Xu Hướng 2/2023 # Miếu Bà Ở Phước Tân # Top 9 View | Apim.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Miếu Bà Ở Phước Tân # Top 9 View

Bạn đang xem bài viết Miếu Bà Ở Phước Tân được cập nhật mới nhất trên website Apim.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Ngày cúng vía Bà 24.4 âm lịch (15.6)

Lạ là bởi, miền đất này trước kia còn thuộc xã Ninh Điền – vùng chiến tranh quyết liệt giữa quân dân cách mạng Châu Thành với các thế lực ngoại xâm. Từ kháng chiến chống Pháp đến kháng chiến chống Mỹ, rồi qua chiến tranh biên giới Tây Nam, vậy mà ngay cả một ngôi miếu nhỏ cũng ngoan cường tồn tại. Miếu đã bao lần bị đạn bom huỷ hoại, nhưng vẫn hồi sinh trên đống hoang tàn gạch nát nhà tan.

Kể đến Ninh Điền, cũng nên nhắc lại, miền đất này được triều Nguyễn thiết lập từ năm Thiệu Trị thứ nhất (1841), thuộc tổng Giai Hoá (Từ điển địa danh hành chính Nam bộ – Nguyễn Đình Tư, NXB Chính trị Quốc gia).

Như vậy, thuở ban đầu, Ninh Điền (trong đó có Thành Long) là “người anh em” gần gũi với các xã nay thuộc huyện Bến Cầu. Cho đến tháng 5.1955, chính quyền Sài Gòn mới tách Ninh Điền về tổng Hoà Ninh, tổng chủ yếu để trở thành huyện Châu Thành trong hiện tại.

Trở lại với miếu Bà, ông Nguyễn Văn Cam là cháu nội của người có công tạo lập miếu cho hay, miếu đã có ít ra là từ bảy, tám mươi năm trước. Thoạt tiên là đời ông nội, sau đó tới đời cha là ông Năm Me (đã mất).

Nếu ông Năm còn thì nay đã tuổi 83. Chính ông Năm là người đã trồng những cây cổ thụ bao bọc ngôi miếu Bà. Đấy là hai cây bã đậu có đường kính gốc hơn 1 mét, cùng nhiều cây bạch đàn, xà cừ nay rợp bóng mát như một cụm rừng nho nhỏ.

Xung quanh, đất trời Thành Long còn trống thoáng, trải đến mênh mông, xa tắp màu xanh tươi cây trái của rẫy vườn. Xa xa về phía Nam là màu xanh mát rượi của nông trường mía Thành Long.

Vậy là miền đất này cũng đã được cha, ông mở mang khai phá từ rất sớm với quan niệm của dân gian: Bà Chúa Xứ là bà chúa của ruộng đồng (theo Trương Ngọc Tường- Đình Nam bộ- xưa và nay). Việc lập miếu thờ Bà luôn là công việc đầu tiên của những người đi khai phá miền đất mới.

Giữa một vùng chỉ có vườn cây, ruộng rẫy, dân cư còn thưa thớt, vậy mà miếu Bà ở Phước Tân vẫn được người dân (thường từ nơi khác đến) chăm lo nhang khói mỗi ngày.

Ông Nguyễn Văn Cam chính là người quản lý miếu, có nhà ở gần bên cho biết chẳng mấy khi mình phải lo toan, vì thường xuyên có bà con bán buôn dưới chợ Hoà Bình lên, lúc lại là chị bán vé số ngoài cửa khẩu ghé vào quét dọn và chăm lo nhang đèn, bông trái.

Ông chỉ còn phải lo mỗi một việc lớn thôi, là chuyện tu bổ, sửa sang ngôi miếu. Lần gần đây nhất vào tháng 4.2020, giữa lúc đại dịch Covid-19 hoành hành; trước nữa là lần xây lại miếu sau khi kết thúc chiến tranh biên giới Tây Nam.

Năm ấy, miếu đã bị đốt phá tan hoang, không gì còn sót lại. Khi xây lại, miếu cũng được quay về hướng núi Bà Đen. May mắn là các chiến sĩ Biên phòng cũng tìm lại được một cái lư hương, di vật của người xưa được đẽo tạo sơ sài bằng đá núi.

Nay miếu cũng đã đàng hoàng như nhiều ngôi thờ Bà ở các miền quê khác. Kích thước mặt bằng là 6m x 7,5m, chỉ có một gian và một vách ngăn chia làm hai nhịp trước, sau.

Nhịp trước là bàn thờ chính với bên phải đặt tượng thờ Bà Chúa Xứ Nguyên Nhung, bên trái đặt tượng Mẹ Địa Mẫu và năm vị Ngũ Hành nương nương theo quan niệm dân gian truyền thống. Đấy chính là tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt có ở khắp nơi trong nước.

Năm 2016, UNESCO đã công nhận di sản “thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu tam phủ của người Việt”. Tín ngưỡng này cũng đã được các tôn giáo tiếp thu trong giáo lý, lễ nghi để thu hút tín đồ. Chung quanh ngôi miếu chính còn có các ngôi miếu nhỏ thờ các ông Tà, binh gia tướng, Địa tạng vương và chiến sĩ…

Gian phía sau miếu chính có các bàn thờ tiền tổ, hậu tổ và cửu huyền thất tổ. Dường như không thiếu một vị nào trong tập hợp các thánh thần được tích hợp thờ trong các ngôi đình miếu miền Nam.

Lễ cúng lớn nhất ở miếu Bà Phước Tân là vào ngày 23 và 24 tháng 4 âm lịch, trùng với ngày lễ hội vía Bà ở núi Sam Châu Đốc, An Giang. May sao, năm Canh Tý 2020 có đến hai tháng 4 do nhuận, nên đến 24 tháng 4 nhuận, tức ngày 15.6, miếu lại tưng bừng lễ vía Bà.

Có lẽ đây cũng là lễ hội đầu tiên trên vùng Bắc Tây Ninh kể từ khi xảy ra dịch bệnh Covid-19. Cũng vì thế lễ hội miếu ở Phước Tân, dù chưa được như mọi năm nhưng đã trở lại trong trạng thái bình thường mới, với đủ các màu sắc, âm thanh làm nô nức lòng người.

Trên sân miếu bày la liệt các mâm vàng, hương và những toà tháp bằng giấy trang kim vàng chói; lại có những bàn bày quả phẩm, lễ vật, nhang đèn cùng với xôi, chè, chén hoa cúc vàng ươm nghi ngút hương hoa. Trên các ban thờ đầy ắp các vật phẩm cúng với trầu cau, bông, trái… Tuy là cúng chay, nhưng cũng có một mâm “tam sên” với đủ hột vịt, thịt heo, tôm khô cùng một con gà luộc. Mâm cúng này sau đó được dâng vào miếu thờ chiến sĩ.

Điều đặc biệt trong lễ vía Bà ở Phước Tân chính là nghi thức cúng lễ. Nghi lễ có cả màn hát chầu mời do các nghệ nhân lão thành thực hiện rất đậm màu lễ nghi truyền thống xa xưa.

Sau nữa là trống và lân do các toán trai tráng biểu diễn thật rầm rộ, tưng bừng. Song, điều người ta chờ đợi nhiều nhất vẫn là các màn múa mâm vàng, hát bóng. Khi ấy, các vật phẩm cúng gồm nhang đèn, hoa cúc, mâm vàng… được dâng lên ban thờ chính bằng những màn múa điệu nghệ và đẹp mắt. Ngoài các nghệ nhân tuổi cao, còn có cả “nam thanh, nữ tú” phô diễn những điệu múa biến ảo linh hoạt mà vẫn thành kính trang nghiêm… Trong khi ấy, dòng người vẫn đổ về miếu Bà.

Họ tiếp tục dâng lên những hoa thơm và trái ngọt của khắp miền quê kiểng Thành Long. Hớn hở, vui tươi nhưng từ tốn và trật tự. Một mùa bình thường mới đã trở về trong ngày đầu tiên cúng miếu Phước Tân. Ai cũng cầu mong cho “Phong điều vũ thuận, Quốc thái dân an”, để quê hương thật sự trở lại bình thường sau mấy tháng gian nan chống dịch.

TRẦN VŨ

Miếu “Bà Chúa Xứ” Ở Núi Sam

Phát hiện này vào những năm 40 thế kỷ trước, cho thấy nền văn minh đô thị đã có trước công nguyên tại tỉnh An Giang, cũng như hiện nay tỉnh còn được mọi người biết qua dãy Thất Sơn huyền bí cùng miếu Bà Chúa Xứ.

QUẦN THỂ THẤT SƠN HUYỀN BÍ

Nói đến Thất Sơn mọi người đều sẽ có ấn tượng, bởi nơi đây đầy những sự huyền hoặc và kỳ bí, vì gần hai trăm năm nay vùng Thất Sơn đã có nhiều chuyện truyền kỳ lẫn những lời đồn đại, và điều này khiến mọi người mang tính hiếu kỳ luôn luôn tìm đến với dãy Thất Sơn để tìm hiểu.(xem so dien thoai theo phong thuy)

Thực tế quần thể Thất Sơn không chỉ có bảy ngọn núi mà có đến mười hai ngọn. Chúng kết hợp thành một dãy núi nằm về phía tây bắc thị xã Châu Đốc, tỉnh An Giang bây giờ, vì thế mà mọi người còn gọi vùng Thất Sơn là “Năm Non Bảy Núi” để cho thấy dãy núi vẫn có đủ 12 ngọn khác nhau.

Theo địa dư triều đình nhà Nguyễn viết, vùng Thất Sơn có đến 12 ngọn núi, chính Tổng Đốc thành An Giang thời đó đã đặt cho cho các tên núi là : Tà Chiến, Trà Nghịch, Tượng, Thốt, Cà Âm, Năm Sư, Khẻ Lập, Ba Xoáy, Ngất Sung, Nam Vi, Đoài Tôn và Chơn Sum.

Sau này theo thói quen, người dân chỉ gọi có bảy núi chính gồm : Trà Sư, Két, Đài, Tượng, Bà Đội Om, Ông Tô và Cấm Sơn, vì núi Cấm bao gồm những ngọn Ba Xoáy, Ngất Sung, Chơn Sum, Nam Vi và Đoài Tôn, bởi chúng liên kết với nhau. Sở dĩ những ngọn núi này có những tên kể trên, do mọi người căn cứ theo hình dạng của mỏi ngọn mà đặt tên cho dễ kêu, dễ nhớ.

Về tên Bảy Núi (Thất Sơn) như đã giải thích, còn Năm Non là gì ? Theo các vị kỳ lão trong vùng kể lại, cách đây gần hai trăm năm :

– NÚI CẤM (Cấm Sơn) : một trong bảy núi có tiếng là linh thiêng nhất, nơi tập trung các vị chân tu và đạo sĩ. Bởi lẽ Cấm Sơn thời gian trước thế kỷ 19 còn rất hiểm trở, rừng già mịt mù u tịch, thú dữ xê dịch từng đàn và quanh núi có năm vồ (gò) cao đặc biệt, mỏi vồ mang một tên riêng như :

– VỒ BỒ HÔNG : nằm ở hướng tây. Theo lời truyền khẩu từ nhiều đời, trước khi mới phát hiện ra vồ này thì loài Bồ Hông (bò rừng cao lớn hơn bò nhà) sinh sống ở đây rất đông, nên mọi người mới đặt tên là vồ Bồ Hông.

– VỒ ĐẦU : nằm về hướng tây bắc, đi theo ngã chợ Thum Chưn lên, có lẽ lúc mới lên núi thấy ngay vồ này trước mắt, nên được đặt là Vồ Đầu là vậy.

– VỒ BÀ : người Việt gốc Khmer thường gọi vồ là Phụm Barech, trước đây thờ bà Chúa Xứ, nằm về hướng nam.(so dien thoai phong thuy)

– VỒ ÔNG BƯỚM : nằm phía bắc Cấm Sơn. Ngày xưa người ta thấy mỏi buổi sáng tinh sương, từ trong hang đá có một bầy bướm khồng lồ bay ra như một đám mây bay vào vùng rừng rậm.

Không biết đàn bướm ấy bay đến đâu nhưng chiều tối thì chúng lại bay trở về hang đá ấy. Dân đi rừng tìm củi thấy vậy nên tò mò tụ đến xem làm xôn xao cả vồ, khiến đàn bướm bay đi mãi không về hang động này nữa. Vì lẽ đó mà người ta đặt tên là Vồ Ông Bướm hay còn gọi là Điện Bướm.

– VỒ THIÊN TUẾ : vồ cuối cùng nằm ở phía đông, người Khmer gọi vồ là Phụm Pra Péal, nơi đây có rất nhiều cây thiên tuế, có cây sống trên vài trăm năm rất to lớn xum xuê.

Còn thời nhà Nguyễn tên năm vồ này là Ngất Sung, Ba Xoáy, Nam Vị, Đoài Tôn, Chơn Sum.

Núi Cấm chỉ cao trên 780 mét, còn chiều dài đến gần 7,5 km và rộng 6,5 km, nằm giữa 4 thôn Vĩnh Trung, Thuyết Nạp (tổng thành Ý, huyện Tịnh Biên), Nam Qui (tổng thành Lễ) và Châu Lang (Long Thành Ngãi, huyện Tri Tôn) núi nằm giữa 2 núi Bà Đội Om và núi Đài.

Theo giả thuyết, tên núi Cấm (Cấm Sơn) được mọi người hiểu như sau :

– Nhiều người cho rằng, núi này vào thế kỷ 19 có tên Thiên Cẩm Sơn (tức Gấm Nhà Trời), còn dân làng mộc mạc đọc trại theo giọng địa phương là Thiên Cấm Sơn (tức Trời Cấm Vào Núi). Sau đọc gọn chỉ còn Cấm Sơn.

– Còn những người sống vào thời kỳ Nguyễn Ánh – Tây Sơn cho biết : khi chúa Nguyễn Ánh bôn tẩu tránh quân Tây Sơn vào núi ẩn mình, Chúa Nguyễn đã cấm dân lên núi nên dân chúng gọi là núi Cấm.

Giả thuyết nào cũng có cái lý đúng, nhưng chắc chắn tên núi Cấm có từ cuối thế kỷ 19 cho đến nay.(xem tu vi so dien thoai)

CHÙA TÂY AN

Khi nói đến Thất Sơn là nói đến dãy núi nằm sát biên giới nước Campuchia, và không ai không biết đến núi Sam (trước đây tên Vồ Bà), núi cao chừng 250m, nơi có chùa Tây An, lăng Thoại Ngọc Hầu và miếu Bà Chúa Xứ nằm trên một trục đường chính, và có những liên hệ gắn liền nhau. Hằng năm vào ngày 24 tháng 4 ÂL là ngày vía Bà Chúa Xứ.

Ở núi Sam còn có tháp Phái và chùa Phước Điền, tạo nên một quần thể di tích văn hóa, tín ngưỡng thờ Phật và Thần của vùng đồng bằng sông Cửu Long.

Chùa Tây An trên đường đi đến miếu Bà Chúa Xứ, có nhiều điển tích, và có nhiều cách giải thích ai đã xây dựng chùa. Những điển tích đó như sau :

– Thoại Ngọc Hầu vâng lệnh vua Minh Mạng và Quan Tổng trấn Gia Định thành tức Tả quân Lê Văn Duyệt, qua Cao Miên “bảo hộ đất trấn Tây”. Ở quê nhà, vợ ông là bà Châu Thị Tế đêm ngày lo sợ chồng chết trận, lại là người mộ đạo sùng bái thần linh, bà van vái Trời Phật Thánh Thần gia hộ cho ông sớm được bình an trở về. Nếu lời cầu xin được như ý, bà sẽ lập chùa thờ Phật để tạ ơn.

Khi Thoại Ngọc Hầu từ trấn Tây (Cao Miên) bình an trở về, bà kể lại lời cầu khấn, ông liền cho xây chùa lấy tên Tây An Tự (ngôi chùa từ trấn Tây bình an trở về). Sau đó cho lính sang Cao Miên chở cốt Phật về thờ, theo truyền thuyết thì cốt tượng Phật này do vua Cao Miên tặng Thoại Ngọc Hầu vì ông có công dẹp yên giặc Xiêm La.(sim phong thủy)

Nhưng ông lo ngại việc tự ý xây chùa và đem cốt Phật từ đất Miên về thờ sẽ thấu đến triều đình. Sợ vua không phong sắc mà còn bị quở phạt, nên đặt thành tên miếu Bà Chúa Xứ để tránh phiền phức.

Thực tế tại vùng kinh Vĩnh Tế lúc ấy có cả chùa Tây An và cả miếu Bà Chúa Xứ, như vậy Thoại Ngọc Hầu xây dựng chùa Tây An hay xây dựng miếu Bà đang còn được mọi người tìm hiểu ?!

Theo sách Đại Nam Nhất Thống Chí, vùng này trong thời gian Thoại Ngọc Hầu trấn đóng đã có chùa Thụy Sơn ở địa hạt Thụy Sơn, và chùa Tây An ở địa hạt Vĩnh Tế, không ghi có miếu Bà Chúa Xứ, mặc dù từ chùa Tây An đến miếu Bà không xa chỉ trên một đoạn đường ngắn. Phải chăng vào đời vua Tự Đức (1848 – 1883), miếu Bà chưa hình thành hoặc miếu còn quá nhỏ nên không được ghi vào sách ?

Nên trong thời gian Thoại Ngọc Hầu trấn nhậm vùng Châu Đốc vào thời vua Minh Mạng (1820 – 1840), tương truyền cho rằng ông đã dựng lên chùa Tây An là đúng.

Nhưng có một tích khác lại quả quyết, Thoại Ngọc Hầu không xây dựng chùa Tây An mà ông dựng đền thờ Lễ Công ở hạt Châu Phú để thờ Thống suất chưởng cơ Nguyễn Hữu Cảnh. Còn chùa Tây An do Tổng đốc Doãn Uẩn xây dựng năm 1847, tức 18 năm sau khi Thoại Ngọc Hầu qua đời.

Cũng có thể nói, chùa Tây An do chính Thoại Ngọc Hầu xây dựng vào những năm 1820 – 1825, lúc đó nơi đây đã có miếu Bà bên đường, nên ông mượn tên miếu Bà để tránh tội. Sau này vào năm 1847, Tổng đốc Doãn Uẩn mới trùng tu lại chùa Tây An lớn như ngày nay.(sim hop tuoi)

LĂNG THOẠI NGỌC HẦU

Thoại Ngọc Hầu tên thật là Nguyễn Văn Thoại (1762-1829), quê huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam, người có công đóng góp nhiều vào triều đình nhà Nguyễn đời Gia Long. Năm 1818, ông có công tổ chức đào kinh Đông Xuyên, còn gọi là kinh Thoại Hà.

Năm 1819 lại tổ chức dân chúng đào kinh Vĩnh Tế, nhưng ông chỉ đào được 3 năm thì ngừng, do dân phu đau ốm và chết quá nhiều, sau đó Tả quân Lê Văn Duyệt giao lại cho Trương Tấn Bửu đến đào tiếp.

Sau khi Thoại Ngọc Hầu qua đời, ông được truy tặng hàm Đô Đốc tước Ngọc Hầu, nên sách sử ghi là Đô thống Thoại Ngọc Hầu, có lăng tẩm đặt trên núi Sam, và gần như đối diện với miếu Bà Chúa Xứ.

Vào dịp lễ vía Bà hằng năm, chiều 24 tháng 4 ÂL, từ bên miếu Bà Chúa Xứ, Ban Quản Trị miếu Bà mặc lễ phục chỉnh tề sang Lăng thỉnh sắc ông qua Miếu dự lễ hội.

Đoàn thỉnh sắc Thoại Ngọc Hầu rất trang nghiêm, có lân dẫn đường rồi đến các vị chức sắc trong miếu Bà, các kỳ lão địa phương.(y nghia so dien thoai)

Đi sau các học trò lễ sắp thành hai hàng dọc, tay cầm cờ, cầm phướn đi hầu trước và sau Long đình, có lọng phủ do bốn người khiêng. Khi vào trong lăng, mọi người dâng hoa niệm hương tế lễ rồi thỉnh bốn bài vị lên Long đình rước về miếu Bà. Bốn bài vị gồm :

– Bài vị Đô thống Thoại Ngọc Hầu

– Bên trái bài vị bà chánh phẩm Châu Thị Tế

– Bên phải bài vị bà nhị phẩm Trương Thị Miệt

– Cuối cùng là bài vị các Công đồng

Khi thỉnh sắc về đến miếu Bà, các bài vị trên được an vị tại ngay chánh điện. Và ở đấy suốt thời gian tổ chức lễ vía Bà Chúa Xứ diễn ra.

Đến chiều ngày 27 tháng 4 ÂL như lúc thỉnh, các hương chức, các kỳ lão, học trò lễ vẫn cờ, phướn, Long đình tề tựu đưa sắc và các bài vị trở về Lăng Đô thống.(phong thuy sim)

Nguồn: Phongthuysim.vn

Đại Lễ Kỳ Yên Đình Tân Phước Tây

Đại lễ Kỳ Yên đình Tân Phước Tây

Đình Tân Phước Tây, xã Tân Phước Tây, huyện Tân Trụ, tỉnh Long An, ra đời cùng với quá trình khai hoang mở đất lập làng của lưu dân người Việt trên vùng đất này vào đầu thế kỷ XIX. Đình được phong sắc thần từ sớm nhưng do bị mất, nên vào năm Tự Đức thứ 5 (1852), đình được phong sắc lại. Cũng như các đình làng khác ở Nam Bộ, Đại lễ Kỳ yên đình Tân Phước Tây diễn ra hàng năm để tưởng nhớ những bậc tiền bối đã khai phá lập nên xóm làng, những vị có công trong việc mở mang bờ cõi và cầu an cư lạc nghiệp, mưa thuận gió hòa.

Lễ cúng Kỳ yên là cổ lệ với nguồn gốc từ miền Bắc đã có ở đình từ xa xưa, diễn ra từ  ngày 15 đến 17 tháng Chạp hàng năm. Theo lệ, cứ 3 năm, Ban quý tế đình làm lễ tế long trọng và quy mô với đầy đủ nghi thức, gọi là Đại lễ Kỳ yên đình Tân Phước Tây. Về thời điểm tổ chức, theo các vị cao niên ở địa phương là ngày thôn Tân Phước Tây thỉnh sắc thần vua ban về an vị tại đình. Lễ vật cúng Thành hoàng bổn cảnh ở đình là những vật phẩm của địa phương, như: xôi, thịt, trà, rượu, bánh trái và con vật tế thần phải là con heo sống,…

Ngày 15 tháng Chạp diễn ra lễ Khai môn thượng kỳ và lễ Mộc dục. Lễ Khai môn thượng kỳ được cử hành vào lúc 9 giờ (giờ Tỵ). Đây là nghi lễ mở cửa chính của đình, bày biện trang trí, quét dọn, làm vệ sinh khu vực xung quanh đình và treo cờ, treo đèn, chọn lựa hoa quả đan kết hình tượng tứ linh trang trí trên các hương án thờ thần. Thành phần tham gia hành lễ gồm: Chánh tế, 02 bồi tế và 16 vị chấp sự phụ trách các bàn nghi, mõ, chiêng, trống, treo cờ và mở cửa đình. Sau đó, lễ Mộc dục được tiến hành vào lúc 11 giờ. Nghi thức này được tiến hành trang nghiêm: lau các bàn thờ, phơi sắc thần, y quan, mũ mão, hia của thần Thành hoàng đình. Sắc thần được phơi trên chiếc bàn nghi dài có trải vải đỏ hoặc giấy hồng đơn. Hai vị Đông xướng và Tây xướng sẽ xướng các phần việc, theo đó mà các vị tham gia lễ Mộc Dục phải thực hiện. Sau nghi thức dâng hương, dâng rượu, dâng trà, nghi thức Tắm thần vị được cử hành với việc Chánh tế, Bồi tế và Chấp sự thỉnh sắc thần và Y quan từ Chánh điện đi ra và tiến đến sân đình, rồi đặt lên bàn nghi để phơi sắc Thần, lau Y quan và mão cân. Những người thực hiện nghi thức này đứng trong vòng lụa đỏ bao quanh, không cho người bên ngoài nhìn thấy, bởi quan niệm sắc thần được xem là vật thiêng trong đời sống tâm linh của cộng đồng. Sau lễ Mộc dục, sắc thần được thỉnh trở lại bàn Chánh điện thờ. Đến 20 giờ cùng ngày, nghi thức tụng kinh cầu an được tiến hành tại tiền sảnh đình do Chư tăng và Phật tử chùa Bửu Long (còn gọi là chùa Thầy Sen, thị trấn Tân Trụ) phụ trách với ý nghĩa cầu an cho dân chúng.

15 giờ chiều ngày 16 tháng Chạp, diễn ra lễ Tiền hiền, Hậu hiền và Tiền vãng, Hậu vãng. Đây là lễ tế các vị tiền nhân có công lập làng, lập đình và các anh hùng liệt sĩ ở địa phương. Nghi thức đọc chúc văn được thầy lễ thực hiện sau nghi tuần dâng rượu thứ nhất. Khi xong lễ, các vị làm lễ đốt chúc văn và vàng mã rồi kết thúc lễ cúng. Đồng thời với lế tế, bên ngoài cũng lập hai ban cúng Thổ chủ, Thổ thần và thập loại cô hồn.

Lễ Tỉnh sanh diễn ra lúc 19 giờ, với việc lễ giết một con vật sống để tế thần linh. Con vật tế phải kêu thành tiếng, vì người xưa quan niệm, tiếng kêu ấy thay lời trăm họ cầu mong thần linh giáng phúc cho mưa thuận gió hòa, quốc thái dân an. Trước khi tiến hành lễ phải chuẩn bị đầy đủ các vật dụng như: bàn kê trước tiền án để đặt con heo sống, 1 con dao thọc huyết, 1 cái thau đựng huyết, 1 cái tô có đĩa đậy, 01 đĩa trên có 3 lá vàng mã, 3 cây nhang, 1 cái kéo, 1 cái mâm đựng dùi mõ, chiêng trống và 1 cái mâm để dao “khai đao”. Trước đây, con trâu làm vật tế với nghi thức “sát ngưu tế thần”, ngày nay thay bằng heo. nhưng được chọn lựa kỹ lưỡng (là heo đực, tuyền sắc – chỉ thuần một màu duy nhất đen hoặc trắng, không bị khuyết tật dị dạng, có trọng lượng khoảng 70 -80kg và được tắm rửa sạch sẽ). Khi nghe xướng “chiết tửu”, chấp sự rót ra một chung rượu lớn trao cho chánh tế; chánh tế đổ rượu vào miệng cho con vật tỉnh táo, vỗ vào đầu cho nó kêu thành tiếng, dùng kéo cắt 1 chùm lông gáy của nó bỏ vào bát để sẵn, rồi cầu nguyện, đốt vàng mã; tiếp đến, Giám đao uống một ly rượu và thọc huyết vật tế. Vật tế được làm sạch và mang lên để trên chiếc bàn trước tiền án. Riêng bát đựng lông và huyết heo thì đặt ở phía dưới bàn tiền án để chuẩn bị cho nghi lễ Ế mao huyết (hay Yểm mao huyết).

Lễ Ế mao huyết là việc mang bát lông và huyết heo đem chôn dưới bàn thờ Thần nông – một nghi thức phổ biến trong lễ Kỳ yên ở đình làng Nam Bộ, diễn ra vào lúc 20 giờ nhằm phục hồi sinh khí, cầu mong cho cây lành trái ngọt, ruộng vườn tốt tươi. Sau khi thực hiện các nghi lễ ở bàn tiền án với sự tham gia của dàn nhạc lễ, bát huyết được người chấp sự mang ra bàn thờ Thần nông để thực hiện nghi thức đốt hương, nguyện hương, thượng hương và quỳ lạy trước khi dâng 3 tuần rượu, rồi đặt bát huyết xuống đất và lấp lại. Sau đó dâng trà ở bàn thờ Thần Nông, khi nghe xướng “Phần hóa”, chủ tế đốt giấy vàng mã, kết thúc phần lễ Ế Mao huyết.

Lễ chính trong đại lễ Kỳ yên ở đình Tân Phước Tây là lễ Đàn cả (Đoàn cả) để tế thần tạ ơn thần đã cho mưa thuận gió hòa, dân khang vật thịnh, thường được tổ chức vào lúc giữa đêm – thời điểm thanh tịnh nhất (hiện nay đình Tân Phước Tây tổ chức vào lúc 21 giờ). Lễ vật gồm: heo sống, trầm, đèn, nhang, rượu, trà, nước. Trước bàn tiền án có 2 chiếc mâm: một đựng 3 chiếc dùi trống, chiêng, mõ; một đựng kiếm sanh lịnh. Sau khi thực hiện các nghi thức dâng hương, dâng rượu, dâng hiến quả phẩm, dâng trà, đọc chúc văn bằng chữ Hán (nội dung thể hiện ý nguyện của nhân dân về việc cầu an và kể lại công đức của thần linh), con heo tế thần được cắt một ô vuông vùng thịt đùi trước và đùi sau để tế thần; kết thúc là nghi thức đốt chúc văn và vàng mã.

Sang ngày 17 tháng Chạp, lễ Tế hậu sở được cử hành lúc 19 giờ để cúng tế Tiền hiền, Hậu hiền, Tiền vãng, Hậu vãng và thập loại cô hồn,… có ý nghĩa thiết thực, quan trọng trong việc hướng con người về đạo lý trọng nghĩa, trọng tình, nhớ ơn tổ tiên, tiền nhân, gắn kết con người với nhau trong cộng đồng.

Ngoài ra, trong các kỳ Đại lễ Kỳ yên đình Tân Phước Tây còn có một số nghi lễ khác như: lễ Xây chầu, lễ Đại bội, Hát bội, lễ Tôn vương, Tôn soái.

Lễ Xây chầu có tên gọi là lễ khai tràng, là một trong những nghi thức long trọng trong ngày lễ Kỳ Yên đình Tân Phước Tây tối ngày 17. Lễ Xây chầu có 3 loại: Xây chầu võ, Xây chầu văn và Xây chầu bán võ – bán văn căn cứ theo cử chỉ, cách ăn mặc và cách thức đọc các câu chúc. Trước ngày xây chầu, trống chầu phải được sơn và vẽ mới hình thái cực ở giữa mặt trống, đặt trống chầu theo hướng đại lợi và lấy khăn đỏ che kín mặt trống chầu (có ý nghĩa che thái cực vì thái cực là cõi u tối, hỗn mang), kể từ lúc này không ai được xê dịch trống chầu để giữ tính tịnh theo quan niệm của vô cực.

Sân khấu hát bội được dựng quay mặt vào đình. Trên sân khấu có bàn nghi bài trí lư hương, bộ chân đèn và khay trầu rượu. Roi trống chầu được thỉnh từ bàn thờ hội đồng và được đặt trang trọng trên khay, có thể đặt ở bên tả hoặc bên hữu sân khấu. Địa điểm hành lễ diễn ra tại chánh điện trước bàn thờ Hội đồng và trên sân khấu võ ca. Nghi lễ xây chầu được mở đầu tại chánh điện trước bàn thờ Hội đồng, Ban hành lễ tiến hành nghi thức dâng 1 tuần hương, 3 tuần rượu (đủ tam hiến), 1 tuần trà. Sau đó lễ 4 lễ, 3 vái, vắt vạt áo trước lên vai hô to: “phụng lệnh” (tuân theo lệnh thần) rồi lấy gươm lệnh đeo vào vai, thỉnh roi chầu được đặt tại bàn thờ thần ra bàn nghi trên sân khấu. Tại sân khấu, vị thủ cổ và các chấp sự thực hiện tiếp nghi thức tẩy trước chú (tẩy trược): vị thủ cổ tẩy trược cầm bông trang bỏ vào tách rượu đứng tại trống chầu giũ, rải rượu ra 4 hướng. Tiếp theo là nghi thức cầm roi khắc trống chầu: khi nghe lễ sinh xướng “Phế cân”, vị thủ cổ lấy tấm vải đỏ phủ trên mặt trống, lau sơ mặt trống rồi bao lấy roi chầu, roi họa trên mặt trống chầu chữ bùa Lỗ Ban, sau đó dùng roi viết lên trống các câu: “Hà an xã tắc”, “Khương trung an thới”, “Lê thứ thái bình”. Rồi đến nghi thức trịch mộc chú (khắc trống chầu) khắc vào trống 3 lần, mỗi lần độc một câu mang ý nghĩa chúc tụng “Thiên lai giáng phúc”, “Chủ địa nhi lai”, “Vạn thần lai ủng”. Sau đó vị thủ cổ đánh tiền đả 37 tiếng, trung đả 67 tiếng và hậu đả 99 tiếng. Theo cổ lệ phải đánh 3 hồi 300 roi chia ra nhất hồi 80, nhị hồi 100 và tam hồi 120. Ngày nay, số lượng roi chầu đã giảm bớt còn 36 – 72 – 108 hoặc 20 – 40 – 60 tùy theo sức khoẻ người thủ cổ.

Sau lễ Xây chầu là lễ Đại bội. Đại bội có nghĩa là lễ cúng lớn có trò diễn. Nếu như lễ Xây chầu thể hiện ý nghĩa khai thông thái cực, hòa hợp lưỡng nghi, sinh hóa tam tài, được diễn đạt bằng những hồi trống và những tiếng trống, thì lễ Đại bội cụ thể hóa lễ Xây chầu bằng hình tượng, điệu múa và lời nói qua các nghi tiết: nhứt thái (nhứt trụ), lưỡng nghi, tam tài, tứ tượng, ngũ hành, bát quái trình tự với số lượng người diễn xướng: 1, 2, 3, 4, 5, 8 biểu diễn tiết mục trên sân khấu. Trong lễ, đào kép gánh hát bội sẽ thực hiện các lễ tiết như: lễ khai thiên tịch địa (đình Tân Phước Tây gọi là điềm hương); lễ Xang (xoan = múa) nhật nguyệt tượng trưng cho lưỡng nghi, âm dương giao hòa sinh ra vạn vật; lễ Tam tài (còn gọi là lễ Tam đa, Tam tinh hay lễ Chúc thánh, Chúc thọ); lễ tứ thiên vương: tượng trưng cho tứ tượng tức thái dương, thiếu âm, thái âm, thiếu dương; lễ Đứng cái (còn gọi là trò Đại bội) để tượng trưng cho ngũ hành (kim, mộc, thủy, hỏa, thổ), các đào thài múa quạt ca ngợi đất nước xinh đẹp, chúc thọ toàn dân, bốn mùa tượng trưng mai, lan, cúc, trúc quanh năm tươi sắc; lễ Bát tiên hiến thọ tượng trưng cho bát quái gồm các quẻ: càn, khảm, cấn, chấn, tốn, ly, khôn, đoài theo quan niệm dịch lý của Nho giáo; lễ Gia quan tấn tước (còn gọi là lễ gia quan phổ tước) cầu chúc cho việc thăng quan tiến chức trong xã hội ngày xưa. Đêm diễn còn có sự tham gia của vị thủ cổ cầm chầu để trực điểm trống chầu mỗi khi hát, diễn hay. Kết thúc đêm diễn, nếu đêm sau còn hát bội, đánh trống chầu 3 hồi 9 tiếng, nếu không đánh hồi chầu, tiễn thần với 3 hồi trơn.

Ngoài ra, còn có một số nghi lễ phụ được tổ chức trong ngày Đại lễ Kỳ yên như: nghi lễ rước Tổ hát bội khi gánh hát đến đình và lễ cúng miễu ở các miếu Tiên sư, Ngũ Hành và miếu Điền.

Về Thăm Miếu Bà Chúa Xứ Linh Thiêng Ở Núi Sam

TP.Châu Đốc An Giang là địa danh có chiều dài lịch sử vàng son, gắn liền với truyền thuyết ly kỳ về Bà Chúa Xứ núi Sam – nơi có Lễ hội Bà Chúa Xứ vào tháng Tư âm lịch hàng năm.

Chung tín ngưỡng thờ Mẹ

Châu Đốc cách chúng tôi khoảng 250km, là một thành phố trực thuộc tỉnh An Giang, nằm bên ngã ba của sông Châu Đốc và sông Hậu sát biên giới Việt Nam với Campuchia.

Nhà nghiên cứu văn hóa Khmer Đỗ Đình Bằng cho biết: “Do ảnh hưởng Phật giáo, Lão giáo cùng với các tín ngưỡng thờ đạo Mẫu (tức thờ Mẹ) nên Bà Chúa Xứ trở thành một dạng như Phật Bà Quan Âm (đối với người Việt), Bà Mã Hậu hay Thiên Hậu Nương Nương (đối với người Hoa). Bà được tin tưởng đến độ có rất nhiều huyền thoại về quyền lực linh thiêng của Bà trong việc ban phúc, giáng họa “Cho con người”. Theo chiều dài lịch sử mở nước của người Việt, những huyền thoại ly kỳ về ngôi miếu thờ Bà Chúa Xứ cũng ngày một nhiều hơn, phản ánh đức tin vào các thế lực siêu nhiên và luật nhân quả ở đời.

Ngày nay về Châu Đốc, khách du lịch không thể không một lần đến chiêm bái, thắp hương ở miếu Bà Chúa Xứ – một địa điểm du lịch văn hóa tâm linh nổi tiếng của An Giang. Miếu Bà Chúa Xứ Núi Sam nằm trên vùng đất trũng phía Tây bắc núi Sam, lưng quay về vách núi, chính điện nhìn ra con đường và cánh đồng làng. Kiến trúc có dạng chữ “quốc”, hình khối tháp dạng hoa sen nở, mái tam cấp ba tầng lầu, lợp ngói đại ống màu xanh, góc mái vút cao như mũi thuyền đang lướt sóng.

Trông từ xa, ngôi miếu Bà như một bông sen xanh ngự uy nghi trên cao để người đời hướng về bái vọng. Lại gần, khách sẽ thấy ngỡ ngàng khi chiêm ngưỡng các hoa văn ở cổ lầu chính điện, thể hiện đậm nét nghệ thuật Ấn Độ. Phía trên cao, các tượng thần khỏe mạnh, đẹp đẽ giăng tay đỡ những đầu kèo. Các khung bao, cánh cửa đều được chạm trổ, khắc, lộng tinh xảo và nhiều liễn đối, hoành phi ở nơi đây cũng rực rỡ vàng son.

Miền đất trù phú

Ngoài miếu Bà Chúa Xứ, Châu Đốc còn rất nhiều di tích, thắng cảnh bạn không thể bỏ qua như chùa Tây An cổ tự, Lăng Thoại Ngọc Hầu hay còn gọi là Sơn Lăng, là một công trình kiến trúc cổ tiêu biểu thời phong kiến và là một di tích lịch sử được xếp hạng cấp quốc gia. Ngoài ra còn có Long Sơn Tự là một ngôi chùa đẹp với nhiều tượng Phật, Bồ Tát uy nghi, tự tại như đang nhìn bao quát thế gian. Đi hết một vòng, bạn sẽ tiếp tục đến bến tàu Du Lịch Châu Đốc để đi thăm làng Chăm Châu Giang và làng bè cá Châu Đốc trên những chiếc đò máy chạy dọc dòng sông Hậu hiền hòa đầy thơ mộng.

Đến Châu Đốc nhớ đừng quên ghé qua các hàng ăn bán món “đặc sản” của vùng núi Sam như bò xào lá giang, gỏi sầu đâu trộn khô cá lóc, canh chua cá ba sa bông điên điển…

Vòng trở lại, du khách đừng quên ghé chợ Châu Đốc- nơi được mệnh danh là “vương quốc mắm”, vì đây cũng là một đặc sản của Châu Đốc- miền đất trù phú nhờ có con sông Hậu nặng phù sa. Nơi đây có rất nhiều sạp bán mắm và khô đủ loại như mắm cá linh, cá chốt, mắm trèn…

Nhưng đặc biệt hơn cả là “mắm thái” đây là món ăn rất tinh tế bằng sự pha trộn tài tình từ thịt phi-lê mắm cá lóc với đu đủ thái sợi. Ngoài ra du khách còn có thể mua khô bò, khô rắn, khô cá sặc, khô cá tra phồng, lạp xưởng bò … tất cả hội tụ về đây tạo cho Châu Đốc trở thành xứ sở của các món ăn đặc sản. Chợ còn có các loại đặc sản như: Đường thốt nốt, kẹo me, thạch thốt nốt, các loại kẹo để khách mua về làm quà.

Cập nhật thông tin chi tiết về Miếu Bà Ở Phước Tân trên website Apim.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!