Xu Hướng 2/2023 # Nghi Lễ Thờ Cúng Đền, Chùa, Miếu, Phủ # Top 8 View | Apim.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Nghi Lễ Thờ Cúng Đền, Chùa, Miếu, Phủ # Top 8 View

Bạn đang xem bài viết Nghi Lễ Thờ Cúng Đền, Chùa, Miếu, Phủ được cập nhật mới nhất trên website Apim.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Tất nhiên các cụ có nói “Quan trọng nhất vẫn là Thành Tâm“, nhưng không có nghĩa là sự Thành tâm ấy được quyền mang ra tùy tiện hành xử. Sự Thành tâm nếu được kết hợp với việc “xin đúng, thưa trúng” thì tin chắc cái tâm nguyện, cái điều xin ấy sẽ sớm được như ý hơn.

Với bài viết này, các bạn sẽ được giải đáp 1 số thắc mắc về:

Thế nào là Đền, Đình, Chùa, Miếu, Phủ? Sự khác nhau cơ bản giữa các khái niệm đó?

Phân biệt các loại tượng Phật. Tại sao cùng là Phật A Di Đà mà có Phật đứng, Phật ngồi, Phật nằm… rồi lại có cả Phật trẻ con,

Phật gầy, Phật béo…

Thờ Mẫu là thờ ai? 3 pho tượng Mẫu hay gặp ở Đền, Chùa, Phủ là 3 vị Mẫu nào? Vị nào quan trọng nhất?

Nghi thức đặt lễ, đặt ở đâu trước, đặt đâu sau?

Trình tự hành lễ, lễ ở đâu trước, lễ và xin như thế nào cho đúng?

Nghi thức hạ lễ, hạ đâu trước? (rất hay)

Thụ lộc sao cho đúng?

1 số bài văn khấn tiêu biểu khi vào Chùa (VD vào Phủ Tây Hồ thì khấn thế nào?…)

Thậm chí 1 số cách gọi hoặc cách hành lễ rất quen thuộc cũng sẽ được giải thích như:

Tại sao gọi là Chùa Chiền, đã Chùa lại còn Chiền?

Tại sao khi thắp hương lại thắp 1,3,5,7 nén? Sao lại có người thắp cả bó hương?

Tại sao thắp hương rồi lại còn rót rượu đổ xuống đất?

Xuất phát của câu Đồ “chùa”, của “chùa”, rồi Tiền “chùa”…?

Xuất phát của khái niệm Ông “Bụt”?

2. Phân biệt sự khác nhau giữa các khái niệm trên *Bonus: Tại sao người Việt lại Thờ cúng Danh nhân, Anh hùng?

II. PHỦ VÀ ĐẠO MẪU TẠI VIỆT NAM (THỜ THÁNH MẪU) 1. Sơ lược về đạo Thờ Mẫu, thờ Nữ thần 2. Khái niệm Tam Phủ, Tứ Phủ, Thánh Mẫu? 3. Tại sao lại gọi là Phủ? 4. Mẫu Liễu Hạnh là ai? Tam toà Thánh Mẫu là những Thánh nào?

III. NGHI LỄ THỜ CÚNG TẠI ĐỀN, CHÙA, MIẾU, PHỦ 1. Lễ vật nào dùng để thờ cúng tại Đền, Phủ? 2. Dâng hương Lễ Phật, Lễ Mẫu như thế nào cho đúng? 3. Thụ lộc sao cho đúng?

IV. CHÙA VÀ ĐẠO PHẬT TẠI VIỆT NAM 1. Các trường phái Phật Giáo 2. Cấu trúc thờ tự trong chùa 3. Cách phân biệt các loại tượng trong chùa 4. Cách sắm lễ lên chùa và Nghi thức làm lễ (thứ tự dâng lễ) khi vào chùa 5. Giải thích nguồn gốc 1 số thuật ngữ dân dã: “Tiền chùa”, “Của chùa”, “Ông Bụt”…

KHÁI NIỆM VÀ CÁCH PHÂN BIỆT ĐỀN, ĐÌNH, CHÙA, MIẾU, PHỦ

1.2. Đình là gì? Thành hoàng làng là ai? Đình là công trình kiến trúc công cộng của 1 làng xã, là trung tâm sinh hoạt văn hoá gắn bó với 1 cộng đồng dân cư và mang đặc trưng văn minh lúa nước. Mỗi làng thường có 1 ngôi đình, gọi chung là Đình làng. Thời xưa, Đình làng là trụ sở hành chính của chính quyền tựu trung đủ mọi lề thói từ rước xách hội hè, khao vọng quan trên, đón người đỗ đạt, họp việc làng, xử kiện… cùng những quy củ nhất định, có sự phân biệt chiếu trên, chiếu dưới rất rõ ràng.

1.3. Chùa là gì? Thuật ngữ Chùa “Chiền” có từ đâu? Chùa là cơ sở hoạt động và truyền bá Phật giáo. Tuy nhiên, điểm khác biệt lớn ở Chùa Việt Nam là ngoài việc thờ Phật còn thờ cả Thần (VD chùa Thầy và Chùa Láng thờ cả Từ Đạo Hạnh và Lý Thần Tông), thờ tam giáo (Phật – Lão – Khổng), thờ Trúc Lâm Tam tổ, và thờ cả Mẫu…

Để chỉ chùa thờ Phật, trong tiếng Việt còn có từ “chiền”… người ta cho rằng cả 2 từ “chùa” và “chiền” đều dùng để chỉ điện thờ Phật (đoạn này vừa đọc nhưng quên trang mất rồi, có gì tẹo bổ sung thêm).

1.4. Am là gì? Am khác gì Chùa? Am là nơi thờ Phật, phạm vi nhỏ hơn Chùa (miếu thờ thần linh ở các làng hoặc miếu cô hồn ở bãi tha ma cũng gọi là Am). Từ Am phát triển lên thành Chùa. Về sau thường dùng từ Am để chỉ nơi yên tĩnh, tu tâm đọc sách của các văn nhân [Ghi chú số , xem bên dưới cùng bài viết.]

Học giả nổi tiếng Phan Kế Bính viết: “Miếu thường hay kén những nơi đất thắng cảnh, nhất là trên gò cao, nơi gần hồ to sông lớn thì mới hay… Đình, miếu cũng theo 1 kiểu mẫu, chỉ khác nhau là to với nhỏ”. (*3)

Miễu: phân biệt 1 cách đơn giản thì Miễu là miếu nhỏ.

2. Phân biệt sự khác nhau giữa các khái niệm trên Qua khái niệm của Đền Đình Am Chùa Miếu Phủ ở trên, có thể rút ra 1 số điểm giống và khác nhau như sau:

Đình, đền, miếu đều là nơi linh thiêng thờ Thánh, Thần

Thông thường mỗi làng chỉ có 1 Đình nhưng có thể có nhiều Đền, Miếu

Đình thường thoáng, cao, rộng, phù hợp với hội làng xã. Còn đền, miếu thường có cấu trúc tối hơn, tạo cảm giác thiêng liêng, huyền bí cho người tới cầu cúng lễ bãi.

Đình là nơi hội họp làng xã, còn đền miếu chỉ dành riêng cho việc phụng thờ, tế lễ thần linh (hoặc một số nơi thì Chùa còn là nơi vãn cảnh).

Đền, Miếu thường xây dựng ở những nơi thắng cảnh, nhất là gò cao, gần hồ to, sông lớn.

Nhìn chung, Miếu có cấu trúc nhỏ hơn Đền, và Đền nhỏ hơn Đình (Miễu < Miếu < Đền < Đình)

Am và Chùa đều là nơi thờ Phật (ở VN thì còn thờ cả Thánh, Thần), nhưng Am có phạm vi nhỏ hơn Chùa.

Thêm 1 điểm nữa cần đặc biệt lưu ý: về tín ngưỡng nguyên mẫu thì Chùa là nơi thờ Phật, Phủ là đặc trưng của thờ Mẫu (Phủ Giầy, Phủ Tây Hồ). Tuy nhiên tại Việt Nam các nền văn hoá tín ngưỡng thường giao thoa hoà nhập với nhau rất sâu (đây cũng là một đặc trưng văn hóa tín ngưỡng tại Việt Nam). Chùa thờ cả Thần (kiến trúc: Tiền Phật hậu Thánh), và Chùa thờ cả Mẫu (Tiền Phật hậu Mẫu)… Vì thế sự phân biệt ở đây là không rõ ràng trong đối tượng thờ cúng. Các bạn cũng nên đặc biệt lưu ý đặc điểm này, để tránh việc cầu xin không đúng ban, đúng chỗ, cũng như đặt lễ và hành lễ sai nghi thức (ví dụ để đồ mặn, đồ vàng mã ở Ban thờ Phật hoặc để đồ sống ở ban thờ Mẫu chẳng hạn).

Ngay bản thân Đền, nếu đi sâu tìm hiểu sẽ rất phức tạp, khó phân loại. Có nơi thờ Nam thần, có nơi thờ Nữ thần. Thông thường đền thờ Nam thần thì to hơn Nữ thần nhưng đền thờ Nữ thần thì lại nhiều ban thờ hơn như ban Tứ phủ công đồng, ban Cô, ban Cậu. Tuy nhiên, hiện lại có 1 số đền thờ Nam thần lại cũng có ban thờ Mẫu, rồi thờ Cô, thờ Cậu… thành ra rất khó phân loại.

Hùng Vương ở Phú Thọ

Kinh Dương Vương ở Bắc Ninh

An Dương Vương ở Cổ Loa, Hà Nội

Phù Đổng Thiên Vương (thánh Gióng) ở Gia Lâm, Hà Nội

Hai Bà Trưng ở Phúc Thọ, Hà Tây và ở phố Đồng Nhân, Hà Nội

Ngô Quyền ở đền Ngô Vương, Sơn Tây, Hà Nội

Lý Thường Kiệt ở đền Lý Thái Uý và đền Lý Thường Kiệt (đều ở Thanh Hoá)

Hưng đạo vương Trần Quốc Tuấn Kiếp Bạc, Hải Dương.

Nguyên nhân được giải thích theo 3 yếu tố như sau:

Một là, người Việt tin vào linh hồn thuyết: Người ta cho rằng con người có phần Hồn và phần Xác, khi chết đi thì hồn khí hay khí nóng bay lên không gian, trở về trời, còn xác thịt trở về với đất. Chính ý niệm này đã giải thích nghi thức đốt những que hương và đổ rượu xuống đất. Khói hương bay lên không gian mời hồn ngự xuống trên bàn thờ, còn rượu đổ xuống đất chạm tới xác thịt. Chính việc tin vào linh hồn và linh hồn trường tồn sau khi chết, nên đã hình thành phong tục thờ cúng tổ tiên, thờ cúng danh nhân, các anh hùng.

Hai là, vì nhớ ơn công lao hiển hách của các danh nhân, anh hùng.

Ba là, vì muốn noi gương theo các đức tính đặc biệt của các ngài.

PHỦ VÀ ĐẠO MẪU TẠI VIỆT NAM (THỜ THÁNH MẪU)

Chắc 1 số bạn cũng có câu hỏi tương tự như mình: Tại sao vào Đền Chùa Miếu Phủ lại thấy thờ cả Bác Hồ, thờ cả các vị Danh nhân, Anh hùng như:

Sơ lược về đạo Thờ Mẫu, thờ Nữ thần Mẫu là gốc Hán – Việt, còn nghĩa thuần việt là Mẹ, Mụ (miền Trung). Tuy nhiên, Mẫu hay Mẹ đều để chỉ người phụ nữ đã sinh ra một người nào đó. Từ Mẫu và từ Mẹ còn bao hàm ý nghĩa tôn xưng, tôn vinh ví dụ như: Mẹ Âu Cơ, Mẫu Liễu Hạnh, Mẫu nghi Thiên hạ…

CẦN LƯU Ý: Tục thờ Mẫu là một trong những tục thờ quan trọng bậc nhất trong văn hoá tín ngưỡng của người Việt. Tục thờ Mẫu (có nguồn gốc từ tục thờ Nữ thần) đã có từ buổi hồng hoang của dân tộc, hiện giờ vẫn được thờ cúng tại nhiều nơi như: Liễu Hạnh là Thành hoàng làng Phố Cát (Thanh Hoá), Bà Đanh ở Nghệ An, Hai Bà Trưng ở Mê Linh, Bà Đá ở Hải Phòng… ngoài ra không thể không kể tới tục thờ Mẫu và Tam toà Thánh Mẫu (Mẫu Tam Phủ, Tứ Phủ).

Phủ là nơi thờ Mẫu: về mặt bản chất, Phủ là nơi thờ Mẫu, truyền bá đạo Mẫu. Tuy nhiên cũng có nhiều phủ thờ cả Phật, đây được coi như sự giao thoa hòa nhập giữa các tôn giáo, tín ngưỡng.

2. Khái niệm Tam Phủ, Tứ Phủ, Thánh Mẫu?

Tam Phủ: là Thiên Phủ (miền trời có mẫu Thượng Thiên), Sơn Phủ (miền núi có mẫu Thượng Ngàn), Thuỷ Phủ (miền sông nước có Mẫu Thoải).

Tứ Phủ: là Tam Phủ vừa kể và có thêm Phủ trần gian (có mẫu Liễu Hạnh). (*4)

Thánh Mẫu: Tương ứng với Tứ Phủ ở trên thì có 4 vị Thánh Mẫu cai quản 4 phủ đó, bao gồm: Mẫu Thượng Thiên, Mẫu Địa, Mẫu Thoải, Mẫu Thượng Ngàn.

Lưu ý: Có sách lại ghi Tam phủ là Thiên phủ (miền trời), Địa phủ (miền đất) và Thoải phủ (miền nước). Thêm Nhạc phủ (miền Thượng ngàn) nữa là đủ Tứ Phủ (*5). Tuy nhiên theo quan điểm của mình thì khái niệm Tam Phủ, Tứ Phủ đầu tiên là hợp lý hơn, chi tiết sẽ nói ở phần Tam toà Thánh Mẫu.

3. Tại sao lại gọi là Phủ? Cách định danh này có thể xuất phát từ quan niệm vũ trụ luận về các phủ trong Tứ phủ và cách định danh đương thời: cung Vua, phủ Chúa thời Trịnh – Nguyễn. Nổi tiếng nhất phải kể đến Phủ Giầy (Nam Định) và Phủ Tây Hồ (Hà Nội), thờ Đức Thánh Mẫu Liễu Hạnh.

Bên cạnh Thánh Mẫu Liễu Hạnh rất quen thuộc ở Miền Bắc thì còn có Thánh Mẫu Thiên Ya Na (miền Trung) và Bà Đen (miền Nam). Tuy nhiên do kiến thức và thời lượng chương trình có hạn nên mình xin phép chỉ dừng lại ở Thánh Mẫu Liễu Hạnh :))

Tượng Mẫu Đệ Nhất: Mẫu Liễu Hạnh, mặc áo đỏ, trùm khăm đỏ được đặt ở giữa.

Bên trái thấp hơn 1 chút là mẫu Đệ Nhị: Mẫu Thượng Ngàn (Sơn Phủ), bà là chúa của Sơn Lâm, mặc áo xanh, khăn xanh.

Bên phải là mẫu Đệ Tam, tức mẫu Thoải, mặc áo trắng, chùm khăn trắng. (*6)

III. NGHI LỄ THỜ CÚNG TẠI ĐỀN, CHÙA, MIẾU, PHỦ

Như ở trên có nói, Mẫu Liễu Hạnh là mẫu cai quản Phủ Trần Gian. Mẫu Liễu Hạnh là vị Thánh xuất hiện khá muộn (vào thời Hậu Lê – khoảng thế kỷ XVI) nhưng nhanh chóng trở thành vị thần chủ của đạo Mẫu và được tôn vinh hơn tất cả các Thánh Mẫu khác. Dân gian cho rằng Mẫu Liễu được xem như sự hoá thân của Mẫu Thượng Thiên. Vậy trong 4 vị Thánh Mẫu thì Mẫu Liễu Hạnh vừa là Mẫu Trần Gian, vừa là hoá thân của Mẫu Thượng Thiên, cho nên khi thờ các vị Thánh Mẫu, chỉ có Tam Toà Thánh Mẫu (3 tượng Thánh Mẫu), bao gồm:

Lễ vật nào dùng để thờ cúng tại Đền, Phủ? Rất nhiều người còn đang mù mờ về việc sắm sửa lễ vật như thế nào để lễ Chùa, lễ Đền, Phủ. Nhiều người vào Chùa dâng hương mà lại mang đồ sống, đồ mặn…, rồi một số người cho rằng lễ chay chỉ dùng để lễ Phật, còn lễ Thánh, Thần thì bắt buộc phải lễ mặn. Thực tế thì lễ vật được sắm theo 1 số nguyên tắc như sau:

Tóm lại lễ vật không cần câu nệ, không bắt buộc. Nhưng đã sắm là phải sắm đúng, sắm đủ, tránh sắm sai đặt sai là hỏng bét 😀

Dâng hương Lễ Phật, Lễ Mẫu như thế nào cho đúng? Ngoài việc nhiều người không rõ vào Chùa hoặc Đền, Phủ phải sắm lễ ra sao, thì còn không ít người không biết thứ tự dâng lễ thế nào, thắp hương ra sao. Phần này sẽ nói chi tiết về thứ tự dâng lễ Phật, lễ Mẫu.

2.1. Lễ Trình Theo lệ thường, trước tiên phải lễ thần thổ địa, thủ Đền trước, gọi là Lễ Trình, cáo lễ với Thần linh cho phép được tiến hành lễ tại Đền, Chùa, Miếu, Phủ. Sau đó, bày lễ vật ra các mâm, khay chuyên dùng vào việc cúng lễ… rồi đặt lễ vật vào các ban.

2.2. Thứ tự đặt lễ Khi dâng lễ phải kính cẩn dùng hai tay và đặt cẩn trọng lên ban thờ. Khi đặt lễ và hành lễ phải lễ từ ban thờ chính rồi mới ra tới ban ngoài cùng (Thường lễ ban cuối cùng là ban thờ Cô, thờ Cậu). Chỉ sau khi đã đặt xong lễ vật lên các ban mới được thắp hương.

Kết luận: Hiện tại vẫn có nhiều Trình tự Hành lễ, ví dụ có người lễ Tam Bảo Trước, rồi mới lễ Phật, Thánh (nơi nào TO nhất thì lễ trước). Có người lại lễ ngược lại: Phật, Thánh rồi Tam Bảo, rồi ra ngoài lễ Đức Ông. Nhưng một nghi thức hành lễ được coi là hợp lý nhất được tiến hành như sau:

Lễ chay: gồm hương hoa trà quả… dùng để lễ ban Phật, Bồ Tát (nếu tại nơi thờ tự có ban này). Lễ chay cũng được dùng để dâng ban Thánh Mẫu. Trong trường hợp này người ta thường sắm thêm 1 số hàng mã để dâng cúng như: tiền, vàng, nón, hia, hài… (Đặc biệt lưu ý: lễ Phật thì ko dùng lễ mặn, vàng mã. Tiền giấy âm phủ hay hàng mã kiêng đặt ở ban thờ Phật, Bồ Tát. Tiền thật cũng không nên đặt lên hương án của chính điện, mà nên bỏ vào hòm công đức.)

Lễ mặn: gồm thịt gà, lợn, giò, chả… được làm cẩn thận, nấu chín. Nếu có lễ này thì đặt tại bàn thờ Ngũ vị Quan lớn, tức là ban Công đồng.

Lễ đồ sống: gồm có trứng, gạo, muối hoặc thịt mồi (1 miếng thịt lợn khoảng vài lạng). Đây là lễ dành riêng cho việc dâng cúng quan Ngũ hổ, Bạch xà, Thanh xà đặt ở hạ ban Công đồng Tứ Phủ. Theo lệ thì 5 quả trứng vịt sống đặt trong 1 đĩa muối gạo; hai quả trứng gà sống dặt trong 2 cốc nhỏ, 1 miếng thịt mồi được khía thành năm phần (ko đứt rời), không nấu chín (để sống). Kèm theo lễ vật này cũng có thêm tiền, vàng mã.

Cỗ mặn sơn trang: gồm những đồ như cua ốc, bún ớt, chanh quả… Nếu có gạo nếp cẩm nấu xôi, chè thì càng tốt (những đồ này sắm theo con số 15, mỗi loại 15 cái, tương ứng 15 vị được thờ tại ban Sơn Trang)

Lễ ban thờ Cô, thờ Cậu: thường gồm oản, quả, hương hoa, hia hài, nón áo… (tức là nhữngđồ hàng mã), gương lược… và những đồ vật tượng trưng những đồ chơi người ta hay làm cho trẻ nhỏ (cành hoa, con chim, chiếc kèn, cái trống…)

Sau khi hương được châm thì dùng hai tay dâng lên ngang trán, vái ba vái rồi kính cẩn cắm hương vào bình trên ban thờ. Nếu có sớ tấu trình thì kẹp sớ vào giữa bàn tay hoặc đặt lên 1 cái đĩa nhỏ, dùng hai tay nâng đĩa sỡ lên ngang mày rồi vái 3 lần. Trước khi khấn thường thỉnh 3 hồi chuông, thỉnh chuông xong thì mới khấn lễ. Sau khi lễ xong thì sớ tâu trình được đặt tại ban Công đồng Tứ phủ.

Một vài lưu ý khác 1. Không chạy qua chạy lại, nói chuyện, bình phẩm, ngồi hoặc nằm trong Phật đường. Không tùy tiện hắt hơi sổ mũi, khạc nhổ… quanh khu vực Phật điện, tam bảo. 2. Vào Phật đường, đi vòng quanh tượng Phật, khu vực tam bảo, đi từ phải sang trái, niệm tên Phật “A di đà phật” sẽ được hưởng 5 điều phúc đức: Hậu sinh đoan chính, đẹp; lời ăn tiếng nói rõ ràng dễ nghe; hóa sinh thăng thiên; có thể được sinh ra trong gia đình quyền quý; siêu sinh đạo Niết Bàn. 3. Sử dụng đồ của chùa, như ăn uống, thụ lộc, nên lưu công đức, dù ít dù nhiều. 4. Không nên mang theo mũ áo, khăn, túi xách, gậy gộc, bao tay… vào tam bảo bái Phật. Lỡ đặt những đồ đạc như vậy trên bàn, trên chiếu hoặc trong góc tam bảo để bái Phật thì mọi công quả tu dưỡng bấy lâu đều tiêu tán. Đi lễ chùa, tốt nhất không mang theo những đồ tùy thân khi vào tam bảo. 5. Không đứng hoặc quỳ chính giữa Phật đường. Đó là vị trí tối cao của trụ trì, nên quỳ lễ chếch sang bên một chút. 6. Lễ chùa phải ăn mặc giản dị, sạch sẽ, đặc biệt không mặc váy ngắn, quần cộc,… Nhiều người khi lễ Phật, thậm chí nhiều vị trí nhạy cảm phơi hết ra ngoài, vừa phạm giới uế tạp Phật đường, vừa phạm giới bất kính, khẳng định công quả tiêu tán hết, quả báo vô cùng. Không để trẻ em chạy loạn tam bảo, nghịch ngợm các đồ tế khí, sờ mó tượng phật… 7. Vào chùa, nên dùng Phật danh “A di đà Phật” thay tên gọi để mở lời chào trụ trì và tăng ni trong chùa. Khi ra về cũng nên dùng câu này để bái biệt, công đức mang lại vô lượng, cho cả người vãn cảnh và nhà chùa.

2.4. Thứ tự Hạ lễ Sau khi đợi hết một tuần nhang, vái 3 vái trước mỗi ban thờ rồi hạ tiền, vàng để đem đi hóa. Khi hóa tiền, vàng cần hóa từng lễ một, từ lễ ở ban thờ chính cho tới lễ ở các ban khác, cuối cùng là lễ ở ban thờ cô thờ cậu. Hóa tiền vàng xong mới hạ lễ dâng cúng. Khi đặt lễ thì từ Ban chính ra ban ngoài, còn khi hạ lễ thì ngược lại, phải hạ ban ngoài cùng đến ban chính. Riêng các đồ lễ ở ban thờ cô, thờ cậu như gương, lược… thì để nguyên trên ban thờ.

Lời người viết: Đây là một số nghi thức thực hành dâng lễ phổ biến nhất tại đền, chùa, miếu, phủ. Tuy nhiên trong thực tế do đông đúc hoặc điều kiện không cho phép, việc thực hành dâng lễ đã bỏ qua một số nghi thức tập tục. Dần dần khi vào hành lễ, người ta chỉ chú ý lễ những ban quan trọng nhất (Phật, Mẫu, Tam Bảo) mà quên đi những thứ tự cần làm ( ví dụ phải lễ Đức Ông trước). Dần dà thành thói quen, không mấy ai còn biết là phải lễ Đức Ông đầu tiên nữa – kể cả những người thường xuyên lễ Đền Chùa. Đây là điểm các bạn nên lưu ý để thực hiện Hành lễ cho đúng.(*7)

(Nguồn : Kiều Thanh Tùng)

3. Thụ lộc sao cho đúng? Dân gian quan niệm: “Lộc bất tận hưởng”, có nghĩa là phải “tản lộc” đi càng nhiều càng tốt thì mới tiếp tục nhận được nhiều lộc của Thần, Phật. Người nào hưởng lộc một mình là vô phúc, sẽ bị cô quả, cô độc. Vì thế, mỗi khi đi Chùa, lên Đình về mà có lộc thì các cụ đều chia cho con cháu. Nhà nào con cháu đông, phải chia lộc càng nhiều thì càng có phúc.

Sau buổi lễ, người đi lễ thường dành một phần lộc nhỏ đặt vào khay cúng với một số tiền tùy tâm để biếu người thủ đền, cũng coi như việc Công đức cho nhà Chùa, Đền.

Văn Cúng Lễ Tại Đình, Đền, Miếu, Phủ

Bài văn khấn cúng tại Đình đền miếu phủ

1. Ý nghĩa đi lễ Đình, Đền, Miếu, Phủ

2. Cách sắm lễ khi đi lễ ở Đình, Đền, Miếu, Phủ

3. Văn khấn Thành hoàng ở Đình, Đền, Miếu

4. Văn khấn ban Công Đồng

5. Văn khấn lễ Tam Toà Thánh Mẫu

6. Trình tự dâng lễ tại Đình, Đền, Miếu, Phủ

7. Cách hạ lễ ở Đình, Đền, Miếu, Phủ

8. Những lưu ý khi đi lễ đền chùa đầu năm

Các bài văn khấn ở Đình, Đền, Miếu, Phủ để thể hiện lòng thành kính các vị Thần linh, Thành Hoàng, Thánh Mẫu. Đây là các bậc tiền nhân đã có công với cộng đồng làng xã, dân tộc trong lịch sử đấu tranh giữ nước và dựng nước của người Việt Nam. 

1. Ý nghĩa đi lễ Đình, Đền, Miếu, Phủ

Theo tập tục văn hoá truyền thống, ở mỗi tỉnh thành, làng, xã Việt Nam đều có các Đình, Đến, Miếu, Phủ là nơi thờ tự Thần linh, Thành Hoàng, Thánh Mẫu.

Các vị thần linh, Thành Hoàng, Thánh Mẫu là các bậc tiền nhân đã có công với cộng đồng làng xã, dân tộc trong lịch sử đấu tranh giữ nước và dựng nước của người Việt Nam.

Ngày nay, theo nếp xưa người Việt Nam ở khắp mọi miền đất nước hàng năm vẫn đi lễ, đi trẩy Hội ở các Đình, Đền, Miếu, Phủ vào các ngày lễ, tết, tuần tiết, sóc, vọng và ngày Hội, để tỏ lòng tôn kinh, ngưỡng mộ biết ơn các bậc Tôn thần đã có công với đất nước.

Đình, Đền, Miếu, Phủ cùng với sự lưu truyền sự linh diệu của các thần trong nhiều trường hợp đã đi vào trang sử oai hùng của dân tộc Việt Nam góp phần không nhỏ vào việc duy trì tình cảm yêu nước. Nơi thờ tự Đình, Đền, Miếu, Phủ còn là những nơi sinh hoạt tâm linh, tín ngưỡng. Con người hy vọng rằng bằng những hành vi tín ngưỡng, có thể cầu viện đấng Thần linh phù hộ cho bản thân, cùng gia đình, cộng đồng được an khang, thành đạt và thịnh vượng, yên bình, biến hung thành cát, giải trừ tội lỗi…

2. Cách sắm lễ khi đi lễ ở Đình, Đền, Miếu, Phủ

Theo phong tục cổ truyền khi đến Đình, Đền, Miếu, Phủ nên có lễ vật có thể to, nhỏ, nhiều, ít, sang, mọn tuỳ tâm. Mặc dù ở những nơi này thờ Thánh, Thần, Mẫu nhưng người ta vẫn có thể sắm các lễ chay như hương hoa quả, oản,… để dâng cũng được.

1. Lễ Chay: Gồm hương hoa, trà, quả, phẩm oản… dùng để lễ ban Phật, Bồ Tát (nếu có).

Lễ chay cũng dùng để dâng ban Thánh Mẫu. Trong trường hợp này sắm thêm một số hàng mã để dâng cũng như: tiền, vàng, nón, hia…

2. Lễ Mặn: Gồm gà, lợn, giò, chả… được làm cẩn thận, nấu chín. Nếu có lễ này thì đặt bàn thờ Ngũ vị quan lớn tức là ban công đồng.

3. Lễ đồ sống: Gồm trứng, gạo, muối hoặc thịt mồi (một miếng thịt lợn khoảng vài lạng).

Đây là lễ dành riêng cho việc dâng cúng quan Ngũ Hổ, Bạch xà, Thanh xà đặt ở hạ ban Công Đồng Tứ phủ.

Theo lễ thường thì gồm 5 quả trứng vịt sống đặt trong một đĩa muối, gạo, hai quả trứng gà sống đặt trong hai cốc nhỏ, một miếng thịt mồi được khía (không đứt rời) thành năm phần, để sống. Kèm theo lễ này cũng có thêm tiền vàng.

4. Cỗ mặn sơn trang: Gồm những đồ đặc sản Việt Nam: cua, ốc, lươn, ớt, chanh quả… Nếu có gạo nếp cẩm nấu xôi chè thì cũng thuộc vào lễ này.

Theo lệ thường, khi sắm lễ mặn sơn trang, người ta thường sắm theo con số 15: 15 con ốc, cua, 15 quả ớt, chanh hoặc có thể chỉ cần 1 quả nhưng được khía ra làm 15 phần… Con số 15 này tương ứng với 15 vị được thờ tại ban sơn trang:

5. Lễ ban thờ cô, thờ cậu: Thường gồm oản, quả, hương hoa, hia, hài, nón, áo… (đồ hàng mã) gương, lược… Nghĩa là những đồ chơi mà người ta thường làm cho trẻ nhỏ. Nhưng lễ vật này cầu kỳ, nhỏ, đẹp và được bao trong những túi nhỏ xinh xắn, đẹp mắt.

6. Lễ thần Thành Hoàng, Thư điền: Thường dùng lễ mặn: chân giò lợn luộc, xôi, rượu, tiền, vàng…

3. Văn khấn Thành hoàng ở Đình, Đền, Miếu

– Con lạy chín phương trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.

– Con kính lạy Hoàng Thiên Hậu Thổ chư vị Tôn thần.

– Con xin kính lạy ngài Kim Niên Đương cai Thái tuế chí đức Tôn thần.

– Con kính lạy ngài Bản cảnh Thành Hoàng chư vị Đại Vương.

Hương tử con là:…………………………………………………………………………….. Tuổi………………………

Ngụ tại:………………………………………………………………………………………………………………………….

Hôm nay là ngày…… tháng……năm…..(Âm lịch)

Hương tử con đến nơi (Đình hoặc Đền hoặc Miếu) thành tâm kính nghĩ: Đức Đại Vương nhận mệnh Thiên đình giáng lâm ở nước Việt Nam làm Bản cảnh Thành Hoàng chủ tể một phương bấy nay ban phúc lành che chở cho dân. Nay hương tử chúng con thành tâm dâng lên lễ bạc, hiến tế hương hoa, phẩm oản…

Cầu mong đức Bản cảnh Thành hoàng chư vị Đại Vương chứng giám, rủ lòng thương xót, phù hộ che chở cho chúng con sức khoẻ dồi dào, mọi sự tốt lành, lắm tài nhiều lộc, an khang thịnh vượng, sở cầu như ý, sở nguyện tòng tâm.

Hương tử con lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ, cúi xin được phù hộ độ trì.

4. Văn khấn ban Công Đồng

– Con lạy chín phương trời, mười phương Chư phật, Chư phật mười phương

– Con lạy đức Vua cha Ngọc Hoàng Thượng Đế

– Con lạy Tam Toà Thánh Mẫu

– Con lạy Tam phủ Công Đồng, Tứ phủ Vạn linh

– Con lạy Tứ phủ Khâm sai

– Con lạy Chầu bà Thủ Mệnh

– Con lạy Tứ phủ Đức Thánh Hoàng

– Con lạy Tứ phủ Đức Thánh Cô

– Con lạy Tứ phủ Đức Thánh Cậu

– Con lạy cộng đồng các Giá, các Quan, mười tám cửa rừng, mười hai cửa bể.

– Con lạy quan Chầu gia.

Hương tử con là:………………………………………………………………..Tuổi…………………..

Cùng đồng gia đại tiểu đẳng, nam nữ tử tôn

Ngụ tại:………………………………………………………………………………………………………..

Hôm nay là ngày…… tháng…… năm………………(Âm lịch). Tín chủ con về Đền…………… thành tâm kính lễ, xin Chúa phù hộ độ trì cho gia đình chúng con sức khoẻ dồi dào, phúc thọ khang ninh, cầu tài đắc tài, cầu lộc đắc lộc, cầu bình an đắc bình an, vạn sự hanh thông, gặp nhiều may mắn.

Phục duy cẩn cáo!

5. Văn khấn lễ Tam Toà Thánh Mẫu

Đức đệ tứ khâm sai Thánh Mẫu, tứ vi chầu bà, năm toà quan lớn, mười dinh các quan, mười hai Tiên cô, mười hai Thánh cậu, ngũ hổ Đại tướng, Thanh Hoàng Bạch xà đại tướng

– Con kính lạy Đức Hiệu Thiên chí tôn kim quyết Ngọc Hoàng Huyền khung cao Thượng đế.

– Con kính lạy Hoàng Thiên Hậu Thổ chư vị Tôn thần.

– Con xin kính Cửu trùng Thanh Vân lục cung công chúa.

– Con kính lạy Đức thiên tiên Quỳnh Hoa Liễu Hạnh Mã Hoàng Công chúa, sắc phong Chế Thắng Hoà Diệu đại vương, gia phong Tiên Hương Thánh Mẫu.

– Con kính lạy Đức đệ nhị đỉnh thượng cao sơn triều mường Sơn tinh công chúa Lê Mại Đại Vương.

– Con kính lạy Đức đệ tứ khâm sai Thánh Mẫu, tứ vi chầu bà, năm toà quan lớn, mười dinh các quan, mười hai Tiên cô, mười hai Thánh cậu, ngũ hổ Đại tướng, Thanh Hoàng Bạch xà đại tướng.

Hương tử con là:………………………………………………………………… Tuổi…………………

Ngụ tại:…………………………………………………………………………………………………………

Hôm nay là ngày…… tháng……năm…….(Âm lịch)

Hương tử con đến nơi Điện (hoặc Phủ, hoặc Đền)………chắp tay kính lễ khấu đầu vọng bái, lòng con thành khẩn, dạ con thiết tha, kính dâng lễ vật, cúi xin các Ngài xót thương phù hộ độ trì cho gia đạo chúng con sức khoẻ dồi dào, phúc thọ khang ninh, cầu tài đắc tài, cầu lộc đắc lộc, cầu bình an đắc bình an, vạn sự hanh thông, gặp nhiều may mắn.

Hương tử con lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ, cúi xin được phù hộ độ trì.

Phục duy cẩn cáo!

6. Trình tự dâng lễ tại Đình, Đền, Miếu, Phủ

Theo lệ thường, người ta lễ thần Thổ địa, thủ Đền trước, gọi là lễ trình. Gọi là lễ trình vì đó là lễ cáo Thần linh Thổ Địa nơi mình đến dâng lễ. Người thực hành tín ngưỡng cáo lễ Thần linh cho phép được tiến hành lễ tại Đình, Đền, Miếu, Phủ.

Sau đó người ta sửa sang lễ vật một lần nữa. Mỗi lễ đều được sắp bày ra các mâm và khay chuyên dùng vào việc cúng lễ tại Đình, Đền, Miếu, Phủ.

Kế đến là đặt lễ vào các ban. Khi dâng lễ phải kính cẩn dùng hai tay dâng lễ vật, đặt cẩn trọng lên bàn thờ. Cần đặt lễ vật lên ban chính trở ra ban ngoài cùng.

Chỉ sau khi đã đặt xong lễ vật lên các ban thì mới được thắp hương.

Khi làm lễ, cần phải lễ từ ban thờ chính đến ban ngoài cùng. Thường lễ ban cuối cùng là ban thờ cô thờ cậu.

Thứ tự khi thắp hương:

Thắp từ trong ra ngoài

Ban thờ chính của điện được đặt theo hàng dọc, ở gian giữa được thắp hương trước.

Các ban thờ hai bên được thắp hương sau khi đã thắp xong hương ban chính ở gian giữa.

Khi thắp hương cần dùng số lẻ: 1, 3, 5, 7 nén. Thường thì 3 nén.

Sau khi hương được châm lửa thì dùng hai tay dâng hương lên ngang trán, vái ba vái rồi dùng cả hai tay kính cẩn cắm hương vào bình trên ban thờ.

Nếu có sớ tấu trình thì kẹp sớ vào giữa bàn tay hoặc đặt lên một cái đĩa nhỏ, hai tay nâng đĩa sớ lên ngang mày rồi vái 3 lần.

Trước khi khấn thường có thỉnh chuông. Thỉnh ba hồi chuông. Thỉnh chuông xong thì mới khấn lễ.

Đọc văn khấn

Khi tiến hành lễ dâng hương bạn đã có thể đọc văn khấn, sớ trình trước các ban, hoặc chỉ cần đặt văn khấn, sớ trình lên một cái đĩa nhỏ, rồi đặt vào mâm lễ dâng cúng cũng được. Và khi hoá vàng thì phải hoá văn khấn và sớ trước.

Các bạn có thể tham khảo các mẫu văn khấn trong phần trình bày ở trên để nắm được nên đọc văn khấn loại nào cho phù hợp với từng Đền, Chùa.

Sau khi kết thúc khấn, lễ ở các ban thờ, thì trong khi đợi hết một tuần nhang có thể viếng thăm phong cảnh nơi thừa tự, thờ tự.

Khi tiến hành lễ dâng hương bạn có thể đọc văn khấn, sớ trình trước các ban, hoặc chỉ cần đặt văn khấn, sớ trình lên một cái đĩa nhỏ, rồi đặt vào mâm lễ dâng cúng cũng được.

Khi hoá vàng thì phải hoá văn khấn và sớ trước.

7. Cách hạ lễ ở Đình, Đền, Miếu, Phủ

Sau khi kết thúc khấn, lễ ở các ban thờ, thì trong khi đợi hết một tuần nhang có thể viếng thăm phong cảnh nơi thừa tự, thờ tự.

Khi thắp hết một tuần nhang có thể thắp thêm một tuần nhang nữa. Thắp nhang xong, vái 3 vái trước mỗi ban thờ rồi hạ tiền, vàng… (đồ mã) đem ra nơi hoá vàng để hoá. Khi hoá tiền, vàng… cần hoá từng lễ một, từ lễ của ban thờ chính cho tới cuối cùng là lễ tiền vàng… ở ban thờ Cô thờ cậu.

Hoá tiền vàng xong mới hạ lễ dâng cúng khác. Khi hạ lễ thì hạ từ ban ngoài cùng vào đến ban chính.

Riêng các đồ lễ ở bàn thờ Cô, thờ Cậu như gương, lược… thì để nguyên trên bàn thờ hoặc giả nơi đặt bàn thờ này có nơi để riêng thì nên gom vào đó mà không đem về.

8. Những lưu ý khi đi lễ đền chùa đầu năm

Theo quan niệm của người phương Đông thì ở nơi thờ tự linh thiêng, sự giản dị, tôn nghiêm luôn được đưa lên hàng đầu. Những bộ đồ màu sắc nhã nhặn sẽ là lựa chọn lý tưởng. Bạn nên tránh những loại quần áo nhiều dây dợ, tà dài thướt tha rất dễ gây vướng víu ở những nơi đông đúc như các đền chùa ngày đầu năm.

– Không chạy qua chạy lại, nói chuyện, bình phẩm, ngồi hoặc nằm trong Phật đường. Không tùy tiện hắt hơi sổ mũi, khạc nhổ… quanh khu vực Phật điện, Tam Bảo.

– Không sử dụng đồ của chùa như ăn uống, thụ lộc nên lưu công đức dù ít hay nhiều.

– Không được tùy ý làm ồn hoặc nói những lời bất kính đối với Phật, Thánh, cũng không được có thái độ thiếu cung kính như tùy tiện dùng tay chỉ trỏ vào tượng Phật.

– Khi bước đi không nên cắt ngang qua mặt những người đang quỳ lạy.

– Muốn làm lễ thì không nên quỳ phía sau những người đang đứng thắp hương.

– Không nên mang theo mũ áo, khăn, túi xách, gậy gộc, bao tay… vào Tam Bảo bái Phật. Lỡ đặt những đồ đạc như vậy trên bàn, trên chiếu hoặc trong góc Tam Bảo để bái Phật thì mọi công quả tu dưỡng bấy lâu đều tiêu tán. Đi lễ chùa, tốt nhất không mang theo những đồ tùy thân khi vào Tam Bảo.

– Đến dâng hương tại các chùa chỉ được sắm các lễ chay: Hương, hoa tươi, quả chín, oản, xôi, chè… không được sắm sửa lễ mặn như cỗ tam sinh (trâu, dê, lợn), thịt gà, giò, chả…

– Hoa tươi lễ Phật thường là hoa sen, hoa huệ, hoa mẫu đơn, hoa ngâu, hoa hồng, hoa cúc… tuyệt đối không dùng các loại hoa tạp, hoa dại.

– Quả chín dâng lên ban thờ tốt nhất là các loại quả như chuối, thanh long, nho, bưởi, táo, hồng, đu đủ, hồng xiêm…

– Tuyệt đối không đặt lễ mặn ở khu vực Phật điện (chính điện), tức là nơi thờ tự chính của ngôi chùa.

– Tại chùa, không để tiền thật lẫn tiền âm phủ lên ban thờ hay mâm lễ.

– Tại đình đền có thể đặt tiền âm phủ nhưng không nên đặt tiền thật.

Đi lễ chùa đầu năm là một nét đẹp của người Việt Nam trong những ngày đầu năm mới, các bạn nên tham khảo bài cúng khi đi chùa để biết cách hành lễ khi đi chùa. Ngoài ra đầu năm mới nhiều gia đình cũng thường làm lễ dâng sao giải hạn để tiêu trừ tai họa mong một năm mới gặp nhiều may mắn.

Cách Phân Biệt Chùa, Đình, Đền, Miếu, Nghè, Điện, Phủ, Quán, Am

Đình làng Đình Bảng.

Bài viết này sẽ giúp bạn đọc dễ dàng phân biệt được các địa điểm thờ cúng khác nhau, hiểu được ý nghĩa của việc thờ cúng và những nhân vật được thờ cúng trong đó.

Chùa là gì?

Chùa là cơ sở hoạt động và truyền bá Phật giáo, là nơi tập trung sinh hoạt, tu hành và thuyết giảng đạo Phật của các nhà sư, tăng, ni. Mọi người kể cả tín đồ hay người không theo đạo đều có thể đến thăm viếng, nghe giảng kinh hay thực hành các nghi lễ Phật giáo. Ở một số nơi, chùa cũng là nơi cất giữ xá lị và chôn cất các vị đại sư.

Đình là gì?

Đình là nơi thờ Thành hoàng của các làng, đồng thời là nơi hội họp, bàn việc của dân làng. Đình được coi là trung tâm sinh hoạt văn hóa gắn bó với một cộng đồng cư dân và mang đặc trưng của nền văn minh lúa nước Việt Nam.

Thành hoàng là người có công với dân, với nước, lập làng, dựng ấp hay sáng lập nên một nghề (ông tổ của nghề). Dưới các triều vua thường có sắc phong cho Thành hoàng, vì hầu hết Thành hoàng đều có công với nước. Dân làng, hay phường hội đi lập nghiệp nơi khác cũng xây miếu, đền thờ Thành hoàng quê gốc của mình tại nơi ở mới.

Đền là gì?

Đền là công trình kiến trúc được xây dựng để thờ cúng một vị Thánh hoặc những nhân vật lịch sử được tôn sùng như thần thánh. Ở Việt Nam, phổ biến nhất là các đền thờ được xây dựng để ghi nhớ công ơn của các anh hùng có công với đất nước hay công đức của một cá nhân với địa phương được dựng theo truyền thuyết dân gian.

Các đền nổi tiếng có thể kể đến ở nước ta như Đền Hùng, đền Kiếp Bạc, đền Sóc, đền Trần… thờ các anh hùng dân tộc.

Đền Voi Phục, đền Bạch Mã, đền Kim Liên, đền Quán Thánh…thờ các vị thánh theo truyền thuyết dân gian.

Miếu là gì?

Miếu là một dạng di tích văn hóa trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam có quy mô nhỏ hơn đền. Đối tượng được thờ ở miếu rất đa dạng, thể hiện ở tên gọi của miếu – tên gọi theo đối tượng được thờ thường phiếm chỉ và tượng trưng.

Ví dụ: miếu Cô, miếu Cậu, miếu thờ thần núi gọi chung là miếu Sơn thần, miếu thờ thần nước gọi là miếu Hà Bá hoặc miếu Thủy thần. Miếu thờ thần đất gọi là miếu thổ thần hoặc thần Hậu thổ.

Miếu thường được xây trên gò cao, nơi sườn núi, bờ sông hoặc đầu làng, cuối làng, những nơi yên tĩnh để quỷ thần có thể an vị, không bị mọi sự ồn ào của đời sống dân sinh. Ở một số nơi, trong các ngày giỗ thần như ngày sinh, ngày hóa (nhân thần), ngày hiện hóa (thiên thần) làng mở tế lễ, mở hội, nghinh rước thần từ miếu về đình. Tế lễ xong, lại rước thần về miếu yên vị.

Miếu nhỏ còn được gọi là Miễu (cách gọi của người miền Nam).

Nghè là gì?

Một hình thức của đền miếu, thờ thần thánh. Đây là kiến trúc thường có mối quan hệ chặt chẽ với một di tích trung tâm nào đó. Nghè có khi thờ thành hoàng làng ở làng nhỏ, được tách ra từ làng gốc như Nghè Hải Triều (Cẩm Giàng – Hải Dương).

Nghè cũng có thể là một ngôi đền nhỏ của một thần trong xã nhằm thích ứng với dân sở tại để tiện việc sinh hoạt tâm linh khi ngôi đền chính khó đáp ứng được nhu cầu thờ cúng thường nhật, như Nghè ở Trường Yên là một kiến trúc phụ của đền vua Đinh.

Hiện ngôi nghè cổ nhất được tìm thấy từ thế kỷ XVII.

Điện thờ là gì?

Điện là sảnh đường cao lớn, thường chỉ chỗ Vua Chúa ở, chỗ Thần Thánh ngự. Như vậy Điện thờ là một hình thức của Đền, là nơi thờ Thánh trong tín ngưỡng Tam tứ phủ. Tuy vậy quy mô của Điện nhỏ hơn Đền và Phủ, lớn hơn so với Miếu Thờ. Điện thông thường thờ Phật, thờ Mẫu, Công đồng Tam tứ phủ, Trần Triều và các vị thần nổi tiếng khác.

Điện có thể của cộng đồng hoặc tư nhân. Trên bàn thờ thường có ngai, bài vị, khám, tượng chư vị thánh thần và các đồ thờ khác: tam sơn, bát hương, cây nến, đài, lọ hoa, vàng mã,…

Phủ là gì?

Phủ là đặc trưng của tín ngưỡng thờ Mẫu (tín ngưỡng bản địa của người Việt Nam). Một số nơi thờ tự (ở Thanh Hóa) gọi đền là phủ. Có thể hiểu Phủ là nơi thờ tự Thánh Mẫu khá sầm uất, mang tính chất trung tâm của cả một vùng lớn, vượt ra ngoài phạm vi địa phương, thu hút tín đồ khắp nơi đến hành hương (tương tự như chốn Tổ của sơn môn đạo Phật).

Ngôi phủ sớm nhất còn lại hiện biết là điện thờ các thần vũ nhân ở chùa Bút Tháp, có niên đại vào giữa thế kỷ XVII.

Quán là gì?

Quán là một dạng đền gắn với đạo Lão (Đạo giáo). Vào các thế kỷ XI và XIV đạo Lão ở Việt nặng xu hướng thần tiên nên điện thờ thực chất giống như một đền thờ thần thánh.

Bích Câu đạo quán.

Sang tới thế kỷ XVI và XVII, sự khủng hoảng của Nho giáo đã đẩy một số nhà Nho và một bộ phận dân chúng quan tâm nhiều tới Lão giáo, và điện thờ đạo Lão có nhiều sự phát triển mới, với việc thờ cúng các thần linh cơ bản theo Trung Hoa.

Đó là Tam thanh (Nguyên Thủy Thiên Tôn, Linh Bảo Đạo Quân, Thái Thượng Lão Quân), Ngũ Nhạc mà nổi lên với Đông Phương Sóc và Tây Vương Mẫu, rồi Thánh Phụ, Thánh Mẫu. Cửu Diệu Tinh Quân (Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ, Mặt Trời, Mặt Trăng, Hồ phủ, Kế đô) đồng thời trên chính điện cũng có cả tượng của Hoàng Quân giáo chủ (Ngọc Hoàng).

Có thể kể tới các quán điển hình như: Hưng Thánh Quán, Lâm Dương Quán, Hội Linh Quán, Linh Tiên Quán… đều ở Hà Tây cũ (nay là Hà Nội). “Thăng Long Tứ quán” bao gồm: Chân Vũ quán (tức đền Quán Thánh ở phố Quán Thánh); Huyền Thiên cổ quán (nay là chùa Quán Huyền Thiên ở phố Hàng Khoai); Đồng Thiên quán (nay là chùa Kim Cổ ở phố Đường Thành); Đế Thích quán (nay là chùa Vua ở phố Thịnh Yên).

Am là gì?

Hiện được coi là một kiến trúc nhỏ thờ Phật. Gốc của Am từ Trung Quốc, được mô tả như ngôi nhà nhỏ, lợp lá, dùng làm nơi ở của con cái chịu tang cha mẹ, về sau đổi kết cấu với mái tròn, lợp lá, làm nơi ở và nơi đọc sách của văn nhân. Từ đời Đường, Am là nơi tu hành và thờ Phật của ni cô đặt trong vườn tư gia.

Với người Việt, Am là nơi thờ Phật (Hương Hải am tức Chùa Thầy, Thọ Am tức Chùa Đậu – Hà Tây…) cũng có khi am là ngôi miếu nhỏ thờ thần linh của xóm làng – Vào thế kỷ XV (thời Lê sơ) là nơi ở tĩnh mịch để đọc sách làm thơ của văn nhân. Miếu thờ thần linh ở các làng hoặc miếu cô hồn ở bãi tha ma cũng gọi là Am./.

Các Nghi Lễ Thờ Cúng Đền

CÁC NGHI LỄ THỜ CÚNG ĐỀN – CHÙA – MIẾU – PHỦ

✅ Trong cuộc sống tâm linh người Việt, văn hóa đi lễ Chùa cầu An là những nét văn hóa đẹp, song có ai biết – các nghi lễ khi đi lễ đã đúng cách hay chưa, đây là bài viết tham khảo tổng hợp về các nghi thức để mọi người cùng đọc và tham khảo….

A. LỜI GIỚI THIỆU

(Phong tục đi lễ chùa ngày đầu năm mới)  

Tất nhiên các cụ có nói ”Quan trọng nhất vẫn là Thành Tâm“, nhưng không có nghĩa là sự Thành tâm ấy được quyền mang ra tùy tiện hành xử. Sự Thành tâm nếu được kết hợp với việc “xin đúng, thưa trúng” thì tin chắc cái tâm nguyện, cái điều xin ấy sẽ sớm được như ý hơn.

Với bài viết này, các bạn sẽ được giải đáp 1 số thắc mắc về: + Thế nào là Đền, Đình, Chùa, Miếu, Phủ? Sự khác nhau cơ bản giữa các khái niệm đó? + Phân biệt các loại tượng Phật. Tại sao cùng là Phật A Di Đà mà có Phật đứng, Phật ngồi, Phật nằm… rồi lại có cả Phật trẻ con, Phật gầy, Phật béo… + Thờ Mẫu là thờ ai? 3 pho tượng Mẫu hay gặp ở Đền, Chùa, Phủ là 3 vị Mẫu nào? Vị nào quan trọng nhất? + Nghi thức đặt lễ, đặt ở đâu trước, đặt đâu sau? + Trình tự hành lễ, lễ ở đâu trước, lễ và xin như thế nào cho đúng? + Nghi thức hạ lễ, hạ đâu trước? (rất hay) + Thụ lộc sao cho đúng? + 1 số bài văn khấn tiêu biểu khi vào Chùa (VD vào Phủ Tây Hồ thì khấn thế nào?…)

Thậm chí 1 số cách gọi hoặc cách hành lễ rất quen thuộc cũng sẽ được giải thích như: + Tại sao gọi là Chùa Chiền, đã Chùa lại còn Chiền? + Tại sao khi thắp hương lại thắp 1,3,5,7 nén? Sao lại có người thắp cả bó hương? + Tại sao thắp hương rồi lại còn rót rượu đổ xuống đất? + Xuất phát của câu Đồ “chùa”, của “chùa”, rồi Tiền “chùa”…? + Xuất phát của khái niệm Ông “Bụt”?

B. THỨ TỰ CÁC NỘI DUNG TRÌNH BÀY Bài viết được trình bày theo dàn ý như sau, viết ra đây cho mọi người tiện theo dõi:

I. KHÁI NIỆM VÀ CÁCH PHÂN BIỆT ĐỀN, ĐÌNH, CHÙA, MIẾU, PHỦ 1. Khái niệm chung 1.1. Đền là gì? 1.2. Đình là gì? Thành hoàng làng là ai? 1.3. Chùa là gì? Thuật ngữ Chùa “Chiền” có từ đâu? 1.4. Am là gì? Am khác gì Chùa?

2. Phân biệt sự khác nhau giữa các khái niệm trên *Bonus: Tại sao người Việt lại Thờ cúng Danh nhân, Anh hùng?

II. PHỦ VÀ ĐẠO MẪU TẠI VIỆT NAM (THỜ THÁNH MẪU) 1. Sơ lược về đạo Thờ Mẫu, thờ Nữ thần 2. Khái niệm Tam Phủ, Tứ Phủ, Thánh Mẫu? 3. Tại sao lại gọi là Phủ? 4. Mẫu Liễu Hạnh là ai? Tam toà Thánh Mẫu là những Thánh nào?

III. NGHI LỄ THỜ CÚNG TẠI ĐỀN, CHÙA, MIẾU, PHỦ 1. Lễ vật nào dùng để thờ cúng tại Đền, Phủ? 2. Dâng hương Lễ Phật, Lễ Mẫu như thế nào cho đúng? 3. Thụ lộc sao cho đúng?

IV. CHÙA VÀ ĐẠO PHẬT TẠI VIỆT NAM 1. Các trường phái Phật Giáo 2. Cấu trúc thờ tự trong chùa 3. Cách phân biệt các loại tượng trong chùa 4. Cách sắm lễ lên chùa và Nghi thức làm lễ (thứ tự dâng lễ) khi vào chùa 5. Giải thích nguồn gốc 1 số thuật ngữ dân dã: “Tiền chùa”, “Của chùa”, “Ông Bụt”…  

I. KHÁI NIỆM VÀ CÁCH PHÂN BIỆT ĐỀN, ĐÌNH, CHÙA, MIẾU, PHỦ  

1.1. Đền là gì? Đền là nơi thờ thần thánh hoặc những nhân vật lịch sử được tôn sùng như thần thánh. Thường thì các đền không mở hội dân gian.  

1.2. Đình là gì? Thành hoàng làng là ai? Đình là công trình kiến trúc công cộng của 1 làng xã, là trung tâm sinh hoạt văn hoá gắn bó với 1 cộng đồng dân cư và mang đặc trưng văn minh lúa nước. Mỗi làng thường có 1 ngôi đình, gọi chung là Đình làng. Thời xưa, Đình làng là trụ sở hành chính của chính quyền tựu trung đủ mọi lề thói từ rước xách hội hè, khao vọng quan trên, đón người đỗ đạt, họp việc làng, xử kiện… cùng những quy củ nhất định, có sự phân biệt chiếu trên, chiếu dưới rất rõ ràng.  

1.3. Chùa là gì? Thuật ngữ Chùa “Chiền” có từ đâu? Chùa là cơ sở hoạt động và truyền bá Phật giáo. Tuy nhiên, điểm khác biệt lớn ở Chùa Việt Nam là ngoài việc thờ Phật còn thờ cả Thần (VD chùa Thầy và Chùa Láng thờ cả Từ Đạo Hạnh và Lý Thần Tông), thờ tam giáo (Phật – Lão – Khổng), thờ Trúc Lâm Tam tổ, và thờ cả Mẫu…  

 

Để chỉ chùa thờ Phật, trong tiếng Việt còn có từ “chiền”… người ta cho rằng cả 2 từ “chùa” và “chiền” đều dùng để chỉ điện thờ Phật (đoạn này vừa đọc nhưng quên trang mất rồi, có gì tẹo bổ sung thêm).

1.4. Am là gì? Am khác gì Chùa? Am là nơi thờ Phật, phạm vi nhỏ hơn Chùa (miếu thờ thần linh ở các làng hoặc miếu cô hồn ở bãi tha ma cũng gọi là Am). Từ Am phát triển lên thành Chùa. Về sau thường dùng từ Am để chỉ nơi yên tĩnh, tu tâm đọc sách của các văn nhân [Ghi chú số (*1), xem bên dưới cùng bài viết.]  

 

Miếu là công trình kiến trúc nhỏ với quy mô rất đa dạng (thường không có tả hữu gian – 2 gian 2 bên, không có sân nhỏ, không có tam quan). Tuy nhiên cũng có những ngôi miếu lại đồ sộ như toà nhà lớn, có nhiều gian và nhiều lớp cấu trúc. Miếu thường toạ lạc ở nơi xa làng, yên tĩnh, thiêng liêng và chỉ là nơi yên nghỉ của các vị thánh thần. Trong các ngày lễ làng thường có tục rước thần từ Miếu (hoặc Đền) về Đình, lễ xong lại rước thần từ Đình về Miếu (Đền) yên vị. Nơi thờ các vị đại anh hùng thường gọi là Đền thờ (đền Hùng, đền Hai Bà Trưng, đền thờ Đức Thánh Trần…). Người miền Nam còn gọi nơi thờ cúng các Danh nhân, anh hùng là Miếu (như Linh Công Linh miếu) (*2)

Học giả nổi tiếng Phan Kế Bính viết: “Miếu thường hay kén những nơi đất thắng cảnh, nhất là trên gò cao, nơi gần hồ to sông lớn thì mới hay… Đình, miếu cũng theo 1 kiểu mẫu, chỉ khác nhau là to với nhỏ”. (*3)

Miễu: phân biệt 1 cách đơn giản thì Miễu là miếu nhỏ.

2. Phân biệt sự khác nhau giữa các khái niệm trên Qua khái niệm của Đền Đình Am Chùa Miếu Phủ ở trên, có thể rút ra 1 số điểm giống và khác nhau như sau:

+ Đình, đền, miếu đều là nơi linh thiêng thờ Thánh, Thần + Thông thường mỗi làng chỉ có 1 Đình nhưng có thể có nhiều Đền, Miếu + Đình thường thoáng, cao, rộng, phù hợp với hội làng xã. Còn đền, miếu thường có cấu trúc tối hơn, tạo cảm giác thiêng liêng, huyền bí cho người tới cầu cúng lễ bãi. + Đình là nơi hội họp làng xã, còn đền miếu chỉ dành riêng cho việc phụng thờ, tế lễ thần linh (hoặc một số nơi thì Chùa còn là nơi vãn cảnh). + Đền, Miếu thường xây dựng ở những nơi thắng cảnh, nhất là gò cao, gần hồ to, sông lớn. + Nhìn chung, Miếu có cấu trúc nhỏ hơn Đền, và Đền nhỏ hơn Đình (Miễu < Miếu < Đền < Đình) + Am và Chùa đều là nơi thờ Phật (ở VN thì còn thờ cả Thánh, Thần), nhưng Am có phạm vi nhỏ hơn Chùa.

Thêm 1 điểm nữa cần đặc biệt lưu ý: về tín ngưỡng nguyên mẫu thì Chùa là nơi thờ Phật, Phủ là đặc trưng của thờ Mẫu (Phủ Giầy, Phủ Tây Hồ). Tuy nhiên tại Việt Nam các nền văn hoá tín ngưỡng thường giao thoa hoà nhập với nhau rất sâu (đây cũng là một đặc trưng văn hóa tín ngưỡng tại Việt Nam). Chùa thờ cả Thần (kiến trúc: Tiền Phật hậu Thánh), và Chùa thờ cả Mẫu (Tiền Phật hậu Mẫu)… Vì thế sự phân biệt ở đây là không rõ ràng trong đối tượng thờ cúng. Các bạn cũng nên đặc biệt lưu ý đặc điểm này, để tránh việc cầu xin không đúng ban, đúng chỗ, cũng như đặt lễ và hành lễ sai nghi thức (ví dụ để đồ mặn, đồ vàng mã ở Ban thờ Phật hoặc để đồ sống ở ban thờ Mẫu chẳng hạn).

Ngay bản thân Đền, nếu đi sâu tìm hiểu sẽ rất phức tạp, khó phân loại. Có nơi thờ Nam thần, có nơi thờ Nữ thần. Thông thường đền thờ Nam thần thì to hơn Nữ thần nhưng đền thờ Nữ thần thì lại nhiều ban thờ hơn như ban Tứ phủ công đồng, ban Cô, ban Cậu. Tuy nhiên, hiện lại có 1 số đền thờ Nam thần lại cũng có ban thờ Mẫu, rồi thờ Cô, thờ Cậu… thành ra rất khó phân loại.

Tham Khảo: Tại sao người Việt Thờ cúng Danh nhân, Anh hùng?

Chắc 1 số bạn cũng có câu hỏi tương tự như mình: Tại sao vào Đền Chùa Miếu Phủ lại thấy thờ cả Bác Hồ, thờ cả các vị Danh nhân, Anh hùng như: + Hùng Vương ở Phú Thọ + Kinh Dương Vương ở Bắc Ninh + An Dương Vương ở Cổ Loa, Hà Nội + Phù Đổng Thiên Vương (thánh Gióng) ở Gia Lâm, Hà Nội + Hai Bà Trưng ở Phúc Thọ, Hà Tây và ở phố Đồng Nhân, Hà Nội + Ngô Quyền ở đền Ngô Vương, Sơn Tây, Hà Nội + Lý Thường Kiệt ở đền Lý Thái Uý và đền Lý Thường Kiệt (đều ở Thanh Hoá) + Hưng đạo vương Trần Quốc Tuấn Kiếp Bạc, Hải Dương.

Nguyên nhân được giải thích theo 3 yếu tố như sau: + Một là, người Việt tin vào linh hồn thuyết: Người ta cho rằng con người có phần Hồn và phần Xác, khi chết đi thì hồn khí hay khí nóng bay lên không gian, trở về trời, còn xác thịt trở về với đất. Chính ý niệm này đã giải thích nghi thức đốt những que hương và đổ rượu xuống đất. Khói hương bay lên không gian mời hồn ngự xuống trên bàn thờ, còn rượu đổ xuống đất chạm tới xác thịt. Chính việc tin vào linh hồn và linh hồn trường tồn sau khi chết, nên đã hình thành phong tục thờ cúng tổ tiên, thờ cúng danh nhân, các anh hùng. + Hai là, vì nhớ ơn công lao hiển hách của các danh nhân, anh hùng. + Ba là, vì muốn noi gương theo các đức tính đặc biệt của các ngài.

II. PHỦ VÀ ĐẠO MẪU TẠI VIỆT NAM (THỜ THÁNH MẪU)  

1. Sơ lược về đạo Thờ Mẫu, thờ Nữ thần Mẫu là gốc Hán – Việt, còn nghĩa thuần việt là Mẹ, Mụ (miền Trung). Tuy nhiên, Mẫu hay Mẹ đều để chỉ người phụ nữ đã sinh ra một người nào đó. Từ Mẫu và từ Mẹ còn bao hàm ý nghĩa tôn xưng, tôn vinh ví dụ như: Mẹ Âu Cơ, Mẫu Liễu Hạnh, Mẫu nghi Thiên hạ…

CẦN LƯU Ý: Tục thờ Mẫu là một trong những tục thờ quan trọng bậc nhất trong văn hoá tín ngưỡng của người Việt. Tục thờ Mẫu (có nguồn gốc từ tục thờ Nữ thần) đã có từ buổi hồng hoang của dân tộc, hiện giờ vẫn được thờ cúng tại nhiều nơi như: Liễu Hạnh là Thành hoàng làng Phố Cát (Thanh Hoá), Bà Đanh ở Nghệ An, Hai Bà Trưng ở Mê Linh, Bà Đá ở Hải Phòng… ngoài ra không thể không kể tới tục thờ Mẫu và Tam toà Thánh Mẫu (Mẫu Tam Phủ, Tứ Phủ).

Phủ là nơi thờ Mẫu: về mặt bản chất, Phủ là nơi thờ Mẫu, truyền bá đạo Mẫu. Tuy nhiên cũng có nhiều phủ thờ cả Phật, đây được coi như sự giao thoa hòa nhập giữa các tôn giáo, tín ngưỡng.

2. Khái niệm Tam Phủ, Tứ Phủ, Thánh Mẫu? *Tam Phủ: là Thiên Phủ (miền trời có mẫu Thượng Thiên), Sơn Phủ (miền núi có mẫu Thượng Ngàn), Thuỷ Phủ (miền sông nước có Mẫu Thoải). *Tứ Phủ: là Tam Phủ vừa kể và có thêm Phủ trần gian (có mẫu Liễu Hạnh). (*4) *Thánh Mẫu: Tương ứng với Tứ Phủ ở trên thì có 4 vị Thánh Mẫu cai quản 4 phủ đó, bao gồm: Mẫu Thượng Thiên, Mẫu Địa, Mẫu Thoải, Mẫu Thượng Ngàn.

Lưu ý: Có sách lại ghi Tam phủ là Thiên phủ (miền trời), Địa phủ (miền đất) và Thoải phủ (miền nước). Thêm Nhạc phủ (miền Thượng ngàn) nữa là đủ Tứ Phủ (*5). Tuy nhiên theo quan điểm của mình thì khái niệm Tam Phủ, Tứ Phủ đầu tiên là hợp lý hơn, chi tiết sẽ nói ở phần Tam toà Thánh Mẫu.

3. Tại sao lại gọi là Phủ? Cách định danh này có thể xuất phát từ quan niệm vũ trụ luận về các phủ trong Tứ phủ và cách định danh đương thời: cung Vua, phủ Chúa thời Trịnh – Nguyễn. Nổi tiếng nhất phải kể đến Phủ Giầy (Nam Định) và Phủ Tây Hồ (Hà Nội), thờ Đức Thánh Mẫu Liễu Hạnh.

Bên cạnh Thánh Mẫu Liễu Hạnh rất quen thuộc ở Miền Bắc thì còn có Thánh Mẫu Thiên Ya Na (miền Trung) và Bà Đen (miền Nam). Tuy nhiên do kiến thức và thời lượng chương trình có hạn nên mình xin phép chỉ dừng lại ở Thánh Mẫu Liễu Hạnh :))

4. Mẫu Liễu Hạnh là ai? Tam toà Thánh Mẫu là những vị nào?

Như ở trên có nói, Mẫu Liễu Hạnh là mẫu cai quản Phủ Trần Gian. Mẫu Liễu Hạnh là vị Thánh xuất hiện khá muộn (vào thời Hậu Lê – khoảng thế kỷ XVI) nhưng nhanh chóng trở thành vị thần chủ của đạo Mẫu và được tôn vinh hơn tất cả các Thánh Mẫu khác. Dân gian cho rằng Mẫu Liễu được xem như sự hoá thân của Mẫu Thượng Thiên. Vậy trong 4 vị Thánh Mẫu thì Mẫu Liễu Hạnh vừa là Mẫu Trần Gian, vừa là hoá thân của Mẫu Thượng Thiên, cho nên khi thờ các vị Thánh Mẫu, chỉ có Tam Toà Thánh Mẫu (3 tượng Thánh Mẫu), bao gồm: + Tượng Mẫu Đệ Nhất: Mẫu Liễu Hạnh, mặc áo đỏ, trùm khăm đỏ được đặt ở giữa. + Bên trái thấp hơn 1 chút là Mẫu Đệ Nhị: Mẫu Thượng Ngàn (Sơn Phủ), bà là chúa của Sơn Lâm, mặc áo xanh, khăn xanh. + Bên phải là mẫu Đệ Tam, tức Mẫu Thoải, mặc áo trắng, chùm khăn trắng. (*6)  

III. NGHI LỄ THỜ CÚNG TẠI ĐỀN, CHÙA, MIẾU, PHỦ

1. Lễ vật nào dùng để thờ cúng tại Đền, Phủ? Rất nhiều người còn đang mù mờ về việc sắm sửa lễ vật như thế nào để lễ Chùa, lễ Đền, Phủ. Nhiều người vào Chùa dâng hương mà lại mang đồ sống, đồ mặn…, rồi một số người cho rằng lễ chay chỉ dùng để lễ Phật, còn lễ Thánh, Thần thì bắt buộc phải lễ mặn. Thực tế thì lễ vật được sắm theo 1 số nguyên tắc như sau:

+ Lễ chay: gồm hương hoa trà quả… dùng để lễ ban Phật, Bồ Tát (nếu tại nơi thờ tự có ban này). Lễ chay cũng được dùng để dâng ban Thánh Mẫu. Trong trường hợp này người ta thường sắm thêm 1 số hàng mã để dâng cúng như: tiền, vàng, nón, hia, hài… (Đặc biệt lưu ý: lễ Phật thì ko dùng lễ mặn, vàng mã. Tiền giấy âm phủ hay hàng mã kiêng đặt ở ban thờ Phật, Bồ Tát. Tiền thật cũng không nên đặt lên hương án của chính điện, mà nên bỏ vào hòm công đức.)

+ Lễ mặn: gồm thịt gà, lợn, giò, chả… được làm cẩn thận, nấu chín. Nếu có lễ này thì đặt tại bàn thờ Ngũ vị Quan lớn, tức là ban Công đồng.

+ Lễ đồ sống: gồm có trứng, gạo, muối hoặc thịt mồi (1 miếng thịt lợn khoảng vài lạng). Đây là lễ dành riêng cho việc dâng cúng quan Ngũ hổ, Bạch xà, Thanh xà đặt ở hạ ban Công đồng Tứ Phủ. Theo lệ thì 5 quả trứng vịt sống đặt trong 1 đĩa muối gạo; hai quả trứng gà sống dặt trong 2 cốc nhỏ, 1 miếng thịt mồi được khía thành năm phần (ko đứt rời), không nấu chín (để sống). Kèm theo lễ vật này cũng có thêm tiền, vàng mã.

+ Cỗ mặn sơn trang: gồm những đồ như cua ốc, bún ớt, chanh quả… Nếu có gạo nếp cẩm nấu xôi, chè thì càng tốt (những đồ này sắm theo con số 15, mỗi loại 15 cái, tương ứng 15 vị được thờ tại ban Sơn Trang)

+ Lễ ban thờ Cô, thờ Cậu: thường gồm oản, quả, hương hoa, hia hài, nón áo… (tức là nhữngđồ hàng mã), gương lược… và những đồ vật tượng trưng những đồ chơi người ta hay làm cho trẻ nhỏ (cành hoa, con chim, chiếc kèn, cái trống…)

Tóm lại lễ vật không cần câu nệ, không bắt buộc. Nhưng đã sắm là phải sắm đúng, sắm đủ, tránh sắm sai đặt sai là hỏng bét 😀

2. Dâng hương Lễ Phật, Lễ Mẫu như thế nào cho đúng? Ngoài việc nhiều người không rõ vào Chùa hoặc Đền, Phủ phải sắm lễ ra sao, thì còn không ít người không biết thứ tự dâng lễ thế nào, thắp hương ra sao. Phần này sẽ nói chi tiết về thứ tự dâng lễ Phật, lễ Mẫu.

2.1. Lễ Trình  Theo lệ thường, trước tiên phải lễ thần thổ địa, thủ Đền trước, gọi là Lễ Trình, cáo lễ với Thần linh cho phép được tiến hành lễ tại Đền, Chùa, Miếu, Phủ. Sau đó, bày lễ vật ra các mâm, khay chuyên dùng vào việc cúng lễ… rồi đặt lễ vật vào các ban.

2.2. Thứ tự đặt lễ  Khi dâng lễ phải kính cẩn dùng hai tay và đặt cẩn trọng lên ban thờ. Khi đặt lễ và hành lễ phải lễ từ ban thờ chính rồi mới ra tới ban ngoài cùng (Thường lễ ban cuối cùng là ban thờ Cô, thờ Cậu). Chỉ sau khi đã đặt xong lễ vật lên các ban mới được thắp hương.

2.3. Thứ tự hành lễ (khấn vái)  Khi hành lễ cần theo thứ tự như sau: 1. Đặt lễ vật: thắp hương và làm lễ tại ban thờ Đức Ông (Đức Chúa) trước Tại sao phải hành lễ tại Đức Ông (Đức Chúa) trước? Đức chúa ông, hay còn gọi là đức chúa ông, thủ hộ già lam chân tể… là người đã bỏ vàng ra lát khu vườn của Thái Tử Kỳ Đà nước Xá Vệ để nhằm mua được khu vườn xinh đẹp đó xây tịnh xá cúng dàng đức Phật đến thuyết pháp, Và sau này 2 người đã cùng dâng cúng khu vườn nổi tiếng đó lên đức Phật để làm một ngôi tịnh xá đó là Kỳ Viên Tịnh Xá.

2. Sau khi đặt lễ ở ban Đức Ông xong, đặt lễ lên hương án của chính điện, thắp đèn nhang, thỉnh 3 hồi chuông rồi làm lễ chư Phật, Bồ Tát.

3. Sau khi đặt lễ chính điện xong thì đi thắp hương ở tất cả các ban thờ khác của nhà Bái đường. Khi thắp hương lên đều có 3 lễ hay 5 lễ. Nếu Chùa nào có điện thờ Mẫu, Tứ Phủ thì đến đó đặt lễ, dâng hương cầu theo ý nguyện.

4. Cuối cùng thì lễ ở nhà thờ Tổ (Nhà Hậu)

5. Cuối buổi lễ, sau khi đã lễ tạ để hạ lễ thì nên đến nhà trai giới hay phòng tiếp khách để thăm hỏi các vị sư, tăng trụ trì và có thể tùy tâm công đức.

Kết luận: Hiện tại vẫn có nhiều Trình tự Hành lễ, ví dụ có người lễ Tam Bảo Trước, rồi mới lễ Phật, Thánh (nơi nào TO nhất thì lễ trước). Có người lại lễ ngược lại: Phật, Thánh rồi Tam Bảo, rồi ra ngoài lễ Đức Ông. Nhưng một nghi thức hành lễ được coi là hợp lý nhất được tiến hành như sau:  

Lễ Tổ là lễ tại ban thờ Tổ, nơi thờ Tổ sư của giáo phái và các Cao tăng đã trụ trì tại chùa

Khi thắp hương cần thắp số lẻ: 1,3,5,7 nén (hoặc có thể đốt cả nắm), không thắp số chẵn. Theo lý giải nhà Phật thì số lẻ mang nhiều ý nghĩa linh thiêng. Hơn nữa, với Phật Giáo quan niệm cuộc sống không có gì là tuyệt đối nên không có gì có thể “chẵn” được. Ngoài ra còn có nhiều quan niệm khác nhau như: 5 nén hương là tượng trưng cho 5 phương trời, 5 hướng thần linh. Còn 7 nén hương là tượng trưng cho “7 vía” của người nam, 9 nén là “9 vía” của người nữ. Nhưng con số thông thường nhất trong cách cắm hương của Phật tử là số 1 hoặc số 3. Nếu thắp 1 nén hương là chúng ta đang tưởng nhớ tới đời Phật trong hiện tại (Phật Thích Ca), còn nếu thắp 3 nén thì là tượng trưng cho 3 đời Chư Phật: Quá Khứ (Phật A Di Đà) – Hiện Tại (Phật Thích Ca) – Tương Lai (Phật Di Lặc), sự tượng trưng cho 3 ngôi Tam Bảo: Phật, Pháp, Tăng.

Sau khi hương được châm thì dùng hai tay dâng lên ngang trán, vái ba vái rồi kính cẩn cắm hương vào bình trên ban thờ. Nếu có sớ tấu trình thì kẹp sớ vào giữa bàn tay hoặc đặt lên 1 cái đĩa nhỏ, dùng hai tay nâng đĩa sỡ lên ngang mày rồi vái 3 lần. Trước khi khấn thường thỉnh 3 hồi chuông, thỉnh chuông xong thì mới khấn lễ. Sau khi lễ xong thì sớ tâu trình được đặt tại ban Công đồng Tứ phủ.

Một vài lưu ý khác 1. Không chạy qua chạy lại, nói chuyện, bình phẩm, ngồi hoặc nằm trong Phật đường. Không tùy tiện hắt hơi sổ mũi, khạc nhổ… quanh khu vực Phật điện, tam bảo. 2. Vào Phật đường, đi vòng quanh tượng Phật, khu vực tam bảo, đi từ phải sang trái, niệm tên Phật “A di đà phật” – đây là câu hồng danh – để mọi người luôn nhớ đến Từ – Bi – Hỷ – Xả để đối chọi với các Tâm: “Tham, Sân, Si, Mạn, Nghi” – và ai  thực hiện các điều đó sẽ được hưởng những điều phúc đức: Hậu sinh đoan chính, đẹp; lời ăn tiếng nói rõ ràng dễ nghe; hóa sinh thăng thiên; có thể được sinh ra trong gia đình quyền quý; siêu sinh đạo Niết Bàn. (Bản chất đây là lời nhắc để thực hiện theo luật Nhân – Duyên – Quả – Nghiệp).  3. Sử dụng đồ của chùa, như ăn uống, thụ lộc, nên lưu công đức, dù ít dù nhiều. 4. Không nên mang theo mũ áo, khăn, túi xách, gậy gộc, bao tay… vào tam bảo bái Phật. Lỡ đặt những đồ đạc như vậy trên bàn, trên chiếu hoặc trong góc tam bảo để bái Phật thì mọi công quả tu dưỡng bấy lâu đều tiêu tán. Đi lễ chùa, tốt nhất không mang theo những đồ tùy thân khi vào tam bảo. 5. Không đứng hoặc quỳ chính giữa Phật đường. Đó là vị trí tối cao của trụ trì, nên quỳ lễ chếch sang bên một chút. 6. Lễ chùa phải ăn mặc giản dị, sạch sẽ, đặc biệt không mặc váy ngắn, quần cộc,… Nhiều người khi lễ Phật, thậm chí nhiều vị trí nhạy cảm phơi hết ra ngoài, vừa phạm giới uế tạp Phật đường, vừa phạm giới bất kính, khẳng định công quả tiêu tán hết, quả báo vô cùng. Không để trẻ em chạy loạn tam bảo, nghịch ngợm các đồ tế khí, sờ mó tượng phật… 7. Vào chùa, nên dùng Phật danh “A di đà Phật” thay tên gọi để mở lời chào trụ trì và tăng ni trong chùa. Khi ra về cũng nên dùng câu này để bái biệt, công đức mang lại vô lượng, cho cả người vãn cảnh và nhà chùa.

2.4. Thứ tự Hạ lễ  Sau khi đợi hết một tuần nhang, vái 3 vái trước mỗi ban thờ rồi hạ tiền, vàng để đem đi hóa. Khi hóa tiền, vàng cần hóa từng lễ một, từ lễ ở ban thờ chính cho tới lễ ở các ban khác, cuối cùng là lễ ở ban thờ cô thờ cậu. Hóa tiền vàng xong mới hạ lễ dâng cúng. Khi đặt lễ thì từ Ban chính ra ban ngoài, còn khi hạ lễ thì ngược lại, phải hạ ban ngoài cùng đến ban chính. Riêng các đồ lễ ở ban thờ cô, thờ cậu như gương, lược… thì để nguyên trên ban thờ. (Đối với tiền vàng mã, bản chất đây là tín lực – một tập quán tín ngưỡng, với tâm mong cầu của con người, nên cần phù hợp khi sử dụng. Đặc biệt không dùng vàng mã ở nơi thờ Phật).

Lời người viết: Đây là một số nghi thức thực hành dâng lễ phổ biến nhất tại đền, chùa, miếu, phủ. Tuy nhiên trong thực tế do đông đúc hoặc điều kiện không cho phép, việc thực hành dâng lễ đã bỏ qua một số nghi thức tập tục. Dần dần khi vào hành lễ, người ta chỉ chú ý lễ những ban quan trọng nhất (Phật, Mẫu, Tam Bảo) mà quên đi những thứ tự cần làm (ví dụ phải lễ Đức Ông trước). Dần dà thành thói quen, không mấy ai còn biết là phải lễ Đức Ông đầu tiên nữa – kể cả những người thường xuyên lễ Đền Chùa. Đây là điểm các bạn nên lưu ý để thực hiện Hành lễ cho đúng.(*7)

3. Thụ lộc sao cho đúng? Dân gian quan niệm: “Lộc bất tận hưởng”, có nghĩa là phải “tản lộc” đi càng nhiều càng tốt thì mới tiếp tục nhận được nhiều lộc của Thần, Phật. Người nào hưởng lộc một mình là vô phúc, sẽ bị cô quả, cô độc. Vì thế, mỗi khi đi Chùa, lên Đình về mà có lộc thì các cụ đều chia cho con cháu. Nhà nào con cháu đông, phải chia lộc càng nhiều thì càng có phúc.

Sau buổi lễ, người đi lễ thường dành một phần lộc nhỏ đặt vào khay cúng với một số tiền tùy tâm để biếu người thủ đền, cũng coi như việc Công đức cho nhà Chùa, Đền. (Đón tiếp xem phần 2)  

Nguồn: Sưu tầm  

Cập nhật thông tin chi tiết về Nghi Lễ Thờ Cúng Đền, Chùa, Miếu, Phủ trên website Apim.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!