫu quỳnh hoa Liễu Hạnh Vân Hương Thánh Mẫu

Mã Hoàng Công chúa, sắc phong Chế Thắng Hoà Diệu đại vương, gia phong Tiên Hương thiên tiên Thánh Mấu.

Kính lạy Thánh Mẫu Đệ Tam thủy cung, Xích Lân long Nữ,Thủy Tinh Công chúa

Kính lạy Đức Mẫu thượng ngàn Diệu nghĩa diệu tín thiền sư

Tuần Quán Đông Cuông đệ nhị đỉnh thượng cao sơn triều mường Sơn tinh công chúa Lê Mại Đại Vương.

Con lạy trần triều hiển thánh Hưng Đạo Đại Vưong

Trần triều Khải Thánh , Vương Phụ Vưong mẫu Vương phu nhân

Tứ vị Vưong tử- Nhị Vị Vương cô- vương tế vương tônLiệt vị tướng tướng công đồng Trần Triều

Con lạy Tam phủ Công Đồng, Tứ phủ Vạn linh

Bách vị các quan ngũ vị tôn quan

+ Quan đệ nhất Thượng Thiên

Con sám hối điều thất tôn quan- Hoàng triệu tôn quan

Con lạy tứ phủ chầu bà thập nhị chầu bà

+ Chầu đệ nhất thượng thiên

Con lạy Tứ phủ thánh hoàng thập vị thánh hoàng

Sám hối ông bơ thoải quốc, ông bảy Bảo Hà, ông mười Nghệ An

Sám hối tứ phủ thánh cậu: cậu cả cậu đôi cậu bơ cậu bé

Con lạy ngũ dinh thần tướng-ngũ hổ thần quan

Con lạy thanh xà tướng quân- bạch xà tướng quân

Con lạy công đồng các bóng các giá, mười tám cửa rừng, mười hai cửa bể.

Con lạy chầu chúa thủ đền cùng quan thủ điện, thổ địa thần kỳ thần linh bản xứ

Kim niên kim nguyệt ,cát nhật lương thời

Đệ tử con nhất tâm nhất lễ đêm tưởng ngày mong nhất tâm chí thiết nhất dạ chí thành

nhất tâm tưởng vạn tâm cầu-tu thiết nhang hoa lễ vật tờ đơn cánh sớ

Mang miệng tới tâu-mang đầu tới bái-cửa đình thần tam tứ phủ .

Trên mẫu độ dưới gia hộ mẫu thương -vuốt ve che chở -phù hộ độ trì

Cho con: ba tháng hè chín tháng đông-đầu năm chí giữa nửa năm chí cuối ,

Tứ thời bát tiết-tháng thuấn ngày nghiêu-phong thuận vũ hòa -tai qua nạn khỏi.

Mẫu cho con được sáng hai con mắt-bằng hai bàn chân-,

Mẫu ban lộc dương tiếp lộc âm-cho lộc mùa xuân cho tài mùa hạ

Cho tươi như lá cho đẹp như hoa-phúc lộc đề đa tiền tài mang tới,

Mẫu cho con lộc ăn lộc nói-lộc gói lộc mở,lộc gần lộc xa,

Hồ hết lại có hồ vơi lại đầy-điều lành mang đến điều dữ mang đi.

Mẫu cứu âm độ dương cứu đường độ chợ-vuốt ve che chở nắn nở mở mang.

Cải hung vi cát cải hạo vi tường-thay son đổi số nảy mực cầm cân.

Mẫu phê chữ đỏ Mẫu bỏ chữ đen-cho con đựơc trăm sự tốt vạn sự lành

Trên quý dưới yêu trên vì dưới nể-cho gặp thầy gặp bạn gặp vạn sự lành

Mẫu ban danh ban diện ban quyền-cho con có lương có thực có ngân có xuyến-tài như xuyên chí lộc tựa vân lai

Cầu tài đắc tài cầu lộc đắc lộc-cầu bình an đắc bình an

Trồng cây đắp phúc cho con được nở cành xanh lá phúc lộc đề đa

Cho trên thuận dưới hòa-trên bảo dưới nghe trên đe dưới sợ.

Mẫu cho nước chảy một dòng-thuyền xuôi một bến,bách bệnh tiêu tán, vạn bệnh tiêu trừ

Năm xung Mẫu giải xung-tháng hạn giải hạn

Cho gia trung con dc trong ấm ngoài êm nhân khang vật thịnh duyên sinh trường thọ

Đệ tử con người trần mắt thịt nhỡn nhục nan chi việc âm chưa tường việc dương chưa tỏ.

Tuổi con còn trẻ, tóc con còn xanh ăn, con ăn chưa sạch, con bạch chưa thông

Ăn chưa nên đọi, nói chưa nên lời, không biết kêu sao cho thấu, tấu sao cho tường,

Con biết tới đâu con tâu tới đấy, ba điều ko sảy bảy điều ko sai.

Trăm tội mẫu xá vạn tội mẫu thương.Mẫu xá u xá mê xá lỗi xá lầm.

Mẫu soi đường chỉ lối cho con biết đường mà lội biết lối mà lần

Hôm nay đệ tử con lễ bạc tâm thành con giàu một bó con khó một nén giàu làm kép hẹp làm đơn,

Thiếu mẫu cho làm đủ vơi mẫu cho làm đầy.

Mẫu chấp kỳ lễ vật-chấp lễ chấp bái

Chứng tâm cho lời kêu tiếng khấn của con bay như phượng lượn như hoa tới cửa ngài ngồi tời ngai ngài ngự.

Cho con sở nguyện như ý sở cầu tòng tâm.

Chụp ảnh kỉ niệm tại đền ông Hoàng bảy

Hiện tại, theo chúng tôi ghi nhận thì có 2 nơi bạn có thể tới và thờ ông Hoàng bảy

Ngôi đền này được xây dựng ngay dưới chân đồi Cấm, bên cạnh dòng sông Hồng chảy vào miền đất Việt, thuộc xã Bảo Hà, huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai, cách trung tâm thành phố Lào Cai khoảng 60km về phía Nam.

Đền thờ Ông được xây dựng trên ngọn núi Cấm, mặt hướng ra phía sông Hồng cuộn đỏ, đúng thế “tựa sơn đạp thủy” để “trấn yểm” cho vùng biên giới được bình yên, thịnh vượng.

Đền Ông Hoàng Bảy là nơi thờ vị danh tướng Hoàng Bảy họ Nguyễn. Theo dân gian, ông Hoàng Bảy nổi tiếng ăn chơi, cờ bạc, lô đề, thuốc phiện nên những người sát “căn” ông Bảy nếu về lễ ông rất có lộc. Không biết thực hư thế nào nhưng có rất nhiều người tin vào sự linh thiêng và sùng bái ông.

Đền Ông Hoàng Bảy vốn nổi tiếng khắp cả nước nhờ sự linh thiêng, ứng nghiệm của những lời cầu xin từ các con nhang đệ tử khắp chốn. Thường khi đi lễ đền ông thường cầu may, cầu mát nhưng nhiều năm trở lại đây người ta truyền tai nhau về sự linh thiêng của ông khi xin lô, đề… không biết linh thiêng thế nào nhưng nhiều người đã quay lại đền tạ lễ.

Lễ mặn: Mâm xôi, gà (gà trống bày nguyên cả con)

Lễ chay: Rượu, bia, nước ngọt, nước khoáng, hoa tươi quả tốt, bánh, kẹo (kẹo lạc, oản), trà, thuốc lá, ít vàng lá, hương, nến, tiền trần, cau trầu, 1000 vàng Bốn Phủ, 1000 vàng tím… Nếu những ai có điều kiện hơn có thể sắm thêm một cỗ ngựa tím cùng với minh nghi quần, áo, hia, mũ đầy đủ.

Lễ vật dâng ông Hoàng Bảy, không nhất thiết phải dâng Ông 12 tiên nàng. Lễ dâng ông có thể ít hoặc nhiều nhưng chủ yếu tâm bạn phải sáng mới là điều cần thiết nhất.

Sắm Lễ Cúng Giao Thừa

Đối với mỗi người con nước Việt, Tết là một cái gì đó rất thiêng liêng, được người người, nhà nhà háo hức, mong chờ. Trong những ngày này, người ta thường làm những mâm cỗ ngon nhất, thịnh soạn nhất để kính dâng lên ông bà tổ tiên cùng với các đấng thần linh.

Chúng ta không thể không kể đến mâm cỗ cúng giao thừa – mâm cỗ đặc biệt nhất trong ngày Tết – mâm cỗ cuối cùng của năm cũ và cũng đồng thời là mâm cỗ đầu tiên của năm mới. Cỗ cúng giao thừa thì ai cũng đã từng được nghe, được thấy, nhưng những mâm cỗ này có ý nghĩa gì, chuẩn bị chúng như thế nào, cúng ra làm sao thì không phải ai cũng tường tận.

Và để các bạn hiểu rõ hơn về nét đẹp này trong truyền thống văn minh của người Việt, sau đây xin mời các bạn cùng đi tìm hiểu đôi điều về lễ cúng giao thừa.

+ Theo quan niệm của người Việt, thời khắc giao thừa là thời khắc chuyển giao quyền cai quản hạ giới của các vị quan Hành binh, Hành khiển và Phán quan. Các vị quan cũ sẽ về trời nhận nhiệm vụ mới sau một năm hết lòng hết sức vì sự bình yên của con dân hạ giới.

Đồng thời, các vị quan mới sẽ được thiên giới điều xuống tiếp quản công việc trong mới với nhiều thử thách mới. Trong thời khắc chuyển giao thiêng liêng ấy, nhà nhà, người người dâng lên các vị quan thần này những mâm cơm cúng với lòng thành kính nhất để cảm tạ các ngài đã cho hạ giới một năm mưa thuận gió hòa, đồng thời cầu mong cho một năm mới sắp đến bình an và hạnh phúc hơn năm cũ.

+ Theo truyền thuyết Táo Quân, giây phút giao thừa, ba vị Táo Quân sẽ hạ phàm sau khi báo cáo với Ngọc Hoàng về tình hình một năm vừa qua, đồng thời mang theo những may mắn ban phát cho con dân hạ giới trong năm mới.

Vì thế mà người ta còn quan niệm lê cúng giao thừa là lễ nghênh đón đức Táo trở về, cũng đồng nghĩa với việc nghênh đón nhiều phúc lộc mà Ngọc Hoàng đã ban phát cho họ trong năm mới.

+ Thời khắc giao thừa cũng là thời khắc chuyển giao giữa mùa đông lạnh giá và mùa xuân ấm áp. Trong thời khắc ngày, người ta dâng lên trời đất những mâm cơm thịnh soạn nhất để tiễn biệt những điều không may mắn trong năm cũ, cầu mong mùa đông qua đi sẽ mang theo những xui xẻo không vui của một năm đã qua và mùa xuân đang đến sẽ mang theo nguồn sống mới ấm áp hơn.

+ Lễ cúng giao thừa còn có tên khác là lễ trừ tịch. Thông qua mâm cơm cúng, người ta xua đuổi những ma quỷ đã và đang quấy nhiễu sự bình an và hạnh phúc của gia đình, để ngày đầu năm mới sắp đến không còn ma quỷ quấy phá, qua đó có một năm mới may mắn hơn.

+ Giây phút giao thừa trong tâm thức của người dân Việt còn là giây phút đoàn viên. Bên cạnh những thành viên trong gia đình đang quây quần bên nhau, người ta còn mong mỏi ông bà tổ tiên và những người thân đã khuất có thể về đoàn tụ cùng gia đình. Và mâm cơm cúng giao thừa chính là lời mời ông bà tổ tiên về ăn Tết với gia đình ấy.

+ Không chỉ có vậy, mâm cơm cúng giao thừa còn là một nét đẹp trong tinh thần tương thân tương ái của người Việt, thể hiện nét đẹp nhân văn trong tâm hồn người dân Việt. Thông thường, như ta đã biết, ngoài mâm cơm cúng trên bàn thờ, người ta còn sửa soạn những mâm cơm cúng chúng sinh ngoài trời đơn giản hơn.

Thông qua mâm cơm cúng này, người ta muốn chia sẻ hơi ấm tình người với những vong linh không siêu thoát, vất vưởng không nơi lương tựa, giúp họ có được đôi chút cảm giác đoàn viên của ngày Tết Cổ truyền, để những vong linh này không bị đói khát trong ba ngày Tết.

Sắm lễ cúng giao thừa cần những gì?

Lễ cúng giao thừa không yêu cầu quá cầu kỳ và cao sang, mà tùy theo điều kiện, hoàn cảnh từng nhà, từng vùng miền, có thể sửa soạn mâm cơm cúng sao cho hợp lý nhất. Tuy nhiên, một mâm lễ cúng giao thừa thường bao gồm những vật phẩm sau:

+ Quan trọng nhất của mâm cơm cúng là lễ xôi gà. Xôi có thể chuẩn bị xôi đỗ xanh hoặc xôi gấc. Đặc biệt là gà sử dụng trên mâm cơm cúng phải là gà trống mà không nên sử dụng gà mái.

Theo quan niệm của người Việt, gà trống được coi là khắc tinh của ma quỷ, đồng thời là linh vật duy nhất trên thế gian có thể đánh thức mặt trời. Người ta cho rằng con gà trống trên mâm cơm cúng có thể xua đuổi ma quỷ đang quấy nhiễu căn nhà, đồng thời đánh thức mặt trời, xua tan đi màn đêm tối tăm của ngày 30 Tết.

Trong trường hợp không có gà trống, người ta có thể thay thế bằng thủ lợn luộc. Tuy nhiên, điều bắt buộc ở đây là dù gà trống hay thủ lợn, thì cũng đều phải ngậm bông hoa hồng. Người ta cho rằng bông hoa hồng đỏ này chính là mặt trời rực rỡ của năm mới, đồng thời màu đỏ của cánh hoa sẽ mang lại may mắn cho cả gia đình.

+ Ngoài lễ xôi gà là trung tâm, trong mâm cơm cúng giao thừa cũng nên có đủ bánh chưng, kẹo, mứt, mâm trầu cau cùng với hoa quả và vàng mã. Những vật phẩm này cần tươi ngon, lành lặn và tránh những vật phẩm có hình dạng không đẹp, có mùi khó chịu. Đặc biệt, đây phải là những vật phẩm thật, không được phép sử dụng những vật phẩm giả trong mâm cơm cúng.

+ Cùng với đó là rượu và vàng mã, quần áo giấy để dâng lên các vị thần.

+ Ngoài ra, chúng ta cũng nên chuẩn bị thêm hũ muối và gạo. Hũ muối gạo này được dùng để trừ tà, xua đuổi ma quỷ và các luồng âm khí xấu xa, tà ác.

+ Ngoài những vật phẩm trên mâm cơm cúng, các bạn cũng cần phải lưu ý chuẩn bị kỹ lưỡng bài văn khấn cúng giao thừa. Bài văn khấn này có thể tham khảo trong cuốn tuyển tập văn khấn cổ truyền Việt Nam.

Gia đình cần chuẩn bị 2 mâm cơm cúng như trên một cúng trong nhà và một cúng ngoài trời. Mâm cúng ngoài trời không bắt buộc phải có lễ xôi gà mà chỉ cần các đồ ăn thức uống đơn giản.

Lễ cúng giao thừa không yêu cầu những nghi thức tâm linh khó thực hiện, mà quan trọng nhất của lễ cúng này là sự thành tâm của gia đình.

Bắt đầu lễ cúng, sẽ là mâm cơm cúng giao thừa ờ ngoài trời. Mâm cơm cúng này mang ý nghĩa ” tống cựu” tức là tiễn cái cũ đi. Mâm cơm cúng ngoài trời dùng để tiễn biệt những thiên binh thiên tướng đã hết nhiệm vụ và trở về trời. Do ra đj quá vội vàng nên họ không còn thời gian ghé vào trong nhà, và những vật phẩm trên mâm cơm cúng này sẽ được họ mang đi để sử dụng trên đường về trời. Theo đó, nghi thức cúng ngoài trời được thực hiện như sau:

Bày án hương và đèn nến lên bàn thờ đã chuẩn bị. Điều lưu ý ở đây là bàn thờ này được lập ngoài trời nhưng vẫn phải trên phạm vi đất của gia đình, không được lập ở ngoài đường hoặc đất của nhà người khác.

Các thành viên trong gia đình tiến hành bày biện mâm cơm cúng đã chuẩn bị từ trước, sau đó lên hương. Gia chủ chắp tay và đọc bài văn khấn đã chuẩn bị.

Tiếp theo của lễ cúng giao thừa là nghi thức cúng trong nhà để nghênh đón cái mới:

Các thành viên trong gia đình sẽ bày biện tất cả những gì đã chuẩn bị như lễ xôi gà, rượu thịt và vàng mã,…lên bàn thờ tổ tiên và lên hương, dâng nước. Gia chủ ăn mặc chỉnh tề đứng trước bàn thờ đọc bài văn khấn một cách thành tâm.

Sắm Lễ Cúng Bà Chúa Kho

“Đầu năm đi vay, cuối năm đi trả”, mỗi ngày có hàng nghìn khách thập phương đổ về Đền Bà Chúa Kho hành lễ.

Cành vàng lá ngọc, vàng bạc bày bán la liệt dọc lối lên đền Bà Chúa Kho

Đã thành thông lệ, cứ vào dịp đầu năm, hàng vạn người lại ngược về Bắc Ninh đi lễ Bà Chúa Kho để cầu lộc. Đầu năm vay bà, cuối năm trả nợ. Cái sự vay trả nơi đây cũng rườm rà chẳng khác nào vay tiền thật trong ngân hàng Nhà nước.

Để vào được nơi thâm nghiêm Bà ngự trong hậu cung đền Bà Chúa Kho “vay tiền” là việc không hề đơn giản. Nhiều người kinh doanh có máu mặt, cũng có không ít quan chức, lãnh đạo một số cơn quan nhà nước phải bỏ ra hơn một ngày mới đến lượt mang lễ vào khấn vay bà. Muốn vay bao nhiêu phụ thuộc vào lễ sắm nhiều hay ít.

Có đi lễ Bà Chúa Kho mới thấy hết cái sự nhiêu khê của việc sắm lễ. Hàng vạn người đổ về đây đều không ngoài mục đích cầu tài cầu lộc và ai cũng cố gắng sắm cho mình những mâm lễ thật hoành tráng hầu mong Bà để mắt tới mà ban lộc cho!

Mà cũng lạ, chưa ở đâu như đền Bà Chúa Kho người ta đi sắm lễ lại “chuyên nghiệp” đến thế.

Lễ dâng lên Bà Chúa Kho mâm nào mâm ấy đều vàng chóe “cành vàng lá bạc”, “vàng thỏi”, “vàng cục”, “vàng lá”, “đô la”… toàn tính bằng tiền tỷ và hàng triệu đô cả. Và để có được những mâm lễ hàng mã cả tỷ đồng âm phủ ấy người ta cũng phải chi ra bằng tiền thật một lượng không nhỏ. Lễ ít thì mấy chục nghìn, lễ to lên đến hàng trăm, thậm chí cả triệu đồng.

Chỉ riêng số tiền mua lễ này nhân lên con số hàng vạn người đi lễ mỗi ngày sẽ ra một khoản tiền khổng lồ được các “tín chủ” mù quáng ném vào lò thiêu nhẹ như lông hồng (ở đền Bà Chúa Kho gọi là hóa sớ dâng bà)!

Sắm lễ mới là công đoạn đầu tiên, việc tiếp theo khong kém phần quan trọng là phải đặt lễ, đi lễ hết các ban (có rất nhiều ban như ban Cô, ban Cậu, Đức Bà, Đức Ông…) và cuối cùng là khấn lễ. Đối với hầu hết người đến vay Bà, việc khấn phải vào được hậu cung mới thiêng. Không ít người đã phải chi đậm (bằng tiền thật) vào các ban, hòm công đức và “nhờ vả người dẫn đường” để được lọt vào nơi linh thiêng nhất ấy khấn cho thấu đến tai Bà!

Ở đền Bà Chúa Kho có một dịch vụ lạ đời chưa từng thấy nơi đâu có đó là khấn lộc riêng! Khách đến lễ Bà hầu hết đều mong cầu tài cầu lộc và thường đi nhóm với nhau nên ngay lối vào chính điện đã có hàng chục “cô” tay phải lăm lăm chiếc đĩa toen hoẻn, tay trái cầm đồng xu rỉ sét gõ leng keng gạ gẫm đặt lễ để họ khấn riêng với bà ?

Lễ chung lộc riêng!

“Hai trăm năm trăm đặt vào đây chị khấn Bà cho. Lễ chung nhưng Lộc riêng em ạ” – một “cô” người gầy như sếu, tóc nhuộm loe hoe, môi thâm sì nâng đĩa lên gạ gẫm.

Tôi hỏi: “Lễ chung Lộc riêng là gì hả chị?”. Như vớ được vàng, “cô” cầm tay tôi kéo tuột vào một góc phía sau cánh cửa vào cung Bà giải thích: “Em đi lễ đây là lễ cho công ty đúng không? Tội gì mình không nhân tiện lễ của cơ quan mà khấn riêng cho mình, biết đâu lễ hậu lọt vào mắt Bà, năm nay em lên làm sếp giàu nứt đố đổ vách ấy chứ, lúc đó nhớ sắm lễ thật to về tạ Bà và đừng quên chị đấy”!

Không kịp để tôi nói đồng ý hay không, “cô” đã nâng đĩa lên gieo đồng sấp ngửa ngay. “Cô” giải thích khấn trước lễ sau cũng không sao! Sau vài lần đồng tiền xu leng keng “cô” phán: “Bà cười rồi, em chỉ mâm lễ của công ty và đặt tiền lễ (tiền thật và phải đặt vào đĩa của cô!), xưng tên tuổi để Bà ban lộc cho”.

Khốn nỗi, tôi đang đi thực tế viết bài làm gì có lễ? Tôi đánh bài tháo lui song đã muộn. “Cô” sấn sổ lên đòi đặt lễ trả công. Móc ví chẳng còn đồng tiền lẻ nào vì không phải là người đi lễ nên đành ngậm ngùi rút tờ mười nghìn đồng đỏ chóe “mừng tuổi cô”. Không biết năm nay tôi có được lên làm sếp hay không nữa!

Thì ra, không chỉ trong các cơ quan nhà nước mới có việc tiêu tiền chùa. Tại nơi cầu cúng linh thiêng này còn có cả một đội ngũ đông đảo cô đồng trà trộn vào khách làm lễ để khấn riêng cho những người thích đánh quả lẻ xin “lộc chùa” bằng “lễ chùa”!

1.001 mánh móc hầu bao “thượng đế”

Dịch vụ cúng thuê vẫn hoạt động

Mặc cho cái rét quất từng cơn vào mặt, mỗi khi có khách dừng xe hỏi đường vào Đền Bà Chúa Kho, ngay lập tức có một “hướng dẫn viên” lao ra chỉ trỏ rồi hăng hái: “Nếu anh chị không nhớ đường, cứ theo em”. Đám khách đang ngơ ngác, anh thanh niên liền nói: “Lúc này đang rảnh, đoàn anh chị sớm thì còn có cơ hội “gặp Bà” chứ chờ lát nữa thì chỉ còn nước đứng ở sân mà vái, không chen nổi đâu”. Đoàn khách không ai bảo ai, lục tục theo xe anh thanh niên nọ. Vào cổng đền, anh ta nhiệt tình hướng dẫn đường đi nước bước.

Đường vào Đền san sát cửa hàng hoa, sớ, lễ. Khách thập phương đã đông nhưng đôi lúc cũng chẳng ăn nhằm so với “cò” bán hoa, sớ, lễ. “Em ơi! Vào đây uống nước, sắp lễ, viết sớ đi”, mỗi chủ hàng lao ra tiếp cận khách, thậm chí còn theo khách vào Đền để mời chào. Thấy đám “lâu nhâu” lao ra định nẫng tay trên, anh thanh niên nọ xẵng giọng: “Khách nhà tôi đấy, vất vả mời từ đường cái mời vào, đừng có “hóng” mà “hớt”.

Cuối năm “vàng” lại “nạp đầy kho bà chúa

Cảnh tượng này tiếp diễn giống hệt nhau mỗi khi có đoàn khách xuất hiện. Chỉ cần cái gật đầu, “thượng đế” sẽ có ngay mâm lễ vào dâng cửa Bà Chúa kèm sớ cúng với mức giá rất khác nhau, từ 100.000 đồng đến tiền triệu.

Sau khi thoát cảnh chen lấn mời chào, du khách những tưởng được bình an, nào ngờ trong đám khách lại “lách” ra một đám “cò” mới. Không rì rầm xin xỏ, chèo kéo, đám này liền lôi trong túi của mình ra một nắm danh thiếp rồi nói: “Đây là cửa hàng, số điện thoại nhà em, các bác cứ vào đền, alo cho em một tiếng, dăm phút sau em cho người sắm đủ lễ mang vào”.

Hối hả dâng tiền, vàng trả lễ Bà Chúa.

“Cò” có cả 1.001 cách để thuyết phục các “thượng đế” phải móc hầu bao. Dịch vụ đổi tiền lẻ cũng rôm rả mời chào khi được “ưu ái” địa điểm đắc địa. Mỗi hàng đổi tiền ngự trước cửa chính điện. Cửa vào điện có 3 lối ra vào thì đã có sẵn 4 hàng đổi tiền lẻ “ngự” hai bên.

Giá đổi cũng lên “giời” tùy loại. Đổi 100.000 đồng lấy tiền mệnh giá 200 đồng thì chỉ được 60.000 đồng, lấy loại 500 đồng chỉ được 70.000 đồng, loại 1.000 đồng được 80.000 đồng, với mệnh giá 5.000 và 10.000 đồng được 90.000 đồng… Đội quân này còn đảm nhận cả khâu bưng lễ vào điện thờ, chờ cho tín chủ khấn xong, hạ lễ giúp và đưa ra tận chỗ hoá vàng. Tất nhiên, “thượng đế” cũng sẽ phải móc hầu bao cho từng công đoạn.

Cấm cúng thuê thì… khấn hộ

Những mâm vàng mã, đô la âm phủ cao ngất ngưởng.

Để ngăn chặn tình trạng chèo kéo khách cúng thuê, nhà Đền dựng một tấm bảng to với nội dung: “Quý khách lưu ý: Không nhờ cúng thuê, lễ mướn”. Tuy nhiên, sau “biển cấm” này, hàng chục phụ nữ tay cầm đĩa, “đính kèm” vài đồng xu mắt đảo liên hồi, tiếp cận khách mời chào “khấn hộ”. Đám “thầy” khấn hộ này “bâu” quanh hòm công đức trước cửa nội điện, thấy khách vào, cả đám nhao ra mời chào, lôi kéo. Nhiều du khách bực mình lên tiếng: “Đền cấm cúng thuê, các chị không sợ bị “tóm” à?”. Một “thầy” cười nhếch rồi nói: “Đền cấm cúng thuê nhưng bọn tôi khấn hộ kia mà”.

Thấy đoàn khách có vẻ căng thẳng, một “thầy” liền “chém gió”: “Ai thì không biết chứ tôi khấn thiêng lắm, đấy, cái nhà khệ nệ đội mâm vàng, bạc kia năm ngoái nhờ tôi khấn, năm nay làm ăn trúng lắm, vừa lên trả lễ xong. Trước khi lên còn phải gọi điện cho tôi mấy ngày để trả lễ “thầy”. Lời “thầy” không biết thực hư thế nào nhưng đi dăm bước lại nghe một “thầy” “cóp” nguyên lời thầy nọ phán với khách kia.

Hoá ra, các “thầy” đều “uyên thâm” và “thiêng” như nhau, mỗi khi được thuê khấn đều ra rả “phán” giống nhau không sót một chữ. Nói về “đám” khấn thuê này, ông Nguyễn Văn Huynh, Trưởng Ban an ninh Đền Bà Chúa Kho khẳng định, “đám” cúng thuê toàn là dân thất nghiệp. Không nghề ngỗng gì nên lợi dụng trà trộn vào khách để hành nghề (!?).

Nội điện, nơi đặt bàn thờ Bà Chúa được “phong toả” bằng hệ thống cửa đóng, then cài để tránh tình trạng lộn xộn chốn linh thiêng. Để vào trong, chỉ được từng tốp vài ba người, vào xong có người của Ban tổ chức khoá cửa đứng canh. Ngoài cửa, từng tốp người đứng chờ tới lượt. Xen lẫn trong nhóm du khách là các “thầy” cúng thuê, tay cầm sổ bút ghi tên tuổi, địa chỉ của gia chủ. Mỗi tốp khách vào nội điện thì ngay lập tức có một “thầy” đứng ngoài “chỉ huy”. Khách hành lễ gõ chuông như thế nào? Khấn vái ra làm sao đều theo sự chỉ dẫn của “thầy”.

Càng về trưa, khách đổ về đền Bà Chúa Kho càng nhiều với những mâm vàng mã, đô la âm phủ cao ngất ngưởng. Ai cũng cố tìm cho mình một chỗ đứng gần Cung Bà Chúa như thể muốn “bà” nghe thấu lòng mình. Du khách vào đây phần lớn đều thuê người khấn hộ. Đỉnh điểm có lúc, trước điện Chúa Bà có đến 5 “thầy” thi nhau “phán”. Người cầu bố mẹ bình an, bách niên giai lão, nội ngoại hai bên hòa thuận, nói có người nghe, đe có người sợ… trẻ nhỏ ăn như cũ ngủ như xưa, học hành giỏi giang, tiến tới…

Một gia chủ giới thiệu mình là phu nhân của chủ tịch huyện ở tỉnh Nam Định vừa tái đắc cử. Gia chủ đọc, “thầy” phán theo: “Mong Bà phù hộ cho huyện X, tỉnh Nam Định năm nay ấm no hạnh phúc, ký kết được nhiều hợp đồng, khởi công nhiều dự án, phát triển bằng năm bằng ba năm ngoái”. Cầu chung xong, gia chủ cầu riêng cho nhà mình, cho ông chủ tịch vững ghế, sớm phát đường quan lộ.

Cạnh đó, gia chủ quê ở Bắc Ninh ngoài việc cầu tài, cầu lộc, còn ghi hẳn cả biển số 2 con xế hộp cho “thầy” nhờ bà Chúa che chở: “…Cầu cho Bà phù hộ, che chở cho 2 xe nhà con biển số 99 H…, 99 P… ra đường được thượng lộ bình an, đi tới chốn, về tới nơi”.

Với dân kinh doanh xin buôn may bán đắt, nhập bao nhiêu hàng bán hết bấy nhiêu, khách hàng trả tiền “tươi”, con nợ nóng lòng sốt ruột trả không thiếu một xu. Công việc kinh doanh ngày càng phát đạt… Cùng với du khách trong nước, lượng khách Việt kiều về trả lễ Bà Chúa cũng chiếm con số không nhỏ.

Mỗi nhà một cảnh, ai cũng có “tâm sự riêng” với Chúa Bà. Đứng cạnh một nữ trung niên tuổi ngoài 40, một “thầy” phán: “…Gia chủ của con là Việt kiều Liên bang Nga, hôm nay về đây trả lễ Bà. Cầu Bà ban cho lộc rơi, lộc vãi để năm sau đắt hàng, hàng nhập về bao nhiêu hết bấy nhiêu. Nhập năm bán năm, nhập mười bán mười, mua một bán hai ba…”. Một nhà có con đi xuất khẩu lao động Đài Loan bị vỡ nợ cũng khẩn thiết cầu cứu Bà Chúa, cầu Bà phù hộ cho năm sau xuất ngoại làm ăn khấm khá, không thất bát như thời gian qua…

Đền Bà Chúa Kho toạ lạc trên lưng chừng ngọn núi Kho, tại khu Cô Mễ, xã Vũ Ninh, TP Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh. Đây không chỉ là khu di tích lịch sử có giá trị nằm trong quân thể di tích của khu Cô Mễ (gồm: Đình – Chùa – Đền) mà còn là nơi hàng năm nhân dân khắp cả nước hành hương mang tính tín ngưỡng.

Đền Cổ Mễ thờ Bà Chúa Kho chính là nơi tưởng niệm một người phụ nữ Việt Nam đã khéo tổ chức sản xuất, tích trữ lương thực, trông nom kho tàng quốc gia trong thời kỳ trước và sau chiến thắng Như Nguyệt.

Vào đời nhà Lý, Bà có công giúp triều đình trông coi kho lương thực tại Núi Kho (tỉnh Bắc Ninh) và đã “thác” trong cuộc kháng chiến chống quân Tống vào ngày 12 tháng giêng năm Đinh Tỵ (1077).

Nhà vua thương tiếc phong cho Bà là Phúc Thần. Người dân nhớ thương Bà lập nên đền thờ tại kho lương thực cũ của triều đình ở Núi Kho và gọi Bà với một niềm tôn kính là: Bà Chúa Kho.

Bà Chúa Kho xuất thân từ một gia đình nghèo khó ở làng Quả Cảm gần đó. Sau khi lấy vua Lý, thấy ruộng đất ở đây bị hoang hoá, bà xin vua cho về làng chiêu dân lập ấp, khai khẩn ruộng hoang.

Không ai biết tên bà, khi bà qua đời, nhân dân lập đền thờ để ghi lại công ơn bà là đã hết lòng chăm lo cho dân ấm no, trông coi các “lẫm thóc, lẫm tiền” của Nhà nước. Công lao của bà đã được triều đại phong kiến ghi nhận qua việc sắc phong đền thờ bà là “Chủ khổ linh từ” (Đền thiêng thờ bà Chúa Kho).

Ở thôn Cổ Mễ còn một ngôi đình và ngôi chùa cổ. Chùa Cổ Mễ có từ lâu đời. Ngày nay trong chùa còn ba pho tượng đá khá đẹp mang rõ phong cách điêu khắc thời Mạc. Chùa còn lại đến nay là kiến trúc thế kỷ XIX, làm theo kiểu chữ T chạm khắc công phu.

Đình Cổ Mễ kiểu chữ nhất với năm gian, hai vì. Các mảng chạm khắc gỗ thể hiện theo các đề tài long vân khánh hội, ngũ hổ tranh châu với nghệ thuật điêu luyện. Đình thờ Trương Hống, Trương Hát là những anh hùng có công giúp Triệu Quang Phục (549-570) chống giặc Lương.

Cách Sắm Lễ Cúng Rằm Tháng Giêng

Ý nghĩa:

Ngày Rằm tháng Giêng, ngày trăng tròn dầu tiên của năm mới, theo tục xưa gọi là: Tết Nguyên Tiêu. Vào ngày này người Việt Nam thường đi lễ Chùa, lễ Phật để cầu mong cho sự bình yên, khoẻ mạnh quanh năm. Đây là lễ tiết quan trọng trong năm nên ông bà ta có câu: “Lễ Phật quanh năm không bằng ngày Rằm tháng Giêng”.

Ngày Rằm tháng Giêng, theo tục xưa gọi là: Tết Nguyên Tiêu.

Trong ngày lễ này, mỗi gia đình người Việt có thể cúng cơm chay, hương đèn, hoa quả hoặc mâm lễ mặn, xôi gà, cơm canh thành kính dâng lên tổ tiên.

Tùy vào điều kiện kinh tế và phong tục tập quán mà mâm cỗ cúng rằm tháng Giêng mỗi gia đình, mỗi vùng miền có thể khác nhau nhưng đều là để thể hiện tấm lòng thành kính và biết ơn của con cháu đối với ông bà, tổ tiên, Phật thánh và cầu mong một năm an lành, may mắn.

Theo quan niệm từ xưa, đây là thời điểm thích hợp để cầu nguyện an lành cho cả năm. Người theo đạo Phật thường cúng chay trong ngày này, cũng tùy theo tín ngưỡng mà có gia đình cúng Phật, có nhà cúng Thổ công, cũng có hộ cúng Thần tài. Nhưng không thể thiếu mâm cúng gia tiên, tạ ơn ông bà, cha mẹ đã phù hộ cho con cháu phước lành và giải trừ tai ương cho một năm mới.

Trước đây, lễ rằm tháng Giêng còn được gọi là tết muộn. Vì vậy, từ lâu trong tâm thức người Việt, rằm tháng Giêng có ý nghĩa không khác gì ngày Tết nguyên đán. Sau rằm tháng Giêng mới là thời điểm chính thức bước vào mùa lao động mới, kết thúc quãng thời gian ăn chơi đầu xuân.

Người theo đạo Phật thường cúng chay trong ngày này.

Ngoài tới chùa cầu bình an, may mắn, sức khỏe trong ngày rằm, người Việt cũng rất coi trọng lễ cúng tại nhà trong Tết nguyên tiêu. Các gia đình thường sắm hai lễ, một là cúng Phật cúng thần linh, hai là cúng gia tiên vào giờ Ngọ.

Mâm cỗ cúng Phật:

Ngày nay, cùng sự phát triển của kinh tế xã hội, cách đón ngày rằm của người dân cũng ít nhiều thay đổi nhưng nhiều gia đình vẫn quan niệm rằm tháng Giêng là ngày tránh sát sinh, nên ăn chay để cầu mong may mắn, giải hạn cho cả năm. Lễ vật dâng cúng thường là hoa quả, chè xôi, các món đậu, canh xào không thêm nhiều hương liệu. Ngày nay, nhiều người dân cúng rằm tháng Giêng có thêm món bánh trôi nước với ý nghĩa cầu mong cả năm mọi việc đều hanh thông, trôi chảy, hạnh phúc tròn đầy.

Cỗ chay tùy loại có từ 10, 12 tới 25 món. Điểm đặc biệt trên mâm cỗ chay là sự hiện diện của những màu sắc tượng trưng cho ngũ hành. Màu đỏ tượng trưng cho hành hỏa, xanh của hành mộc, đen của hành thổ, màu trắng của hành thủy, màu vàng hành kim. Ăn cơm chay là một cách hướng tới sự cân bằng, thanh thản trong tâm hồn.

Với những gia đình không theo đạo Phật, mâm cỗ cúng gia tiên thường là mâm lễ mặn, khá giống mâm cỗ ngày Tết. Mâm cỗ mặn thường có 4 bát, 6 đĩa. Với nhà khá giả có thể có nhiều hơn. 4 bát gồm bát ninh măng, bát bóng, bát miến, bát mọc. 6 đĩa gồm thịt gà hoặc thịt lợn, giò hoặc chả, nem thính có thể thay bằng đĩa xào, dưa muối, đĩa xôi hoặc bánh chưng và bát nước chấm.

Với những gia đình không theo đạo Phật, mâm cỗ cúng gia tiên thường là mâm lễ mặn, khá giống mâm cỗ ngày Tết.

Tổng cộng là tròn 10 món. Những món ăn trong mâm cỗ cúng cũng thể hiện những ước mong riêng của người Việt. Bánh chưng tượng trưng cho sự sinh sôi nảy nở của muôn loài; thịt lợn đã chế biến thuộc về âm, dưa hành rau củ thuộc về dương, âm dương hài hòa tượng trưng cho sự phát triển. Ngoài ra trong mâm cỗ còn có thể có thêm cơm tẻ là lương thực hàng ngày. Mâm cỗ có nếp có tẻ, có âm dương đẩy đủ để sinh sôi nảy nở. Bát nước chấm đặt giữa mâm hình tròn tượng trưng cho trời đất vũ trụ, kết nối cổ kim.

Mâm cơm cúng ngày rằm tháng Giêng cũng phải có đầy đủ các vị. Vị mặn của nước chấm, vị cay của ớt, vị chua của đĩa dưa hành, vị ngọt của bánh, tất cả tạo nên mâm cỗ đủ đầy, cầu mong yên ấm an lành, xua đi những đen đủi có thể đến trong năm mới.

Dù cỗ chay hay cỗ mặn, đối với người Việt, ngày rằm tháng Giêng luôn có vị trí trọng đại. Đây là dịp để tỏ lòng biết ơn ông bà, tổ tiên, cùng ước mong năm mới với nhiều may mắn an nhiên.

Các vật phẩm khác như:

– Hương hoa vàng mã;

Sắm Sửa Lễ Cúng Vía Thần Tài

Chị Châu, nhà ở đường Võ Thị Sáu, TP HCM, cho biết: “Tết nhất bận rộn với nhiều ngày cúng kiếng, mệt là vậy nhưng đến ngày cúng vía thần Tài là tôi lại phấn chấn hẳn. Cầu cho một năm thuận lợi, sung túc về tiền bạc thì ai lại chẳng muốn. Từ mùng 8 Tết tôi đã lên danh sách những món đồ cần mua để chuẩn bị mâm lễ thịnh soạn. Tôi cũng tự tay mình lo toan mọi thứ, không nhờ vả ai vì nghĩ phải tự tay mình thực hiện thì mới có thành ý”.

Hình tượng ông thần Tài quen thuộc mọi người với gương mặt hoan hỉ, tay cầm thỏi vàng, nhưng hiểu rõ về vị thần này thì không phải ai cũng biết. Thần Tài là vị thần chủ quản về tài lộc, được người phương Đông thờ từ rất lâu đời, vì mọi người đều mong muốn mình có nhiều tiền của, cuộc sống sung túc.

Tục thờ thần Tài của người xưa phân biệt: Văn Thần Tài và Võ Thần Tài. Văn thần Tài phù trợ cho người theo ngành “văn”, có nghĩa là những công việc văn phòng, sổ sách, giấy tờ, thơ ca hội họa… Còn Võ Thần Tài phù trợ cho gia chủ theo nghiệp “võ” như làm quan chức, chính quyền… Riêng việc kinh doanh thì “văn”, “võ” đều thờ thần Tài cả.

Đứng đầu là Chính nhất thần Tài Triệu Công Minh, có râu xồm, mặt đen dữ tợn, cưỡi hổ vằn, một tay cầm roi sắt, tay kia cầm chậu tụ bảo, thống lĩnh 4 bộ hạ gồm Chiêu Tài, Chiêu Bảo, Nạp Trân, Lợi Thị. Những tập đoàn kinh doanh, hay những công ty lớn thường thờ ông này, vì mang lại tiền lớn. Cúng Triệu Công Minh thần Tài vào ngày mùng 5 tháng Giêng âm lịch. Đồ cúng hết sức linh đình, công phu và thịnh soạn.

Hình tượng thần Tài phổ biến nhất là Văn Thần Tài, đội mũ cánh chuồn, râu đen 3 chòm, miệng cười rất tươi, tay cầm chậu tụ bảo hoặc thỏi vàng. Đây là vị thần được thờ cúng nhiều ở trong nhà, vì mang lại tài lộc và giữ tiền của cho gia chủ. Ông thường được thờ chung ở bàn thờ Thổ – Địa, tạo thành bộ 3: Ông Địa, Thần Tài, Thổ Địa.

Nói vui theo dân gian, thì cấp bậc của Văn Thần Tài thuộc “Trung ương”, tức là “công chức” trực thuộc Thiên Đình. Nhiều người thường nhầm Văn Thần Tài với Thổ Địa. Thổ Địa đội mũ vải, râu trắng 3 chòm, một tay cầm gậy đầu rồng, một tay cầm 3 thỏi vàng. Thổ Địa còn một tên khác là Phước Đức Chính Thần, là vị thần trông coi ghi nhận và ban Phước – Đức cho gia chủ. Nói cách khác, “tấu sớ” của Táo Quân hàng năm về chầu có phần đông “nhận xét” của Thổ Địa. Nếu gia chủ có nhiều nhà cửa, đất đai, thì Thổ Địa là người liên kết và theo dõi điền trạch đó. Xét theo cấp bậc, thì Thổ Địa cai quản một vùng rộng hơn ông Địa, cỡ “tổ dân phố”; còn cấp “quản lý” cao hơn là Thành Hoàng, thời xưa cai quản cả một làng, xã.

Còn lại trong bàn thờ đó là hình tượng ông Địa: bụng phệ, tay cầm quạt. Đây là vị thần trông coi nhà cửa, nói nôm na là “bảo vệ” nhà, giống như Môn Thần vậy. Trong tấm liễn sau lưng các ông có ghi “tiền hậu địa chủ”, thì ông Địa chính là hình tượng của các vị “chủ đất” này.

Trong vài năm gần đây, từ những công ty kinh doanh lớn đến các gia đình cũng thờ thần Tài đúng cách, nghĩa là bàn thờ Địa – Tài có đủ 3 ông, chứ không còn nhầm lẫn thần Tài với Thổ Địa nữa. Bàn thờ Địa – Tài có mặt trong hầu hết gia đình Việt Nam, nhiều bàn thờ được gia chủ dày công trang hoàng lên đến mấy chục triệu đồng.

Cúng Địa – Tài vào mùng 10 âm lịch hàng tháng rất thịnh soạn: phổ biến nhất là cúng thịt lợn quay và chè đậu đỏ. Từ xa xưa, lợn quay đã là món ăn đắt tiền và trang trọng trong những dịp lễ lớn nên dùng để cúng tế. Dân gian cũng truyền tụng thần Tài thích ăn lợn quay, nhưng chỉ cần cúng mặn là được, vì thần thánh thì vẫn ăn mặn, chứ không cần cúng chay như cúng Phật. Tuy nhiên đồ ăn cần tươm tất, vì ai cũng muốn tiền vào “đầy đủ”.

Riêng ngày mùng 10 tháng Giêng mọi người thường cúng lớn nhất, một số công ty kết hợp khai trương vào ngày này, do đây là ngày vía của thần Tài để may mắn thuận lợi hơn.

Cúng vía thần Tài phải chuẩn bị mâm lễ thịnh soạn có lợn quay (nhiều người thay bằng cá lóc nướng), một món mặn, một món xào, một món canh; trái cây có quýt, sơ ri, đu đủ vàng, đậu phộng sống; bộ tam sên; cải thảo, hẹ, xà lách, hành lá, tần ô; một dĩa xôi, 5 chum rượu, chè đậu đỏ… Nhiều người còn cầu kỳ luộc bắp cải tím và đặt bộ tam sên gồm trứng, thịt luộc, tôm luộc lên trên, với ý nghĩa hình tượng bắp cải luộc như bàn tay đang nắm giữ tiền. Có người cũng hóa vàng khi cúng vía thần Tài.

Hoàng Hải Bình

Cập nhật thông tin chi tiết về Sắm Lễ &Amp; Lời Văn Khấn Lễ Tạ Đền Ông Hoàng Bảy trên website Apim.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!