Xu Hướng 2/2023 # Nghi Thức Cúng Tế Trong Lễ Thượng Điền Đình Bình Thủy # Top 4 View | Apim.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Nghi Thức Cúng Tế Trong Lễ Thượng Điền Đình Bình Thủy # Top 4 View

Bạn đang xem bài viết Nghi Thức Cúng Tế Trong Lễ Thượng Điền Đình Bình Thủy được cập nhật mới nhất trên website Apim.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Bài viết của Hồ Huỳnh Hoàng Mai, học viên ngành Dân tộc học khóa 2010-2012, đã được trình bày tại Hội thảo Khoa học Trẻ 2013 do Trường ĐHKHXH&NV-TP.HCM tổ chức.

Từ bao đời nay, đình là hình ảnh thân quen, gắn bó với tâm hồn của người Việt, là nơi chứng kiến những sinh hoạt và đổi thay trong đời sống xã hội của làng quê Việt Nam. Đình là nơi thờ Thần Thành hoàng, vị chỉ huy tối cao của làng xã về mặt tinh thần. Thần có thể bao quát, chứng kiến toàn bộ đời sống của dân làng, bảo vệ, phù hộ cho dân làng làm ăn phát đạt, mạnh khỏe. Trong năm, ở đình người dân tổ chức rất nhiều lễ hội, vừa là dịp để thể hiện sự tôn kính và cầu mong sự che chở từ Thần Thành hoàng, lòng biết ơn “Uống nước nhớ nguồn” với những thế hệ đi trước đã có công với làng xã, vừa là dịp để người dân sinh hoạt văn hóa, vui chơi.

Tại thành phố Cần Thơ, đình Bình Thủy là ngôi đình cổ nổi tiếng do lịch sử lâu đời, được xây dựng lần đầu vào năm 1844 và lần xây dựng thứ ba hoàn thành vào năm 1911, Sắc Thần được vua Tự Đức phong vào ngày 29 tháng 11 âm lịch năm thứ 15 (Nhâm Tuất 1862)[1].Đình cũng đã được Bộ Văn hóa Thông tin công nhận là Di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia năm 1989. Chu kỳ lịch lễ tại đình Bình Thủy được thực hiện đều đặn và chặt chẽ, trong đó quan trọng nhất là Lễ Thượng điền vì mỗi năm đình đều kết hợp thực hiện cùng lúc cả lễ Thượng điền và lễ Kỳ yên. Lễ Thượng điền ở đình làng được nhân dân tổ chức xuất phát từ nhu cầu tâm lý gắn liền với nền sản xuất nông nghiệp lúa nước. Theo tín ngưỡng, nhân dân trước khi bắt đầu công việc gì mang tính chất quan trọng đều cầu khấn Thần linh phù hộ cho mọi việc được suôn sẻ, hoặc cảm tạ Thần linh đã phù hộ cho công việc đạt kết quả mỹ mãn. Lễ Thượng điền được tổ chức là để cảm tạ Thần Thành hoàng đã ban cho công việc đồng áng của người nông dân được suôn sẻ. Lễ Kỳ Yên và Thượng điền là hai trong các nghi thức cúng đình quan trọng trong năm ở một ngôi đình Nam bộ. Tuy tính chất khác nhau (Thượng điền: cúng cảm tạ vụ mùa; Kỳ yên: cúng cầu an), nhưng đều là lễ tế cầu mong trời đất, Thành hoàng làng phù hộ “quốc thái dân an, phong điều vũ thuận”. Điểm đặc biệt ở đình Bình Thủy là người dân đã kết hợp cả hai nghi lễ nông nghiệp quan trọng là Kỳ yên và Thượng điền lại, vừa mang mục đích cầu an, vừa cảm tạ Thần thánh sau một vụ mùa và được diễn ra từ ngày 12 đến rạng sáng ngày 15 tháng 4 âm lịch hàng năm. Nội dung của bài viết là kết quả của quá trình quan sát, tìm hiểu, tham khảo và miêu tả lại các nghi thức cúng tế diễn ra trong một kỳ lễ Thượng điền ở đình Bình Thủy. Nó không chỉ mang ý nghĩa về mặt tín ngưỡng tâm linh, mà còn thể hiện một nét đẹp văn hóa rất đặc biệt của cư dân gốc nông nghiệp lúa nước.

Lịch trình Lễ Thượng điền đình Bình Thủy cố định hàng năm như sau:

3 giờ: Lễ đưa Sắc Thần đi du ngoạn

5 giờ 45 phút: Lễ Tế Thần Nông

7 giờ: Tiếp rước quan khách

10 giờ 30: Mời dùng cơm trưa thân mật

12 giờ: Lễ thay khăn Sắc Thần

14 giờ: Lễ Xây chầu đại bội

15 giờ: Hát tuồng cổ

20 giờ – 2 giờ ngày 13/4: Hát tuồng cổ

7 giờ: Lễ Tế Bàn Soạn

15 giờ: Hát tuồng cổ

20 giờ – 2 giờ ngày 14/4: Hát tuồng cổ

2 giờ: Lễ Túc Yết

15 giờ – 17 giờ: Hát tuồng cổ

20 giờ – 2 giờ ngày 15/4: Hát tuồng cổ

2 giờ: Lễ Chánh Tế

5 giờ: Lễ Tôn Vương

5 giờ 15 phút: Lễ Tế Sơn Quân

5 giờ 30 phút: Lễ Tống Khách

1. Lễ đưa Sắc Thần đi du ngoạn:

Ở các ngôi đình Nam Bộ, nghi thức diễn ra đầu tiên trong lễ Kỳ yên là nghi thức thỉnh Sắc (tương ứng với thỉnh Sắc, kết thúc kỳ lễ sẽ là nghi thức hồi Sắc).Theo tìm hiểu của tôi, trước đây vì lý do chiến tranh, Sắc Thần không có trong đình nên nghi thức đầu tiên trong kỳ lễ là “Lễ thỉnh Sắc Thần”. Những năm kháng chiến chống Pháp cũng như chống Mĩ, vì lý do an toàn người dân đã đưa Sắc Thần về chùa Nam Nhã tạm thờ, sau là đưa về nhà riêng của một vị chức sắc trong đình cất giữ. Vì vậy mỗi lần đến Lễ Thượng điền, các hương chức hội tề và nhân dân tại tổ chức “Lễ thỉnh Sắc Thần” về đình để thực hiện các nghi lễ, sau đó lại đưa về nơi tạm thờ. Sau chiến tranh, đất nước hòa bình, cuộc sống người dân yên ổn, mọi người đã làm lễ đưa Sắc Thần về đình thờ cúng như trước. Do vậy ngày nay, “Lễ thỉnh Sắc Thần” không còn nữa mà thay vào đó là “Đưa Sắc Thần đi du ngoạn” vùng đất làng mà Thần bảo hộ.

Nghi thức được mở đầu bằng tiếng trống, kèn, chiêng nổi lên rộn rã. Từ ngoài cổng đình, bốn con lân trắng, xanh, vàng, đỏ – loài vật biểu hiện cho sự thái bình, theo tiếng kèn trống bước vào chính điện, đến múa xung quanh bàn thờ chính thờ Thần Thành hoàng. Hai vị chánh tế và phó tế cùng các chức sắc trong áo dài gấm trang trọng quỳ trước bàn thờ Thần, xin thỉnh Sắc Thần đưa ra xe long phượng. Sau đó, bốn học trò lễ thỉnh ngai Sắc Thần cùng đoàn người tuần tự bước ra sân, đưa Sắc Thần lên xe rồng tán phượng đã chuẩn bị đầy đủ rượu trà, nhang đèn và một mâm ngũ quả.

Sắc Thần được đưa đi dọc theo tỉnh lộ 918, đến Miễu Ông – Xuân Trường thì quay trở về đình. Đây là cột mốc vùng đất Thần Thành hoàng cai quản. Hai bên đường hầu như các nhà dân đều sáng đèn. Trước cửa nhà nào cũng đều có một mâm thờ nhỏ với nhang đèn, trái cây, trà rượu hoặc hai trái dừa để cúng Thần. Qua mấy chục năm sau chiến tranh, làng Long Tuyền xưa giờ đã là quận Bình Thủy nhộn nhịp và phát triển. Người dân sinh hoạt buôn bán tấp nập, số hộ làm ruộng trồng vườn không nhiều như xưa nhưng hàng năm người ta vẫn đều đặn tổ chức Lễ Thượng điền. Tín ngưỡng thờ Thần Thành hoàng là chỗ dựa tinh thần cho con người nơi làng quê xoa dịu tâm hồn mỗi khi họ gặp phải mất mát đau thương, củng cố niềm tin nơi cộng đồng về cuộc sống bình yên được Thần thánh bảo trợ. Đây cũng là sợi dây liên kết những con người có chung tín ngưỡng gần nhau hơn, biết thương yêu giúp đỡ nhau trong cuộc sống đời thường. Yếu tố siêu nhiên ở đây đã thực hiện hoàn hảo chức năng liên kết và tạo ra những giá trị tinh thần tốt đẹp cho con người.

Sau Lễ đưa Sắc Thần đi du ngoạn, khi đoàn xe rước Sắc trở về đình là Lễ an vị Sắc Thần. Hai vị chánh tế và phó tế đi trước, vị chánh tế bưng bát hương, vị phó tế tay cầm đôi đèn cầy cháy đỏ, tiếp đến là các học trò lễ – hai người mặc áo vàng cầm lọng, phía sau là hai người mặc áo đỏ cầm đèn, cuối cùng là hai người mặc áo đỏ cung kính khiêng ngai Thần, trong có để Sắc Thần từ từ tiến vào đình, các vị chức sắc cao niên theo sau. Mọi người làm Lễ an vị Sắc Thần, đưa Sắc Thần trở về vị trí cũ. Lễ an vị gồm một tuần hương, ba tuần rượu, một tuần trà.

Nghi thức cúng Thần Nông là một trong những nghi thức quan trọng trong lễ Thượng điền, vì Việt Nam là đất nước nông nghiệp nên vị Thần Nông là vị thần quan trọng được nhân dân làm lễ thờ cúng ngay trong ngày đầu tiên của kỳ lễ.

Đồ cúng Thần Nông cũng là những sản phẩm nông nghiệp: Bộ “tam sanh” (hay còn gọi là “tam sên”) gồm heo, dê, ngỗng; nhang đèn, rượu và xôi đậu. Mở đầu có ba con lân đi theo ông Địa đến nhảy múa trước cửa miếu, với tính chất như “xông miếu”. Trước khi cúng, trống lớn, mõ, chiêng đổ liên hồi trong chính điện, sau đó ban nhạc lễ ngồi trước miếu sẽ tấu lên một bài nhạc cúng Thần. Các vị chức sắc trong đình thực hiện nghi lễ theo sự hướng dẫn của vị Hương văn. Trong quá trình cúng lễ, vị Hương văn này cũng sẽ là người phụ trách việc đọc văn tế dâng Thần.

Sắc Thần vua ban được bọc trong tấm vải điều mà người dân hay gọi là vải tây đỏ. Việc thay khăn do vị trưởng đình phụ trách và mỗi năm sẽ thay mới tấm khăn này. Lễ thay khăn Sắc Thần diễn ra khá nhanh nhưng rất long trọng vì ý nghĩa to lớn của Sắc Thần. Thờ Thần là việc vô cùng thiêng liêng. Trong tín ngưỡng thờ Thần của người Nam bộ còn có một khía cạnh khác nhằm tôn vinh các vị Thần, làm cho các vị trở nên linh thiêng hơn – đó là việc phong Sắc cho Thần. Công việc này do triều đình phong kiến thực thi. Do đó, sắc phong của triều đình cho vị Thần nào cũng đồng nghĩa với việc xem vị Thần đó là cơ sở pháp lý phụng mệnh nhà vua xuống làm thần quyền của làng xã. Sắc phong được để ở nơi trang trọng nhất, đặt trên ngai thờ. Ở mỗi đình làng, gian chính điện là nơi thiêng liêng nhất, thường ghi những chữ “Thánh thọ vô cương”, “Thánh cung vạn tuế” với ý nghĩa là quyền uy nhà vua ngự trị ở nơi thiêng liêng nhất của làng và đó cũng là nơi để Sắc Thần.

Lễ Xây chầu đại bội ở đình Bình Thủy là sự kết hợp giữa Lễ Xây chầu và Lễ Đại bội.

Nghi thức Xây chầu được tiến hành trước sân đình. Trước giờ xây chầu, người xây chầu phải đặt trống chầu theo hướng đại lợi là hướng tốt nhất trong một năm. Sau khi đặt trống chầu theo hướng đại lợi rồi, mặt trống chầu sẽ được che bằng khăn đỏ với ý nghĩa là che thái cực vì trước khi có thái cực là hỗn mang. Khi hành lễ, viên chấp sự đến trước bàn thờ Thần làm Lễ thỉnh chầu mang ra trước sân đình. Khi thỉnh được dùi trống, viên chấp sự sẽ đến trước giá trống thực hiện Lễ tẩy uế cho dùi trống. Sau đó ông giở khăn đỏ che mặt trống ra, bắt đầu đánh nhẹ ba lần trống gọi là “kích cổ”; sau đó thì bắt đầu đánh ba hồi trống mạnh dồn dập, hồi thứ nhất ít hơn hồi thứ hai, hồi thứ hai ít hơn hồi thứ ba với ý nghĩ trước ít sau nhiều, “tiền bần hậu phú”, cầu xin cho dân làng càng ngày càng giàu thịnh[2]. Sau khi đánh xong ba hồi trống, viên chấp sự sẽ lên đình đặt lại dùi trống trước bàn thờ Thần. Trong thời gian đó, trưởng đình cùng ông bầu gánh hát bưng khai trầu rượu xuống nhà võ ca gần bến sông thỉnh Tổ hát bội ra sân khấu. Lễ Đại bội do các đào kép trong gánh hát bội trình diễn.

Lễ Đại bội cũng được thực hiện trước sân đình ngay sau Lễ Xây chầu.

Các giai đoạn diễn ra trong Lễ Đại bội đi theo sự vận chuyển trong vũ trụ: Thái cực, lưỡng nghi, tam tài, tứ tượng, ngũ hành, bát quái; thể hiện trong ý nghĩa từng bài múa Khai Thiên Tịch Địa, Nhật – Nguyệt, Phước – Lộc – Thọ, Tứ thiên vương, Lễ Đứng Cái, Bát Tiên hiến thọ và một lễ phụ Gia quan tấn tước. Trong các nghi lễ của Lễ Kỳ yên Thượng điền, nghi thức Đại bội có lẽ là gần gũi và cuốn hút người dân nhất. Tuy biểu tượng cho Thái cực – Lưỡng nghi nhưng những lời lẽ trong nghi lễ nói lên những lời cầu chúc trường thọ, phát đạt, mưa thuận gió hòa. Nhìn đào kép say sưa múa hát người dân Bình Thủy như nhìn thấy được những gì đẹp đẽ nhất mà họ luôn khao khát mong mỏi và cố gắng phấn đấu thực hiện để đạt được nó.

Các nghi thức tuần tự như sau:

– Củ soát lễ vật

– Tuần rượu thứ nhất

– Tuần rượu thứ hai

– Tuần rượu thứ ba

Đầu tiên các học trò lễ sẽ đi ba vòng quanh dãy bàn thờ chính tính từ phía cửa vào, nơi đặt bàn thờ Phó thần Đinh Công Chánh đến bàn thờ chính thờ Thần Thành hoàng, mỗi người đều cầm đèn cầy cháy đỏ và đi trong tiếng trống kèn được thổi liên tục từ phía ban nhạc lễ, gọi là “đi dàn xà”. Mỗi lần đến trước bàn thờ Thần Thành hoàng, họ sẽ vái một vái rồi quay người đi trở ra cửa. Đi dàn xà gồm mười sáu học trò lễ được chia đều thành hai hàng song song, đi đầu là bốn học trò lễ mặc áo dài đỏ, tiếp đến là tám vị mặc áo dài vàng, sau cùng là bốn vị mặc áo dài xanh. Sau khi học trò lễ đi dàn xà xong, ban nhạc lễ sẽ mang trống chầu, kèn, mõ ra trước bàn thờ ông Đinh Công Chánh thổi một bài nhạc dâng Thần, trong lúc đó có một viên chấp sự đốt ba bát nhang trầm để dưới chân bàn thờ ông Đinh Công Chánh. Sau đó các vị chức sắc trong đình, gồm chánh bái (là trưởng đình, áo dài gấm vàng, khăn đóng), bồi bái (là phó đình, áo dài gấm xanh dương, khăn đóng) quỳ trước bàn thờ ông Đinh Công Chánh, xung quanh là bốn học trò lễ mặc áo dài đỏ quỳ chầu. Trước mặt chánh bái và bồi bái là một chậu nước và một cái khăn với ý nghĩa “tẩy uế”. Hai vị chấp sự này trước khi tiến hành lễ cúng sẽ nhúng tay vào chậu nước để lau mặt, xem như là đã được tẩy đi những điều “ô uế” trong đời sống thường, trở nên thanh sạch để tiếp xúc với Thần linh. Ngoài ra có một vị cao niên quỳ ở bàn thờ linh vật bên trái, một vị quỳ ở bàn thờ linh vật bên phải của bàn thờ ông Đinh Công Chánh được gọi là Đông Hiến, Tây Hiến, xung quanh là bốn học trò lễ mặc áo dài vàng quỳ chầu. Các vị quỳ lại trong sự hô bái của Hương văn – người phụ trách phần nghi lễ. Đầu tiên là nghi thức dâng hương (Tuần hương). Các học trò lễ chia thành hai hàng ngang song song gồm sáu người đi trước cầm đèn, sáu người đi sau có ba người cầm đèn, ba người nhận bát trầm hương từ tay các vị chức sắc, đi theo nhịp trống từ phía ban nhạc lễ. Cứ thế tiến dần từ bàn thờ ông Đinh Công Chánh đến bàn thờ Ngũ vị nương nương, rồi đến bàn thờ Thần Thành hoàng. Ở đây sẽ có người chịu trách nhiệm nhận bát hương từ học trò lễ đem lên để dưới chân bàn thờ Hậu thần và Tả Bang, Hữu bang. Sau đó các học trò lễ sẽ quay về đứng ở phía bàn thờ ông Đinh Công Chánh.

Tiếp theo Tuần hương là Tuần rượu, gồm có ba lần dâng rượu. Tuần rượu được tiến hành trước bàn thờ của Ngũ vị nương nương. Tương tự như Tuần hương, mười hai học trò lễ đi thành hai hàng, mỗi hàng sáu vị. Trong đó sáu vị đi trước cầm đèn, sáu vị đi sau trên tay cầm đèn và chung rượu đã được rót đầy bởi chánh bái, bồi bái và Đông Hiến, Tây Hiến lúc này đã từ bàn thờ Phó Thần Đinh Công Chánh tiến lên quỳ trước bàn thờ Ngũ vị nương nương trong suốt ba tuần rượu. Khi các học trò lễ tiến đến trước bàn thờ Thần Thành hoàng, họ sẽ xoay một vòng thay đổi vị trí hàng thứ nhất cầm đèn lùi lại phía sau để hàng thứ hai tiến lên. Tại đây có một vị chấp sự đứng chờ sẵn nhận lấy các chung rượu từ tay học trò lễ dâng lên bàn thờ Thần. Sau lần dâng rượu đầu, các học trò lễ sẽ ngừng lại, chờ Hương văn đọc sớ trước bàn thờ Ngũ vị nương nương, rồi dâng tiếp hai tuần rượu nữa.

Sau Tuần rượu là Tuần trà, nghi thức tiến hành cũng giống như Tuần rượu.

Cuối cùng là nghi thức đốt văn tế. Hai học trò lễ mặc áo dài đỏ, một người cầm sớ mà khi nãy vị Hương văn đã đọc, một người cầm đèn đi theo từng nhịp trống từ bàn thờ Ngũ vị nương nương tiến đến trước bàn thờ Thần Thành hoàng, thực hiện nghi thức đốt sớ. Lễ tế chấm dứt. Chánh bái, bồi bái quỳ lạy Thần ba lạy rồi xuống trước, sau đó mười sáu học trò lễ quỳ lạy ba lạy rồi xuống sau là xem như hoàn tất buổi Lễ Bàn Soạn.

Quy trình diễn ra Lễ Túc Yết cũng khá giống với Lễ Bàn Soạn. Hai điều khác biệt mà tôi nhận thấy là nghi thức Túc Yết bắt đầu ngay trước bàn thờ Ngũ vị nương nương, các vị chức sắc trong đình không phải làm lễ trước bàn thờ Phó thần Đinh Công Chánh, và vị Hương văn đọc sớ sau khi kết thúc cả ba tuần rượu chứ không phải là tuần rượu đầu tiên như ở Lễ Bàn Soạn. Theo lời giải thích của nhiều người tham gia Lễ Thượng điền mà tôi có dịp phỏng vấn (bồi bái, học trò lễ, phó bếp), Lễ Bàn Soạn và Túc Yết nghi thức phần lớn là giống nhau nhưng khác về mặt ý nghĩa. Bàn Soạn là quá trình hương chức hội tề, dân làng tụ họp lại với nhau để bàn bạc, phân công công việc và trình Thần về việc sẽ tổ chức lễ tại đình. Còn Túc Yết là để nghênh Thần.

Đây là nghi thức quan trọng nhất trong các nghi thức cúng đình được tổ chức vào kỳ lễ Thượng điền. Về hình thức Lễ Chánh Tế diễn ra khá giống Lễ Bàn Soạn và Túc Yết, người ngoài khó có thể phân biệt được sự khác nhau giữa các buổi lễ. Tuy nhiên, về tính chất Lễ Chánh Tế vô cùng quan trọng, đòi hỏi quá trình thực hiện phải diễn ra hoàn thiện. Nghi thức của hai buổi lễ trước có thể diễn ra khá nhanh, và có thể “du di” cho một số thiếu sót nhỏ như nếu có vài vị chức sắc trong đình vì có việc bận mà vắng mặt. Nhưng ở Lễ Chánh Tế, các nghi thức diễn ra vô cùng chậm và kỹ lưỡng, không cho thiếu sót điều gì dù là nhỏ nhặt. Đây là lễ chính cúng Thần trong kỳ lễ Thượng điền với mục đích tạ Thần, cũng là buổi lễ cúng cầu siêu cho các anh hùng liệt sĩ đã vì quốc vong thân, cúng Tiền hiền, Hậu hiền – những người có công lập ấp dựng xã, mở mang đất đai, mang lại bình yên no ấm cho dân làng.

Ngay sau khi lễ Chánh Tế kết thúc là nghi thức tiến hành lễ Tôn Vương, cũng là nghi thức hồi chầu kết thúc ba ngày đêm hát bội. Đây là nghi thức mà diễn viên hát bội cùng với các vị trong ban tế tự đình cùng nhau thực hiện. Trong quyển Đình Nam Bộ xưa và nay của Huỳnh Ngọc Trảng, Trương Ngọc Tường được xuất bản năm 1999, Lễ Tôn Vương và Lễ hồi chầu được thực hiện tuần tự trước sau riêng biệt và có nhiều nghi thức. “Nó biểu hiện ý nghĩa trung thắng nịnh, phe chính thắng phe tà. Thông thường vở được chọn là tuồng San Hậu. Vở tuồng được xây dựng theo công thức “Vua băng – Nịnh tiếm – Bà thứ lên chùa – Chém nịnh – Định đô – Tôn vương – Tức vị”. Đây là vở tuồng mà nội dung của nó hàm chứa những nét cơ bản nhất của cuộc tranh bá đồ vương của nhà Nguyễn từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XVIII. Điều này đã chỉ ra ý nghĩa tôn vinh đương triều của nghi thức Tôn Vương này”[3]. Và “Lễ Hồi chầu được diễn ra trong ngày sau khi tuồng hát bội diễn để cử hành nghi thức Tôn vương chấm dứt. Lễ này có ý nghĩa là dân làng trình với Thần Thành hoàng ba phiên hát chầu đã chấm dứt”[4]. Hiện nay, ở Đình Bình Thủy, Lễ Tôn Vương và nghi thức hồi chầu được thực hiện gọn nhẹ và nhanh chóng hơn nhưng vẫn giữ nguyên ý nghĩa của nó. Lễ Tôn Vương được thực hiện bởi một kép trong đoàn hát đóng vai vua, đến trước bàn thờ Thần dâng ấn kiếm với ý nghĩa đã được tôn vương, nhà vua cầu mong quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa cho ruộng đồng tươi tốt, cũng như cầu mong Thần Thành hoàng luôn chở che, phù hộ cho con dân của Thần được bình yên, có cuộc sống sung túc hạnh phúc. Đồng thời khi Lễ Tôn vương kết thúc cũng xem như hồi chầu kết thúc ba ngày đêm hát bội.

Sau Lễ Tôn Vương là Lễ tế Sơn Quân – tức lễ cúng ông Hổ được thực hiện ở miếu Sơn Quân bên phải chính điện. Đội nhạc lễ mở đầu buổi lễ tế bằng một chầu nhạc dâng Thần, tiếp theo là lễ bái của trưởng đình, phó đình và các vị chức sắc cao niên. Cuối cùng, vị Hương văn đọc sớ và đốt sớ, xem như kết thúc nghi thức Lễ tế Sơn Quân. Trong quá trình Nam tiến, cư dân từ miền ngoài vào khai khẩn vùng đất hoang Nam bộ đã gặp không ít khó khăn. Nơi đây ngày xưa là chốn rừng xanh nước đỏ, thú dữ hoành hành, đặc biệt con hổ trong tâm thức người dân là loài vật vừa dữ tợn vừa thiêng liêng. Vì vậy hầu hết ở mỗi đình làng Nam bộ đều có miếu thờ Sơn Quân hay còn gọi là miếu thờ ông Hổ, với mục đích cầu mong thần núi rừng chứng cho tấm lòng thành kính của người dân mà ban cho họ cuộc sống bình yên không thiên tai địch họa, không thú dữ hoành hành. Tín ngưỡng dân gian của người Việt thờ rất nhiều hiện tượng cũng như loài vật trong tự nhiên, với tâm niệm “vạn vật hữu linh”, “có thờ có thiêng”. Những hiện tượng ẩn chứa sức mạnh trong tự nhiên hay những loài vật có sức mạnh đe dọa đến đời sống con người, khiến con người sợ hãi là họ sẽ thờ tự. Việc thờ Thần Núi, Thần Hổ cũng bắt nguồn từ tâm niệm đó.

Lễ Tống khách là nghi thức cuối cùng hoàn tất lễ Kỳ yên Thượng điền đình Bình Thủy. Lễ Tống Khách (còn được gọi là “Tống gió”, “Tống phong”, “Tống ôn”) được thực hiện nhanh gọn và đơn giản. Vị chánh bếp nam bưng đầu heo, trái cây, nhang đèn ra để bên đường trước cổng đình rồi quay mặt đi vào đình không ngoái lại. Đầu heo, trái cây đó để cho người vãng lai qua đường, ai muốn lấy thì lấy. Lễ Tống Khách trong cúng đình khá giống lễ cúng “cô hồn” tháng bảy âm lịch trong tín ngưỡng dân gian của người Việt. Trong những ngày cúng đình dân làng đã mời Thần thánh về chứng giám, cũng như mời cả những vong hồn cõi âm, những người đã khuất, ông bà tổ tiên cùng về dự lễ. Nay là lúc phải có nghi thức tiễn họ quay về, chính là Lễ Tống Khách. Lễ này tuy đơn giản nhưng không thể không có, chỉ khi nào thực hiện xong thì xem như kỳ lễ cúng đình mới thực sự hoàn tất.

Lễ Thượng điền đình Bình Thủy như một dấu ấn sinh hoạt mang đậm bản sắc tín ngưỡng dân gian của người dân đất Cần Thơ, minh chứng cho truyền thống “Uống nước nhớ nguồn” của nhân dân, cao hơn nữa là tinh thần tự hào dân tộc. Trong dịp lễ Thượng điền, tất cả cùng nhớ về ông bà tổ tiên, thế hệ đi trước chuyển giao văn hóa cho thế hệ đi sau, liên kết cộng đồng. Bởi thế, lễ hội ở đình có ý nghĩa rất thiêng liêng, có sức cộng cảm và trở thành nét văn hóa đặc sắc trong cộng đồng. Lễ Thượng điền đình Bình Thủy là cầu nối tâm linh giữa những con người cùng sống trên mảnh đất làng này, là cầu nối giữa quá khứ với hiện tại, góp phần làm phong phú thêm đời sống văn hóa ở làng xã, bảo tồn những vốn quý của văn hóa tinh thần dân tộc. Đó là điều đáng trân trọng cần được bồi dưỡng. Trong xã hội với tốc độ đô thị hóa ngày càng nhanh, người dân Cần Thơ vẫn giữ vững vẻ đẹp truyền thống, linh thiêng cổ kính của ngôi đình và năm tháng trôi qua ngôi đình vẫn gắn chặt với đời sống sinh hoạt văn hóa tinh thần, tín ngưỡng của nhân dân. Con người Cần Thơ, nhất là người con đất Bình Thủy gắn niềm tự hào và ký ức của mình về quê hương qua rất nhiều hình ảnh, trong đó họ đặt ngôi đình Bình Thủy nằm ở một vị trí trang trọng trong trái tim. Ai đi xa nhớ về quê hương, cũng thường nghĩ về nơi đó – nơi mái đình cổ kính một trăm mấy chục năm tuổi gắn với bao thăng trầm của vùng đất Tây Đô, gắn với những ngày lễ hội truyền thống mang đậm văn hóa tín ngưỡng và sinh hoạt cộng đồng, trong đó có Lễ Kỳ yên Thượng điền được tổ chức vào giữa tháng tư âm lịch hàng năm./.

1. Huỳnh Minh, Cần Thơ xưa và nay, NXB – Tổng phát hành Cánh Bằng, 1966.

2. Huỳnh Ngọc Trảng, Trương Ngọc Tường, Đình Nam Bộ xưa và nay, NXB. Đồng Nai, 1999.

Đình Bình Thủy Cần Thơ

Đình làng hay Đình Thần, là nơi thờ Thần Thành Hoàng, vị thần của làng xã. Trong số tất cả ngôi đình cổ còn tồn tại ở miền Tây Nam Bộ thì có thể nói rằng Đình Bình Thủy ở Cần Thơ là một công trình kiến trúc có phong cách nghệ thuật bắt mắt nhất, uy nghi nhất và lộng lẫy nhất. Du lịch Cần Thơ thăm đình thần Bình Thủy, bạn không chỉ được chiêm ngưỡng kiến trúc nghệ thuật cổ, mà còn có cơ hội tìm hiểu quá trình lịch sử hình thành của ngôi đền linh thiêng này.

Đình Bình Thủy hay Long Tuyền Cổ Miếu là niềm tự hào về truyền thống văn hóa tín ngưỡng của vùng đất, con người Cần Thơ. Đây là một công trình có giá trị về kiến trúc nghệ thuật cổ truyền của người Việt giai đoạn khai hoang miền Tây Nam bộ vào thế kỷ 19. Trải qua quảng thời gian thăng trầm lịch sử, Đình Bình Thủy vẫn lưu giữ được nhiều yếu tố nghệ thuật kiến trúc đặc sắc của một làng cổ tại vùng sông nước miền Tây Nam Bộ.

Đình Bình Thủy tọa lạc tại đường Lê Hồng Phong, thuộc phường Bình Thủy, quận Bình Thủy, cách trung tâm thành phố Cần Thơ khoảng chừng 5 km. Từ trung tâm Tp.Cần Thơ bạn đi theo đường Nguyễn Trãi qua đường Cách Mạng Tháng Tám và Lê Hồng Phong là sẽ tới đình Bình Thủy.

Bao bọc xung quanh Đình Bình Thủy là hàng rào tứ giác gồm: mặt Bắc giáp bờ sông Hậu; mặt Đông là rạch Bình Thủy hay còn gọi là rạch Long Tuyền; mặt Nam là đường Lê Hồng Phong thông với các đường lớn khác như đường Cách Mạng Tháng Tám, đường Bùi Hữu Nghĩa … và mặt Tây là khu dân cư. Với vị trí này có thể thấy, Đình Bình Thủy là công trình hội tụ đầy đủ các yếu tố phong thủy “nhất cận giang, nhị cận quan, tam cận thị”.

Đình Bình Thủy được xây dựng vào năm 1844 trên một khu đất rộng có diện tích khoảng hơn 500.000m2 và đến năm 1852 thì được vua Tự Đức phong sắc. Phía ngoài có hai miếu lớn thờ thần Nông và thần Hổ, gần cổng có hai miếu thờ thần Rừng và thần Khai kênh dẫn nước.

Trong khuôn viên Đình gồm 2 khu vực gồm khu đình chính và lục ấp. Khu đình chính bao gồm năm ngôi nhà (tiền đình, chính điện) và khu “lục ấp” gồm một khu nhà để chuẩn bị đồ lễ cùng với một nhà hát đươc bố trí khoa học và ngăn nắp tạo nên một không gian thoáng đãng. Đình Bình Thủy trước kia không chỉ là nơi thờ cúng trang nghiêm mà còn là nơi dành cho các chức sắc trong làng hội họp để bàn việc nước, tập trung nhân dân chống giặc ngoại xâm.

Kiến trúc chính của đình có rất nhiều nét đặc trưng của miền Tây Nam Bộ mà các đình ở miền Bắc không có như tiền đình và chính điện theo hình vuông với chiều dài có 6 hàng cột mà mỗi hàng cột như thế có 6 cột các chân cột đều choãi ra làm cho đình càng thêm vững chắc. Các họa tiết điển hình được khắc trên các cột là hình rồng, hình hoa mẫu đơn… với đường nét trạm trổ, trau chuốt, tinh xảo tạo nên vẻ uy nghi, cổ kính cho ngôi đình.

Chánh điện có ba mái chồng lên nhau theo kiểu kiến trúc “thượng lầu hạ hiên”. Trên nóc mỗi khu đều được thiết kế cặp rồng uốn lượn tranh lấy trái châu hay đơn giản chỉ là những hình hoa văn trang trí bên ngoài nhưng mang ấn tượng mạnh.

Kiến trúc của đình không chỉ thể hiện nét tinh túy của văn hóa sông nước miệt vườn vùng đồng bằng sông Cửu Long mà còn mang đậm dấu ấn của làng cổ truyền thống Cần Thơ.

Việc bố trí các bàn thờ trong đình với cách thờ thần khá đa dạng và phong phú đã phản ánh văn hóa, đồng thời cũng phần nào giới thiệu tính phóng khoáng, cởi mở, lòng bao dung đón nhận mọi tinh hoa theo không gian và thời gian.

Ngoài việc thờ các vị thần linh,thần hoàng làng, các vị tiền hiền có công mở đất, … Đình Bình Thủy còn lập bàn thờ những vị anh hùng có công với đất nước như Nguyễn Trãi, Nguyễn Huệ, Nguyễn Trung Trực, Võ Huy Tập, Đinh Công Trứ, Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, … Đặc biệt sau ngày giải phóng đất nước 30 tháng 4 năm 1975, đình Bình Thủy lập bàn thờ để thờ và tưởng nhớ Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Thường niên, Đình Bình Thủy diễn ra hai lễ lớn là Lễ hội Kỳ yên Thượng Điền kéo dài trong 3 ngày từ 12 đến 14 tháng tư âm lịch, có rước thuyền, hát bội… và lễ Hạ điền vào hai ngày 14 và 15 tháng chạp, chuẩn bị đón năm mới. Đây là một lễ hội văn hóa thu hút người dân khắp nơi tham gia, mang đậm tính chất nền văn minh lúa nước cầu cho quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa, gia đạo an khang.

Trong những ngày diễn ra lễ Thượng điền và lễ Hạ điền ở đình Bình Thủy, du khách phương xa dự lễ hội đình làng sẽ được xem các nghệ thuật diễn xướng dân gian. Tham gia các trò chơi, khám phá tìm hiểu văn hóa và thưởng thức nhiều món ngon ẩm thực thành phố Cần Thơ.

Đình Bình Thủy là một trong số ít các ngôi đình được chứng nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia vào năm 1989. Không chỉ là nơi thờ cúng, tổ chức lễ hội, đây còn là nơi lưu giữ bản sắc văn hóa dân tộc, đại diện cho một nét văn hóa của vùng sông nước Nam bộ, có ý nghĩa đặc biệt trong đời sống tâm linh của nhân dân Bình Thủy.

Vì thế, khi đã chọn du lịch Miền Tây, đến thăm miền sông nước phù sa, bạn hãy đến Cần Thơ, thưởng ngoạn vẻ đẹp bình yên của Đình Bình Thủy, tham gia hội đình Bình Thủy truyền thống, để có những trải nghiệm tuyệt vời cùng những người dân mộc mạc chân chất và hiếu khách. Sau khi đến Đình Bình Thủy bạn có thể kết hợp tham quan với các địa danh nổi tiếng khác của Quận Bình Thủy như: Nhà Cổ Bình Thủy, Chùa Long Quang, Chùa Hội Linh, Chùa Nam Nhã, Mộ Thủ khoa Bùi Hữu, Khu Di tích Vườn Mận…

Du khách có thể tham khảo các Tour Cần Thơ của Thám Hiểm MeKong có điểm đến là Đình Bình Thủy được nhiều người yêu thích:

Điểm du lịch tâm linh Cần Thơ Đình Bình Thủy Đình Bình Thủy Cần Thơ

Lệ Hội Kỳ Yên Đình Bình Thủy

Làng Long Tuyền cổ ngày nay thuộc quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ, có nhiều di tích cấp quốc gia rất giá trị. Đình Bình Thủy (Long Tuyền cổ miếu) là một trong những di tích tiêu biểu nhất. Đình Bình Thủy được sắc vua Tự Đức ban là “Bổn Cảnh Thành Hoàng” vào năm 1852. Hiện xếp vào hàng cổ kính của Đình chùa Việt Nam, có mỹ quan kiến trúc nghệ thuật đặc sắc trong quá trình khai khẩn đất hoang, lập cư sinh sống. Đây còn là nơi sinh hoạt, lưu giữ nhiều bản sắc, phong tục tín ngưỡng văn hóa dân gian đặc trưng của con người Cần Thơ sau hơn 200 năm xây dựng.

Theo truyền thống, Lễ hội Kỳ yên đình Bình Thủy mỗi năm đáo lệ 2 lần là Thượng điền diễn ra 3 ngày từ 12 đến 14 tháng 4 âm lịch và Hạ điền vào hai ngày 14 và 15 tháng chạp, chuẩn bị đón năm mới. Hội đình Bình Thủy là một trong 3 hội đình lớn nhất miền Tây thu hút đông đảo khách tham quan, hành hương, tế lễ.

Trong đó, lớn nhất là Lễ hội Kỳ yên Thượng điền. Lễ Thượng điền – Cúng Bổn Cảnh Thành Hoàng (hay còn gọi là Thành hoàng làng là thổ thần canh giữ đất) sau khi thu hoạch. Đây là lễ hội cầu an, cúng tế, rước thần trên xe rồng tán phượng, thỉnh sắc thần bằng bè ghép 3 thuyền trang trí lộng lẫy, hát bội…

Lễ hội bắt đầu bằng Lễ đưa Sắc Thần du ngoạn, sau đó là các nghi lễ: Lễ tế Thần Nông, Lễ tế Đinh Công Chánh Tôn Thần, Lễ Thay khăn Sắc Thần, Lễ Xây chầu – Đại bội, Lễ Chánh tế, Lễ tế Sơn Quân…

Lễ hội có không khí náo nhiệt vui tươi của hội làng, với các trò chơi dân gian như thả vịt, kéo co, đua thuyền… bên cạnh đó còn có các hoạt động văn hóa, văn nghệ và thể thao như: triển lãm sách, báo; hội thi mâm xôi nghệ thuật; lễ hội “Bánh ngon Bình Thủy”; hát tuồng cổ,… được duy trì phong phú từ xưa cho đến nay.

Đây là một lễ hội văn hóa thu hút hàng nghìn dân chúng khắp nơi tham gia, mang đậm tính chất nền văn minh lúa nước cầu cho quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa, gia đạo an khang.

Lễ hội Kỳ Yên đình Bình Thủy là minh chứng quan trọng về lịch sử định cư trên vùng đất này của người Việt; Sắc phong vua ban thể hiện sự công nhận của chế độ quân chủ về mặt hành chính, sự hình thành làng xã và ngôi đình thờ Thành Hoàng.

Nghi lễ Kỳ Yên góp phần củng cố niềm tin của cộng đồng về cuộc sống bình yên, thể hiện văn hóa đặc trưng của cư dân gốc nông nghiệp lúa nước, cầu cho mưa thuận, gió hòa, trời yên, biển lặng…

Lễ hội Kỳ Yên đình Bình Thủy thể hiện truyền thống uống nước nhớ nguồn, là cầu nối giữa quá khứ với hiện tại, góp phần làm phong phú thêm đời sống văn hóa ở làng xã, bảo tồn và trao truyền các giá trị văn hóa của cha ông cho thế hệ kế cận; đáp ứng nhu cầu tâm linh và giải trí của người dân, gắn kết cộng đồng khi tham gia các hoạt động, nghi thức trong lễ hội.

Du lịch Cần Thơ đúng vào dịp lễ hội bạn sẽ nghe lòng nao nao nhớ về những người đi mở cõi năm xưa, nhớ về cội nguồn dân tộc qua năm tháng thăng trầm. Bên cạnh đó còn được thưởng thức các chương trình nghệ thuật, tham gia các trò chơi dân gian, tìm hiểu về văn hóa và ẩm thực bản địa, hòa mình vào không khí thật vui tươi rộn ràng của người dân địa phương.

Đình Bình Thủy Lễ hội Cần Thơ Lệ hội kỳ yên Đình Bình Thủy

Nghi Thức Cúng Lễ Trong Kim Cương Thừa

“Hãy thực hành, đừng thờ phụng suông.”

Trước hết, nói về phòng tu tập, nên có một phòng riêng, ở phía trên. Không nên để bàn thờ ở phía dưới, nơi có phòng sinh hoạt ở trên.

Trên bàn thờ nên có 2 tầng:

– Tầng trên để đặt tất cả đối tượng thờ cúng: tượng Phật, Thangka, kinh sách, tháp bảo v. v.

– Tầng dưới để tất cả các vật cúng dường.

Lưu ý: không nên dùng các câu minh chú để làm vật trang trí, in vào chén bát, ghế ngồi… Khăn, áo, vật dụng cá nhân có chữ của câu chú thì có thể chấp nhận được nhưng phải lưu tâm, không được để xuống đất hay chỗ dơ bẩn.

Cách sắp xếp bàn thờ chuẩn theo truyền thống Tây tạng:

– Tượng, tranh của các vị đại Đạo sư của dòng truyền thừa, của Guru ở khu vực trung tâm của bàn thờ (Thân). Theo truyền thống Mật thừa, Guru bao giờ cũng là quan trọng nhất.

Tiếp đến là tượng tranh của chư Phật, chư Bổn Tôn (Thân).

– Bên phải tượng, tranh là các tập sách, các bản kinh (Khẩu).

– Bên trái là tháp bảo (Ý). Nếu có thể đặt xá lợi vào trong tượng thì nên đặt ở phần đầu của tượng.

Có nhiều cách để cúng dường. Có thể sắp đặt 8 món cúng dường, trong đó các phẩm vật cúng dường càng quý giá càng tốt, nhưng nếu không có điều kiện thì cúng nước cũng tốt. Tất cả các chén bát đựng đồ cúng dường phải sạch sẽ, không vỡ, không có nguồn gốc phi pháp. Phải trong sạch cả về tinh thần và hình thức. Nếu đồ cúng dường bị sứt mẻ phải đổi ngay lập tức.

Cúng nước: cúng càng nhiều càng tốt, tuy nhiên theo truyền thống Tây Tạng thì nên cúng 5 hoặc 7 chén nước. Trước khi cúng, lấy khăn sạch lau sạch, khô các chén. Khi rót nước cúng, phải để ý không để chén không trên bàn thờ. Có 2 lý do phải làm như vậy: Thứ nhất, ngạ quỷ có thể vào cư trú các chén rỗng để ngửa. Thứ hai, để các chén rỗng trên bàn thờ là không có dấu hiệu cát tường, vì dấu hiệu cát tường bao giờ cũng là viên mãn, tràn đầy. Trạng thái rỗng không là trạng thái nghèo nàn. Rót đầy từng chén, để lên bàn thờ rồi tiếp tục chén tiếp theo. Hoặc rót một chén có nước, từ chén đó đổ qua các chén khác, mỗi chén vài giọt nước là được. Đặt các chén nước lên bàn thờ, sau đó rót thêm cho đầy. Đặt các chén thẳng hàng, không nghiêng ngả, cách đều nhau. Khoảng cách giữa các chén phụ thuộc chén to hay nhỏ. Nước cúng phải lấy từ vòi ra rồi cúng luôn, không dùng nước đun chín. Khi rót nước phải tập trung & thành kính, không được rơi rớt nước ra ngoài. Không rót quá đầy, cũng không quá vơi. Vừa rót nước, vừa trì chú OM AH HUNG.

Tụng chú RAM YAM KHAM trong lúc thanh tịnh hóa các phẩm vật cúng dường: Đốt hương (nhang) huơ lên: thanh tịnh bằng lửa.

Dùng quạt phẩy nhẹ: thanh tịnh bằng gió.

Dùng chân hương (chân nhang) nhúng vào ly nước, vẩy nhẹ vài cái: thanh tịnh bằng nước.

Chú ý: khi sắp đặt các vật cúng dường, nên đeo khẩu trang để tránh vô tình thưởng thức hương thơm cũng như tránh làm dơ bẩn các phẩm vật.

Thay nước trước mỗi thời công phu hoặc thay nước vào cuối ngày, trước khi mặt trời lặn, không được thay nước vào buổi tối. Nếu lỡ quên thì để sang sáng hôm sau, trước thời công phu mới thay nước. Nếu thay nước vào lúc mặt trời lặn trời tối, ngạ quỷ hoặc các chúng sinh yếu bóng vía khi nhìn thấy bình nước sẽ tưởng là bình máu. Làm như vậy là mình đã tạo nghiệp vì làm họ sợ.

Nước đã cúng nên đổ vào một cái bình và úp chén xuống. Sau đó đổ nước đi vào nơi sạch sẽ (tưới cây) chứ không được đổ ở nơi đường xá, nơi dơ bẩn, nơi có người bước chân lên.

Lưu ý: Không nên uống nước sau khi cúng cũng như không nên dùng các phẩm vật đã cúng dường. Lý do thứ nhất là vì khi cúng chúng ta đã dâng các vật phẩm đó lên chư Phật, chư Bồ tát, và chúng đã thuộc về Tam bảo. Nếu chúng ta thọ dụng, có nghĩa là chúng ta dùng của Tam bảo, thì sẽ tạo nghiệp. Sự vi phạm này tuy không nặng nhưng vẫn nên tránh. Lý do thứ hai là nếu chúng ta giữ thói quen dùng các vật phẩm cúng dường thì khi mua vật phẩm cúng ta thường có xu hướng suy tính tới việc sẽ dùng các vật phẩm đó sau khi cúng. Điều đó làm cho tâm ta bị ô nhiễm và việc cúng dường sẽ vì thế mà giảm phước đức. (Cũng vì lý do đó mà Rinpoche khuyên chúng ta không nên thưởng thức các vật phẩm cúng dường trước khi bày lên bàn thờ; ví dụ như một động tác nhỏ là ngửi và khen hoa cúng thơm, đẹp cũng nên tránh). Các vị tăng cũng cần rất cẩn trọng khi nhận lễ lạy, cúng dường của Phật tử. Những gì thuộc về chùa chiền, Tam Bảo cũng không được động đến nếu không được phép. Nếu quý thầy chia cho thì mình có thể được thọ hưởng vì đó là phước nhưng cũng chỉ nên dùng một cách khiêm tốn. Đặc biệt chú ý những gì thuộc về các vị Đạo sư tôn quý, các bậc chứng ngộ thì càng tuyệt đối không được tự tiện động tới vì sẽ tạo nghiệp rất nghiêm trọng.

Nên phân biệt cúng dường hàng ngày & lễ cúng Tsok. Các đồ của lễ cúng Tsok sau khi làm lễ nếu chúng ta không dùng thì sẽ là sai phạm. Tuy nhiên, cũng chỉ được dùng một ít và cũng không được mang về để chia phần cho người thân, bạn bè. Cúng dường hàng ngày không nên cúng nhiều.

Không được cúng ngạ quỷ và chúng sinh khác ở trong nhà. Chỉ có thể cúng ở ngoài trời, ngoài đường. Và nếu như không biết cúng thì họ cũng không thể nhận được. Do đó, không nên làm khi chưa được học.

Phải rất cẩn thận khi cúng dường. Với hoa cúng, chúng ta không nên ngắm, ngửi, khen đẹp…

Không nên thưởng thức các đồ cúng dường vì như vậy là làm ô nhiễm đồ cúng. Khi mua đồ cúng, cũng không nên có tâm lý tiếc rẻ vì trót mua đắt, khen chê đắt rẻ vì cúng dường với tâm như vậy sẽ làm giảm phước đức.

Trong các chén cúng dường cũng không được để lẫn lộn các phẩm vật với nhau. Ví dụ: một vài hạt gạo rơi vào chén nước, 1 vài cánh hoa, tàn nhang rớt sang chén gạo… Ta gọi đó là “cúng mù” (blind offering). Hãy nhớ chăm chút, cẩn trọng trong việc cúng cũng phải làm như (nếu không hơn) trong sinh hoạt hàng ngày. Khi người ta đưa cho mình chén trà có vài miếng thịt, trong rượu rớt vài cọng trà thì mình có thích không ? Trong cuộc sống mình cẩn thận như vậy thì tại sao mình lại còn làm thế khi cúng dường ? Chúng ta thường sống một cuộc sống đầy đủ, xa hoa, sạch sẽ và đôi khi là quá cầu kỳ. Vậy tại sao không đơn giản hơn trong cuộc sống và cẩn thận hơn trong việc thờ cúng ? Những nề nếp này tuy khó luyện tập nhưng rất cần thiết nếu ta muốn có được sự cúng dường hoàn hảo về cả thân, khẩu, ý. Chúng ta cúng dường với cái tâm như thế nào vẫn là điều quan trọng nhất. Tâm cúng dường quyết định công đức của người cúng dường và việc cúng dường có tác dụng chuyển hóa tâm rất lớn nếu được làm đúng cách.

Tám món cúng dường cần sắp xếp theo đúng thứ tự từ trái sang phải, bao gồm:

– Nước: để uống

– Nước: để rửa chân

– Hoa: trang trí cho đầu

– Trầm hương: hương (cho mũi)

– Đèn bơ: sắc (cho mắt)

– Nước thơm: ý (cho tim)

– Thực phẩm: vị (cho miệng)

– Nhã nhạc: thanh (cho tai)

Phần nhã nhạc có thể để dưới dạng các hình thức tượng trưng: Chuông, pháp loa bằng ốc, đàn ghi ta, nốt nhạc…

Các ngày sau đây là những ngày quan trọng trong năm, cần cúng & cần tu tập vì những ngày đó công đức được tăng trưởng lên một triệu lần (theo lịch Tây Tạng):

1- Tháng đầu tiên: ngày mồng một cho đến ngày 15 của tháng là 15 ngày Đức Phật phô diễn thần thông. Đây là những ngày cần cúng để Phật tử phát triển tín tâm và tăng trưởng công đức. Ngày 15 là ngày quan trọng nhất.

2- Tháng thứ tư – tháng của đức Phật Sakyamuni: Ngày 15/04 có ba sự kiện trùng nhau: Phật đản sinh, Phật thành đạo và Phật nhập Niết bàn.

3- Tháng thứ 6, ngày thứ 4: Đức Phật chuyển Pháp luân lần đầu tiên tại vườn Lộc Uyển.

4- Tháng thứ 9, ngày 22: Đức Phật từ cõi trời Indra (Đế Thích – xin xem giải thích ở phần trên) xuống trấn sau ba tháng thuyết pháp cho mẹ. Sau khi sinh đức Phật ra đời được một tuần thì mẹ Ngài mất và bà được lên cõi trời Đế thích. Đức Phật lên cõi trời Indra thuyết pháp cho mẹ trong ba tháng giúp cho bà đạt được chứng ngộ. Ngày 22/9 là ngày đức Phật xuống trần. Đây là ngày rất quan trọng, công đức tăng trưởng rất lớn, do đó chúng ta nên tinh tấn tu tập cả tháng 9, nếu không thì cũng phải tu tập chăm chỉ vào ngày 22/9.

5- Các ngày 8, 10, 15, 25, 30 của mỗi tháng cũng là những ngày công đức tu tập được tăng trưởng nhiều lần:

– Ngày 08: ngày vía Phật Dược sư.

– Ngày 10 : ngày vía Guru Rinponche (đức Liên Hoa Sinh)

– Ngày 15: ngày vía Phật A Di Đà.

– Ngày 25: ngày vía Dakini.

– Ngày 30: ngày của Đức Phật Sakyamuni.

Phật pháp không biết đến sự phân biệt dòng phái; có sự phân biệt là do tâm con người mà thôi. Tất cả mọi hành trì đúng cách đều nhận được sự gia trì như nhau. Khi chúng ta quán tưởng, người truyền lực gia trì là Bổn sư (Root Guru). Thực chất năng lực gia trì mà Guru truyền xuống là hiệp hội của lực gia trì, gia hộ của tất cả chư Phật, chư Bồ Tát, chư Tổ sư, chư vị Đại đạo sư của tất cả các dòng truyền thừa của Kim cương thừa. Do đó năng lượng nhận được là tổng hợp của tất cả; không nên sinh tâm phân biệt giữa các dòng truyền thừa. Khi chúng ta tụng chú, chúng ta thường cầu nguyện “Chư Phật mười phương, chư Bồ Tát mười phương gia trì, gia hộ” và sự thật đúng là như vậy. Vị Bổn sư của mình giống như một thấu kính hội tụ, Ngài quy tụ tất cả năng lượng của vô số chư Phật, chư Bồ Tát, chư đạo sư của các dòng truyền thừa từ vô thủy đến nay. Chính vì vậy Kim cương thừa mới có sự thống nhất, không có sự phân biệt. Sự phân biệt là do tâm đệ tử, còn đối với các bậc Đạo sư thì – không bao giờ có sự phân biệt. Khi đệ tử có lòng tin mãnh liệt vào Guru rồi thì có nghĩa là người đó kết nối được với tất cả các dòng truyền thừa của Mật giáo.

Chúng ta cúng dường ba thời, mười phương chư Phật thì công đức có được ấy so với cúng dường Bổn sư cũng chỉ như một lỗ chân lông so với toàn bộ cơ thể mà thôi. Vì vậy, trong pháp tu Ngondro có pháp Bổn sư Du Già rất quan trọng.

“Trí tuệ phân biệt, biết đâu là việc tốt nên làm, đâu là việc xấu nên bỏ. Đấy chính là Phật.”

Có thể nói rằng trong vòng 10 năm qua, thầy đã đi hoằng Pháp ở khắp nơi trên thế giới, và Pháp bảo mà thầy đã quảng bá trong suốt khoảng thời gian thầy đi hoằng Pháp, tựu chung chỉ có tuyển tập Ba Mươi Bảy Pháp Hành Bồ Tát Đạo này mà thôi. Thầy đã thọ nhận giáo lý về Ba Mươi Bảy Pháp Hành Bồ Tát Đạo từ Bổn Sư của thầy, và đây là tất cả những gì mà thầy đã nương vào để [làm cái gốc cho việc] tu học. Ngoài những giáo lý này thì thật ra thầy đã chẳng học được gì nhiều cho lắm.

Trong Phật Giáo, có những truyền thống tu tập khác nhau, những pháp môn hành trì khác nhau nhưng tựu chung thì tinh tuý của tất cả các giáo lý của Đức Phật chỉ đơn thuần có một mà thôi. Tất cả tinh túy của các Giáo Pháp mà Đức Phật đã giảng dạy cho chúng ta [mà chúng ta nhận được] từ các dòng truyền thừa khác nhau, thực sự chỉ tóm gọn trong hai chân lý. Hai chân lý ấy là [tinh tuý của] tất cả những gì mà Đức Phật đã tuyên thuyết. Đức Phật đã thuyết tất cả 130 pho Kinh, nhưng thực sự những gì được thuyết trong toàn bộ kinh điển cũng không nằm ngoài hai chân lý ấy [chân đế và tục đế].

Đạo Phật cho chúng ta cơ hội được tu tập theo những dòng truyền thừa và những pháp môn khác nhau. Tất cả những truyền thống tu tập này được phát triển là bởi vì chúng ta có những nhu cầu khác nhau. Ở trong thế giới này cũng thế, chẳng hạn khi chúng ta nói về thức ăn, thì chúng ta có cơm gạo, có rau trái. Cơm gạo hay rau trái ở đất nước nào cũng giống nhau nhưng chúng ta lại có những phương thức khác nhau để chuẩn bị hay nấu nướng. Cũng giống như khi chúng ta nói đến những phương pháp tiếp cận khác nhau trong Phật giáo, ai thích hợp với pháp tu nào thì tu theo pháp nấy.

Trong Kim Cang Thừa, chúng ta có tất cả bốn dòng truyền thừa chính, gồm có: Sakya, Nyingma, Gelug và Kagyu. Bốn dòng truyền thừa này đều có những pháp tu khác nhau, những phương thức tiếp cận khác nhau. Trên thực tế, cho dù chúng ta thọ nhận giáo Pháp từ một bậc đạo sư, một lama hay một guru nào đi chăng nữa, thì tựu chung, tất cả chỉ có một con đường, một cái đích tối hậu, và chỉ có một điều duy nhất mà chúng ta cần phải đạt được. Con đường đó, cái đích đó, điều cần đạt đến đó chính là trí tuệ, là một trong sáu pháp Toàn thiện Siêu việt (Lục độ Ba la mật).

Vậy làm sao để có thể đạt được tuệ giác hay trí tuệ bát nhã ấy ? Có những người hành trì theo pháp Đại Thủ Ấn Mahamudra, có những người tu tập theo pháp Đại Viên Mãn Dzogchen, lại có những người tu tập theo pháp Trung Quán Madhyamika. Nhưng cuối cùng, cho dù theo pháp tu nào đi chăng nữa thì điều quan trọng nhất vẫn là làm sao để trực nhận ra được bản tâm. Giống như Đức Phật đã giảng dạy cho chúng ta, chúng ta cần phải hoàn toàn nhiếp phục được tâm của mình.

Đức Sonam Jorphel Rinpoche

Cập nhật thông tin chi tiết về Nghi Thức Cúng Tế Trong Lễ Thượng Điền Đình Bình Thủy trên website Apim.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!