Xu Hướng 2/2023 # Ngày “Vía Thần Tài” Nên Cúng Như Thế Nào Để Cả Năm Rước Lộc # Top 10 View | Apim.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Ngày “Vía Thần Tài” Nên Cúng Như Thế Nào Để Cả Năm Rước Lộc # Top 10 View

Bạn đang xem bài viết Ngày “Vía Thần Tài” Nên Cúng Như Thế Nào Để Cả Năm Rước Lộc được cập nhật mới nhất trên website Apim.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Ngày Vía Thần Tài nên cúng như thế nào để cả năm rước Lộc

Vấn đề vào ngày Vía Thần Tài nên cúng như thế nào, chuẩn bị lễ vật như thế nào và những điều nên – kiêng trong ngày cúng Vía Thần Tài để được các vị phù hộ là điều rất nhiều người quan tâm, đặc biệt là những gia đình trẻ mới lập bàn thờ mới chưa từng trải qua những việc này.

Theo các chuyên gia về Phong Thủy, vào ngày Vía Thần Tài (Mồng 10 Tháng Giêng) mọi người nên chuẩn bị lễ cúng Thần Tài để cầu xin một năm may mắn, mua may bán đắt, công việc thuận buồm xuôi gió tiền vào bạc tỉ…

Cúng Vía Thần Tài cần chuẩn bị những lễ vật gì?

Theo quan niệm từ xưa, lễ vật cúng Vía Thần Tài gồm: 1 con cá tràu (cá quả) nướng, một miếng thịt heo quay (1 con heo quay cũng được), 1 con tôm, 1 con cua, 1 đĩa ngũ quả tươi, một lọ hoa tươi, một bộ tiền vàng mã cúng Thần Tài. Dân gian cũng tương truyền rằng Thần Tài rất thích ăn heo quay và chuối đã chín vàng nên 2 món này không được thiếu trong lễ cúng vía thần Tài.

Một lễ vật nữa cũng rất cần thiết trong ngày cúng vía thần tài đó là vàng gia chủ vừa mua mới. Theo tục cúng vía Thần Tài từ xưa việc mua một trang sức bằng vàng đặt lên bàn thờ Thần Tài lúc cúng để xin Lộc, sau đó đeo trang sức bằng vàng đó trên người sẽ được may mắn suốt cả năm. Đó là lý do tại sao cứ vào ngày Đại Tài (Mùng 10 Tháng Giêng) người người lại đổ xô đi mua vàng.

Những điều cần lưu ý khi thờ cúng Thần Tài

Để việc thờ cúng Thần Tài trở nên linh nghiệm và nhận được nhiều may mắn, gia chủ khi thờ cúng các vị nên lưu ý những điều cơ bản sau đây:

Tượng các ngài nên chọn những pho tượng Thần Tài, Ông Địa có gương mặt tươi cười hoan hủ, sáng sủa, tượng không bị nứt mẻ, nhìn vào toát lên sự phú quý. Nên chọn tượng làm từ các chất liệu sứ, bột đá cao cấp.

Hàng ngày thắp hương cho các vị hai lần buổi sáng từ 6 – 7h và buổi chiều tối từ 18h – 19h. Thay nước uống mỗi lần thắp hương, thay nước trong lọ hoa và bàn thờ luôn luôn có hoa quả tươi, đặt biệt là chuối chín vàng

Rượu hay nước thì đứng ngoài cửa tưới vào nhà, có ý nghĩa là đem lộc vào.

Không để các vật nuôi trong nhà quậy phá làm ô uế bàn thờ Thần tài.

Hàng tháng thường lau bàn thờ, tắm cho Thần tài vào ngày cuối tháng và ngày 14 âm lịch với nước lá bưởi, hay rượu pha nước. Khăn lau và tắm cho Thần tài không được dùng vào việc khác.

Ngày Giỗ, Ngày Sinh Và Tập Quán Gắn Với Ngày Sinh

Lễ giỗ được xếp vào loại thuần phong mỹ tục của dân tộc ta. Theo tập quán lâu đời, dân ta lấy ngày mất của người thân (ông bà, cha mẹ, những người ruột thịt…) làm trọng cho nên có ngày đó. Vào dịp đó, những người thân hay đi thăm phần mộ rồi tổ chức làm cỗ cúng và tùy vị trí, gia cảnh người đã khuất mà làm to hay nhỏ.

1. Thường thì giỗ cha mẹ làm to rồi trở lên mỗi đời mỗi xa thì giảm đi. Đây cũng là dịp những người thân trong gia đình gặp nhau tưởng nhớ công tích người đã mất và bàn việc người sống giữ gìn gia phong, gia đạo. Tuy nhiên, còn một hình thức lớn hơn là giỗ họ. Bởi nhiều gia đình họp thành một ngành (chi), nhiều ngành họp thành một họ. Mỗi họ có một ông tổ chung. Ngày giỗ ông tổ gọi là ngày giỗ họ hoặc giỗ tổ. Mỗi họ đều có một nhà thờ tổ. Giỗ tổ thường cúng tại nhà thờ này. Ngày giỗ họ là dịp duy nhất trong năm để cả nhà họp mặt. Ngày giỗ của gia đình thường cúng ở nhà con trai trưởng hoặc nhà cháu đích tôn (trường hợp con trưởng đã chết).

Tục lệ thờ cúng tổ tiên mang ý nghĩa uống nước nhớ nguồn. Việc cúng giỗ là một điều trong chữ hiếu. Thể theo phong tục đẹp này mà nhà nước ta đã giữ gìn việc tổ chức trang nghiêm ngày giỗ của các anh hùng dân tộc có công dựng nước và giữ nước như ngày giỗ tổ Hùng Vương, giỗ Hưng Đạo Vương, Lê Thái Tổ, giỗ trận Đống Đa, tưởng niệm thương binh liệt sĩ 27.7… Thường ngày giỗ được tổ chức theo âm lịch.

Có ý kiến giải thích vì dân ta trước đây ít ai chú ý tới ngày sinh (do không biết chữ, do đời sống vất vả khó khăn…) trừ một số gia đình quan lại hoặc công chức có lá số tử vi hoặc giấy khai sinh, nên chỉ chú ý tới ngày mất?! Chỉ phương Tây là có tập quán mừng ngày sinh. Không đúng, bởi tôn giáo Đông Tây đều coi trọng ngày sinh. Phật giáo có ngày Bụt sinh Bụt đẻ (Phật Đản 8.4 âm lịch), công giáo có ngày Thiên chúa giáng sinh (25.12 dương lịch). Ở Việt Nam, nếu xét theo lễ tục vòng đời thì từ lúc được sinh đẻ cho đến ngày lên lão, người Việt có nhiều sinh hoạt chứng tỏ niềm trân trọng với con người, nhất là những người đang sống.

2. Trước hết, người dân ta tin rằng đứa trẻ được sinh ra thì ngay lập tức đã có mười hai vị nữ thần phù hộ gọi là mười hai bà Mụ. Đây là những người (hoặc thần) đầu tiên nâng đỡ, dạy dỗ trẻ thơ:

Mười hai bà mụ/ Phù hộ con nhà/ Nâng như nâng trứng/ Hứng như hứng hoa…/… Bà là bà Trời: Dạy con nằm nôi/ Là bà Đầu Võng/ Bà bày ngóng sáng/ Bà dạy nhìn trời/ Chúm miệng chúm môi/ Là bà dạy cười/ Chân co tay trở/ Là nhờ bà Đỡ/ Bà cho cháu lật/ Bà dạy cháu bò/ Bà cầm tay cho/ Là con biết chững…

Sinh được đứa con là một điều mừng, là hạnh phúc lớn lao cho gia đình và xã hội. Vì vậy, người ta theo dõi quá trình trưởng thành của em bé và cứ đến một chặng thời gian nhất định là người ta làm lễ vừa để cảm ơn trời đất, cảm ơn các bà mụ, cảm ơn tổ tiên, lại vừa để mừng cho đứa trẻ được lớn mạnh với thời gian. Kể từ khi đứa trẻ ra đời đến khi vào tuổi trưởng thành, trước đây phải trải qua nhiều lễ tục quan trọng mà nay chỉ còn lưu giữ một số. Chẳng hạn lễ móc miệng, lễ đầy cữ, đầy tháng, đầy năm, thôi nôi… Dân gian vẫn còn ghi nhớ những lời chúc cho trẻ trong những dịp như thế:

Mở miệng ra như bông như hoa/ Mở miệng ra mẹ cha yêu mến/ Mở miệng ra nhường dưới kính trên/ Mở miệng ra ông cha vừa bụng/ Mở miệng ra làng xóm ngợi khen…

Khi đứa trẻ đã lớn, người ta tổ chức lễ thành đinh. Đứa trẻ đã là một chàng trai khỏe mạnh có quyền lợi và nghĩa vụ như mọi thành viên của cộng đồng. Tại các gia đình phải làm lễ cáo với tổ tiên, sau đó phải trình làng, phải cáo với Thành hoàng làng nay đã có thêm một phần tử trai tráng mới. (Chỉ có điều chưa bình đẳng là chỉ tổ chức cho con trai). Ở một số vùng miền núi nước ta, dấu vết của lễ thành đinh này vẫn còn tồn tại. Người Ê đê ở Tây Nguyên dõi theo chàng trai trưởng thành của dân tộc mình: Tờ mờ sáng, chàng trai đã đóng khố, mặc áo đẹp sau khi tắm ở bốn nước để tẩy rửa hết những bẩn thỉu hoặc tội lỗi. Chàng lấy một bầu nước trong từ vách đá về cúng thần linh. Đến nơi hành lễ, chàng cầm một thanh gươm chặt phăng hai cây chuối được trồng ở đầu cầu thang rồi bước lên gặp mẹ trong nhà chờ sẵn. Mẹ hỏi:

– Chào con. Con từ đâu về? Có phải con đi đánh giặc bên đông, múa khiên bên tây về không?

– Con chào mẹ của núi rừng Ê đê. Mẹ nói đúng, con đã thử gươm, cây lớn đã ngã, cây bé chẳng còn. Nay con về với mẹ.

Cồng chiêng nổi lên. Thầy cúng kêu gọi thần linh giúp đỡ chàng trai và dân làng. Chàng trai được trao gươm và khiên múa vài đường. Các cô gái để nước để thẳng múa gươm chống đỡ. Mọi người reo hò nhảy xung quanh. Sau lễ này, chàng trai Ê đê thực sự là con người trưởng thành. Anh sẽ cùng các trai làng khác bảo vệ cuộc sống yên vui của cộng đồng.

3. Việc tổ chức sinh nhật ở nước ta trước đây cũng có những nét riêng và đó là chuyện thông thường. Nhưng đúng là thường chỉ các gia đình khá giả mới tổ chức sinh nhật. Không như ngày nay năm nào cũng tổ chức cho từng thành viên, người ta chỉ mừng sinh nhật ông bà, cha mẹ hoặc người cao tuổi nhất trong nhà chứ không mừng tràn lan cho mọi người. Người Dao ở phía Bắc có tục lệ tổ chức cho người từ 60 tuổi trở lên gọi là sèng nhật. Năm đầu tiên họ mời đông khách nhất gồm họ hàng và hàng xóm láng giềng. Những năm tiếp theo, nếu không có điều kiện thì không mời khách, nhưng vẫn làm cỗ trong gia đình để các cụ được vui.

Còn nhìn chung, đến tuổi cao niên người ta thường tổ chức lễ mừng thọ. Phải 60, 70 tuổi mới là tuổi thọ. 80 tuổi là thượng thọ, 90 đến 100 tuổi là đại thọ. (Tuy vậy, cũng có người 40 tuổi cũng mừng thọ như vua Khải Định trước đây gọi là Tứ tuần đại khánh!).

Người Việt Nam đặc biệt kính trọng những người cao tuổi. Triều đình trọng tác, hương đảng trọng xỉ (ở triều đình phân biệt theo chức tước, ở làng quê người già rụng răng là bậc bề trên). Nhà thơ Yên Đổ (Nguyễn Khuyến) làm quan đến chức Tổng đốc khi về làng vẫn đến quỳ lạy cụ già 80 tuổi không có chức tước gì. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng rất giữ phép trọng lão. Một dịp gặp các cụ ở đền Ngọc Sơn, Bác Hồ nói với cụ thân sinh Bộ trưởng Vũ Đình Hòe: “Cụ hơn tôi một giáp, cụ là bậc anh, tôi xin mời cụ ngồi trên”. Lễ mừng thọ chủ yếu là để con cháu mừng bố mẹ, những người trong họ mừng người cao tuổi của họ mình. Ngày nay mở rộng, các hội như hội đồng hương, mặt trận, cơ quan… hàng năm cũng tổ chức mừng tập thể cho các cụ ông cụ bà cao niên từ tuổi 70 trở lên. Đó cũng là một cách tri ân đối với người cao tuổi nhiều đóng góp.

Có một hình thức lễ mừng thọ nữa là lễ tế sóng bố mẹ. Xưa những nhà có điều kiện kinh tế hoặc nhà quan có thể tổ chức lễ này. Người được mừng ngồi trên sập cao, uy nghi như tượng thần, mặc áo đỏ, quần đỏ. Người đứng tế là con trưởng đọc văn tế, các thành viên trong gia đình, họ mạc theo thứ tự đến vái. Lễ này không quy định ngày tháng, cũng không bắt buộc mà tùy theo hoàn cảnh của gia đình.

Cũng như nhiều dân tộc khác, người Việt có những tập tục riêng, bản thân phải tôn trọng và cũng muốn người khác phải tôn trọng. Người Việt rất tôn trọng tổ tiên, kính mộ người đã khuất, biết ơn những bậc tiền nhân đã hy sinh bảo vệ đất nước, quê hương, biết ơn những người khai mở làng xóm, dạy nghề, dạy việc. Tổ chức lễ giỗ những đấng bậc này và giữ gìn tục lệ đó theo ý nghĩa trong sáng của nó là điều không có gì phải bàn cãi. Với người đang sống, từ lúc chào đời đến ngày lên lão, người Việt luôn luôn quan tâm theo dõi từng chặng đường phát triển của các thành viên. Ở mỗi chặng trưởng thành của con người, dân ta luôn biểu lộ những niềm vui, niềm tin vào các thành viên cộng đồng. Việc tổ chức những lễ mừng như đầy cữ, đầy tháng, đầy năm, thành đinh, sinh nhật, mừng thọ… là cách tổ chức sinh nhật độc đáo của người Việt. Người Việt bày tỏ tình yêu, gửi gắm ước mơ của mình đối với người thân của mình qua những lễ tục giản dị nhưng sâu xa như thế.

Đói Ngày Giỗ Cha No Ba Ngày Tết

Theo PGS-TS Phạm Văn Tình, phong tục cũng giỗ ngày xưa (ở một số vùng Việt Nam) khá khắt khe. Giỗ song thân phụ mẫu là giỗ trọng (nhất là ba năm đầu, chưa hết tang). Vào ngày giỗ, con cháu phải theo tang chế (mặc đồ tang, con gái đội khăn xô, con trai đội nùn rơm, chống gậy), đứng trước bàn thờ cha (mẹ) từ sáng sớm. Con trai trưởng phải thường xuyên túc trực, theo dõi đèn nhang và cung kính đáp lễ mỗi khi có khách vào thắp hương tưởng nhớ người quá cố. Việc tiếp đón, mời cơm khách do người nhà gia chủ lo liệu, các con (nhất là con trai) phải nghiêm chỉnh thực hiện nghi lễ bên bàn thờ cho đến khi người khách cuối cùng (đến chia sẻ, ăn uống) chào ra về.

Tất tả chuẩn bị từ mấy ngày trước, lại phải tập trung lo lắng cho ngày chính giỗ, nên hầu như con cái nhà có đám ít được ăn uống chu đáo. Đấy là chưa nói, còn một số nơi bắt con cái phải nhập phép “tịnh cốc” (không được ăn mặn hay các loại ngũ cốc, chỉ uống nước lã đun sôi) để tỏ lòng hiếu thảo với cha mẹ trong ngày này. Nhiều người con, cha mẹ mới mất, vì vẫn còn nhớ thương sầu thảm, cũng chẳng có bụng dạ nào mà ăn uống cả. Vậy thì dù là ngày giỗ cha, có mâm cao cỗ đầy thật đấy, nhưng chuyện họ phải mang bụng đói trong ngày này là điều có thực và cũng là điều hoàn toàn dễ hiểu.

Ý nghĩa và thói quen của người Việt còn đúc kết trong “no ba ngày Tết”. Cả năm có thể khổ cực vất vả nhưng Tết phải sung túc. Không có cũng phải cố, phải vay mượn. Những ngày cận Tết, cả DN lẫn người dân đều có nhu cầu cao về tiền. Không thể vay ngân hàng, họ buộc phải tìm đến nguồn tín dụng đen vay tạm lấy tiền trả nợ, chi tiêu nóng để được an thân mấy ngày tết rồi ôm nỗi lo vào năm mới.

Có công ty nghĩ ra “sáng kiến” cấn luôn chiếc xe chở nhân viên, nghỉ Tết không dùng đến nên đem thế chấp, vay 500 triệu với lãi suất 1.500 đồng/triệu/ngày. Hy vọng ra ngoài Tết đòi được tiền sẽ thanh toán, lấy xe về. Với số tiền phải trả 22,5 triệu đồng/tháng, tính ra lãi suất là 4,5%/tháng.

Vòng quay đáo hạn ngân hàng cuối năm cũng đẩy người dân và doanh nghiệp vào tình cảnh phải chọn lãi suất khủng của tín dụng đen. Một anh bạn than thở, vì cần tiền đáo hạn ngân hàng trong vòng 3 ngày cuối năm, ông chủ tín dụng đen đã đưa ra một mức lãi suất khủng 0,4%/ngày, tương đương với 12%/tháng và 144%/năm.

Nguyễn Quang Tuấn, nhân viên kinh doanh của một tờ báo, than thở: “Hai năm trước mua được căn nhà trả góp. Năm rồi kém quá, cuối năm không được thưởng gì hết, đành phải bán căn nhà. Trả tiền mượn gia đình, trả tiền ngân hàng, trả tiền cò và tiền trượt giá… còn đúng mấy chục triệu. Về quê đi một vòng xong, Tết hết lại tiếp tục cày từ con số 0”.

Tết nghèo kiểu gì cũng phải chi xài thỏa sức.

“Đói Ngày Giỗ Cha, No Ba Ngày Tết”

“Thưa thầy, lớp chúng em vẫn tranh luận với nhau về ý nghĩa của câu tục ngữ đói ngày giỗ cha, no ba ngày Tết. Tranh luận nhiều nhưng mỗi người một ý. Em có đem câu này về nhà hỏi bố mẹ thì bố em cũng chịu. Bố em còn bảo: “Ông nội của con mất đã lâu, giỗ nhiều lần rồi nhưng con cái chưa phải chịu đói bao giờ cả”.

Đây có phải là một câu nói cho vui không ạ?”. Đó là lời của bạn Trần Thu Thảo – lớp trưởng lớp Văn (2008-2011), Trường Cao đẳng Sư phạm Hà Nội – hỏi tôi (nhân một sinh hoạt khoa học cuối năm có mời tôi làm báo cáo viên chính).

Không riêng gì bạn Trần Thu Thảo, thú thực, bản thân tôi nhiều lúc cũng không rõ nguyên do từ đâu dẫn đến câu tục ngữ này. Hầu hết các sách sưu tầm văn hoá dân gian chỉ thống kê chứ chưa giải thích kỹ câu đó (trừ một số câu khá đặc biệt). Đầu năm 2010, khi cuốn “Từ điển tục ngữ Việt” (Nguyễn Đức Dương, NXB Tổng hợp TP Hồ Chí Minh, 2010) xuất bản, tôi vội vã tra ngay. Mục từ này được giải thích như sau: “Hay bị đói là vào dịp giỗ cha (vì đâu còn lúc nào mà nghĩ tới chuyện ăn trong khi đang mải lo chuyện cúng giỗ); hay được ăn no là vào ba ngày Tết (vì đó là một thông lệ vốn có tự ngàn xưa)”. Cách cắt nghĩa như vậy cũng thật chưa rõ ý.

Vào ngày Tết, mọi người được nghỉ ngơi, vui chơi, chúc tụng và ăn uống no nê đủ đầy có lẽ là chuyện không phải bàn cãi. Khôn ngoan đến cửa quan mới biết / Giàu có ba mươi Tết mới hay; Số cô chẳng giàu thì nghèo / Ngày ba mươi Tết thịt treo trong nhà; Làm như ba ngày mùa để đâu cho hết / Ăn như ba ngày Tết lấy gì mà ăn; v.v.

Người Việt Nam ta từ ngày xưa, vẫn coi cái Tết (Nguyên đán) là một thời khắc hệ trọng, thiêng liêng. Cho nên dù khó khăn, nghèo đói đến mấy thì khi Tết về, ai cũng đều phải lo sửa sang nhà cửa, tu sửa bàn thờ tổ tiên, sắm sanh nhiều thức ăn ngon… để thết đãi khách và nhất là để gia đình mình “no đủ cả năm” (theo tín ngưỡng, năm mới không được thiếu thứ gì). Thời buổi bây giờ thì khác. Người ta không đến nỗi phải chờ hết năm mới có cơ hội “đánh đụng” lợn, giã giò, gói bánh chưng, đồ xôi gấc… mà nếu muốn thì lúc nào cũng có thể “kéo Tết về nhà” bằng cách ra chợ mua đủ thứ. Song, dù thế nào, cứ đến Tết là khắp nơi, không ai bảo ai, vẫn cứ “hăng hái” mua sắm thật nhiều. Cái lệ đã thế rồi mà. Tết chẳng riêng ai, Tết mọi nhà / Quê hương, làng xóm, ông bà, tổ tiên…

Vấn đề mọi người thắc mắc là ở chỗ, chả lẽ ngày giỗ cha (thường cũng làm cỗ bàn khá linh đình) mà lại phải chịu đói hay sao? Mà chính con cái lại là người chịu đói mới lạ chứ?

Tôi đã có dịp hỏi các cụ cao niên ở nhiều nơi tôi qua (Đông Cứu, Gia Lương, Hà Bắc; Yên Xá, Ý Yên, Nam Định; Quỳnh Côi, Quỳnh Phụ, Thái Bình…) thì biết rõ một điều: Phong tục cũng giỗ ngày xưa (ở một số vùng Việt Nam) khá khắt khe. Giỗ song thân phụ mẫu là giỗ trọng (nhất là ba năm đầu, chưa hết tang). Vào ngày giỗ, con cháu phải theo tang chế (mặc đồ tang, con gái đội khăn xô, con trai đội nùn rơm, chống gậy), đứng trước bàn thờ cha (mẹ) từ sáng sớm. Con trai trưởng phải thường xuyên túc trực, theo dõi đèn nhang và cung kính đáp lễ mỗi khi có khách vào thắp hương tưởng nhớ người quá cố. Việc tiếp đón, mời cơm khách do người nhà gia chủ lo liệu, các con (nhất là con trai) phải nghiêm chỉnh thực hiện nghi lễ bên bàn thờ cho đến khi người khách cuối cùng (đến chia sẻ, ăn uống) chào ra về.

Tất tả chuẩn bị từ mấy ngày trước, lại phải tập trung lo lắng cho ngày chính giỗ, nên hầu như con cái nhà có đám ít được ăn uống chu đáo. Đấy là chưa nói, còn một số nơi bắt con cái phải nhập phép “tịnh cốc” (không được ăn mặn hay các loại ngũ cốc, chỉ uống nước lã đun sôi) để tỏ lòng hiếu thảo với cha mẹ trong ngày này. Nhiều người con, cha mẹ mới mất, vì vẫn còn nhớ thương sầu thảm, cũng chẳng có bụng dạ nào mà ăn uống cả. Vậy thì dù là ngày giỗ cha, có mâm cao cỗ đầy thật đấy, nhưng chuyện họ phải mang bụng đói trong ngày này là điều có thực và cũng là điều hoàn toàn dễ hiểu.

Quan niệm đó ngày nay đã khác. Các nghi thức cơ bản về giỗ chạp tất nhiên vẫn còn được duy trì, nhưng đã thay đổi khá nhiều cho phù hợp với điều kiện hiện tại và phải thừa nhận là càng ngày người ta càng đơn giản hơn. Tôi không rõ là còn nơi nào đó vẫn giữ phong tục cầu kì (như trên vừa nói không) chứ nói chung, chuyện hiếu hỉ bây giờ đã tiến triển theo chiều hướng “văn minh, hiện đại”. Ít có con cái phải rơi vào cảnh “bụng đói meo” trong ngày giỗ cha. Tuy nhiên, nhân Tết Nhâm Thìn đang đến, ta cùng ôn lại chuyện cũ để “nhớ lại một thời”, âu cũng là công việc cần làm để “ôn cố tri tân”.

PGS-TS Phạm Văn Tình

Đói Ngày Giỗ Cha, No Ba Ngày Tết?

: đây là một câu thành ngữ Việt Nam, ý nói Tết đến, dù nghèo khó đến đâu thì người ta cũng cố vay mượn, xoay xở để có đủ ăn trong ba ngày Tết sao cho “”. Hơn thế nữa, dù có đói khát quanh năm thì đến Tết, mọi người mà nhất là trẻ em thường được ăn uống no đủ. Bữa ăn ngày Tết thường có nhiều món, đủ chất hơn và sang trọng hơn bữa ăn ngày thường.

Câu này cho thấy ngày Tết là ngày quan trọng nhất trong tất cả các ngày lễ trong năm.

Ngày giỗ cha rất quan trọng, nhưng không dứt khoát phải cỗ bàn thịnh soạn. Gặp năm mùa màng thất bát, đói kém, chiến tranh, loạn lạc… thì ngày giỗ cha có khi chỉ có nén hương, chén nước, bát cơm, quả trứng gọi là “cúng cáo”, nhớ ngày kỵ. Như thế không có gì là trái đạo lý. Bởi tín ngưỡng thờ cúng của người Việt không câu nệ mâm cao cỗ đầy, ” Bắt thiếu giỗ, không ai bắt cỗ lưng“. Thế nhưng ba ngày Tết lại là chuyện khác. Người ta có thể túng thiếu, quanh năm nhịn đói, nhịn thèm, nhưng ba ngày Tết cũng phải chạy vạy bằng được để ít nhất không được ăn ngon cũng phải ăn no, hoặc có gì đó khác ngày thường.

Có câu ” Giàu hay nghèo, ngày ba mươi Tết thịt treo trong nhà“, hay ” Đói cho chết, ngày Tết cũng phải no“.

Ngày Tết được ăn ngon, ăn no, mặc đẹp, vui vẻ, nhàn hạ thì hy vọng cả năm cũng sẽ được như vậy. Bởi thế, Tết đến người ta không chỉ ăn cho no bụng mà còn ăn để lấy may cả năm.

Trong câu thành ngữ ” Đói giỗ cha no ba ngày Tết” dân gian đưa ra ngày rất quan trọng là ngày giỗ cha để so sánh, khẳng định một ngày khác còn quan trọng hơn nhiều, đó là ngày Tết, Tết là ngày quan trọng nhất trong tất cả những dịp lễ quan trọng trong năm; Có thể bị đói vào ngày giỗ cha nhưng ba ngày Tết dứt khoát phải được no.

Tết không chỉ ý nghĩa với người sống mà còn với cả ông bà, tổ tiên. Kẻ ăn mày đến ngày giỗ cha có khi không có gì để cúng, nhưng Tết đến cũng phải cố tìm cách có được bữa tươm tất, no bụng. Không ai muốn (và không thể) “khất” được cái Tết. Không thể nhịn đói nằm co khi cả đất trời, thiên hạ đều náo nức đón Tết, vui Xuân. Đó chính là sự đặc biệt của cái Tết, đặc biệt hơn tất cả những ngày đặc biệt trong năm.

Dịch nghĩa câu Bắt thiếu giỗ không ai bắt cỗ lưng: Nếu con cháu quên ngày giỗ của ông bà cha mẹ thì thật đáng trách, nhưng nhớ đến ngày giỗ thì dù cỗ bàn cúng giỗ có đơn sơ thì không ai trách điều này.Bắt: là bắt lỗi, trách mắng.Cỗ lưng: lưng tức là vơi, lưng lửng, ở đây là mâm cỗ vơi, đơn giản, không tươm tất, thịnh soạn.

Cập nhật thông tin chi tiết về Ngày “Vía Thần Tài” Nên Cúng Như Thế Nào Để Cả Năm Rước Lộc trên website Apim.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!