Xu Hướng 2/2024 # Miếu Bà Chúa Xứ Mỹ Đông Di Tích Lịch Sử Cách Mạng Cấp Quốc Gia Tỉnh Sóc Trăng # Top 6 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Miếu Bà Chúa Xứ Mỹ Đông Di Tích Lịch Sử Cách Mạng Cấp Quốc Gia Tỉnh Sóc Trăng được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Apim.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Miếu Bà Chúa Xứ Mỹ Đông hay còn được gọi là Miếu Bà Mỹ Đông, toạ lạc tại ấp Mỹ Đông 1, xã Mỹ Qưới, huyện Ngã Năm, là một trong tám di tích cấp quốc gia của tỉnh, cách thành Phố Sóc Trăng 60 km về hướng Đông – Bắc, cách thị trấn Phú Lộc, huyện Thạnh Trị khoảng 20km.

Cổng chính vào Miếu Bà Chúa Xứ Mỹ Đông

     Ngôi miếu Bà Chúa Xứ Mỹ Đông là nơi lưu dấu sự ra đời Chi bộ Đảng Cộng Sản Việt Nam đầu tiên tỉnh Sóc Trăng – Chi bộ Mỹ Quới vào tháng 6/1930. Nơi đây được chọn làm điểm để chi bộ sinh hoạt, do có địa thế cách trở, đảm bảo được bí mật. Từ ngày thành lập chi bộ, đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất, Chi bộ Đảng của Mỹ Qưới luôn đi đầu trong phong trào cách mạng.

     Khi đất nước hòa bình, bà con ở đây đã cùng nhau dựng lại ngôi miếu bằng tre gỗ và lợp lá để thờ cúng. Sau đó, tỉnh được Trung ương đầu tư kinh phí khôi phục lại ngôi miếu và xây thêm một số hạng mục khác. Hiện nay, nhà trưng bày hiện vật, cổng chính, hàng rào đã xây dựng hoàn thiện, đưa vào phục vụ tốt nhu cầu sinh hoạt tâm linh tín ngưỡng của người dân, cũng như tìm về với lịch sử của tỉnh Sóc Trăng của du khách gần xa. Cách ngôi miếu khoảng 200m về hướng Bắc là khu mộ của đồng chí Trần Văn Bảy-người đảng viên kiên cường, cũng là người lãnh đạo của Chi bộ Mỹ Quới (di hài được cải táng từ Côn Đảo về năm 1998) và song thân của Ông.

Khuôn viên Miếu Bà Chúa Xứ

     Miếu Bà Chúa Xứ Mỹ Đông mang ý nghĩa lịch sử cách mạng vô cùng to lớn. Những Đảng viên của chi bộ hoạt động nơi đây đã góp phần đưa ánh sáng cách mạng và đường lối chính sách của Đảng đến với mọi tầng lớp nhân dân trong tỉnh. Lãnh đạo tỉnh thường xuyên chọn nơi đây làm địa điểm tổ chức kỷ niệm ngày thành lập Đảng hàng năm, nhằm ôn lại truyền thống cách mạng và động viên giáo dục tinh thần cách mạng cho thế hệ hôm nay và mai sau. Lễ vía Bà được tổ chức long trọng hằng năm vào ngày 16/2âl, thu hút đông đảo người dân địa phương và du khách các nơi về tham dự. Năm 2003, Bộ Văn hoá Thông tin, nay là Bộ VHTTDL ban hành Quyết định 62 công nhận Miếu Bà Chúa Xứ Mỹ Đông là di tích lịch sử cấp quốc gia ./.                                                     

KP

Miếu Bà Chúa Xứ Mỹ Đông (Sóc Trăng): Di Tích Lịch Sử Cấp Quốc Gia

Miếu Bà Chúa Xứ Mỹ Đông (Sóc Trăng): Di tích lịch sử cấp quốc gia

Miếu Bà Chúa Xứ Mỹ Đông hay còn được gọi là Miếu Bà Mỹ Đông, toạ lạc tại ấp Mỹ Đông 1, xã Mỹ Qưới, huyện Ngã Năm, là một trong tám di tích cấp quốc gia của tỉnh, cách thành Phố Sóc Trăng 60 km về hướng Đông – Bắc, cách thị trấn Phú Lộc, huyện Thạnh Trị khoảng 20km.

Ngôi miếu Bà Chúa Xứ Mỹ Đông là nơi lưu dấu sự ra đời Chi bộ Đảng Cộng Sản Việt Nam đầu tiên tỉnh Sóc Trăng – Chi bộ Mỹ Quới vào tháng 6/1930. Nơi đây được chọn làm điểm để chi bộ sinh hoạt, do có địa thế cách trở, đảm bảo được bí mật. Từ ngày thành lập chi bộ, đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất, Chi bộ Đảng của Mỹ Qưới luôn đi đầu trong phong trào cách mạng.

Khi đất nước hòa bình, bà con ở đây đã cùng nhau dựng lại ngôi miếu bằng tre gỗ và lợp lá để thờ cúng. Sau đó, tỉnh được Trung ương đầu tư kinh phí khôi phục lại ngôi miếu và xây thêm một số hạng mục khác. Hiện nay, nhà trưng bày hiện vật, cổng chính, hàng rào đã xây dựng hoàn thiện, đưa vào phục vụ tốt nhu cầu sinh hoạt tâm linh tín ngưỡng của người dân, cũng như tìm về với lịch sử của tỉnh Sóc Trăng của du khách gần xa. Cách ngôi miếu khoảng 200m về hướng Bắc là khu mộ của đồng chí Trần Văn Bảy-người đảng viên kiên cường, cũng là người lãnh đạo của Chi bộ Mỹ Quới (di hài được cải táng từ Côn Đảo về năm 1998) và song thân của Ông.

Miếu Bà Chúa Xứ Mỹ Đông mang ý nghĩa lịch sử cách mạng vô cùng to lớn. Những Đảng viên của chi bộ hoạt động nơi đây đã góp phần đưa ánh sáng cách mạng và đường lối chính sách của Đảng đến với mọi tầng lớp nhân dân trong tỉnh. Lãnh đạo tỉnh thường xuyên chọn nơi đây làm địa điểm tổ chức kỷ niệm ngày thành lập Đảng hàng năm, nhằm ôn lại truyền thống cách mạng và động viên giáo dục tinh thần cách mạng cho thế hệ hôm nay và mai sau. Lễ vía Bà được tổ chức long trọng hằng năm vào ngày 16/2âl, thu hút đông đảo người dân địa phương và du khách các nơi về tham dự. Năm 2003, Bộ Văn hoá Thông tin, nay là Bộ VHTTDL ban hành Quyết định 62 công nhận Miếu Bà Chúa Xứ Mỹ Đông là di tích lịch sử cấp quốc gia .

Miếu Bà Chúa Xứ Mỹ Đông

MIẾU BÀ CHÚA XỨ MỸ ĐÔNG

1. Tên di tích: Miếu bà chúa xứ Mỹ Đông 2. Loại công trình: Đền miếu 3. Loại di tích: di tích Lịch sử cách mạng 4. Quyết định: Đã xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia theo quyết định số 73/QĐ.BVHTT, ngày 23/8/2004 của Bộ VHTT 5. Địa chỉ di tích: Thị Trấn Ngã Năm, huyện Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng 6. Tóm lược thông tin về di tích Miếu Bà Chúa xứ Mỹ Đông, gọi theo dân gian là miếu Bà Mỹ Đông. Miếu nằm bên bờ Bắc rạch Mỹ Đông, thuộc ấp Mỹ Đông 1, xã Mỹ Quới, huyện Thạnh Trị (nay thuộc huyện Ngã Năm), cách thị trấn Phú Lộc 20km và cách thành Phố Sóc Trăng 60 km về hướng Đông – Bắc. Từ thị trấn Phú Lộc (huyện Thạnh Trị) quẹo phải dọc theo hương lộ 26 thêm một chặng đường 20km nữa là đến di tích. Đi đường thủy, sau khi đã đến thị trấn Phú Lộc, có thể đi bằng ghe xuồng theo hai đoạn kênh Toàn Rê và kênh 19/5 khoảng 20km là đến di tích rất tiện lợi. Giữa năm 1930, Chi bộ Đảng làng Mỹ Quới – Chi bộ Đảng đầu tiên của tỉnh Sóc Trăng được thành lập tại chợ Mỹ Quới. Cử đồng chí Trần Văn Bảy làm bí thư Chi bộ và lấy Miếu Bà Chúa Xứ Mỹ Đông làm địa điểm để chi bộ sinh hoạt.

Ngay từ khi nhận nhiệm vụ bí thư chi bộ, đồng chí Trần Văn Bảy đã đề ra kế hoạch hoạt động cho chi bộ, phân công cụ thể, luôn bám sát phong trào cơ sở để nắm chắc tình hình, thường xuyên xuống trực tiếp trao đổi, bồi dưỡng hướng dẫn thêm lý luận chính trị và thực tiễn vận động quần chúng. Thông qua các hình thức hoạt động công khai như: tổ chức các lớp dạy võ, dạy nhạc cổ, dạy chữ quốc ngữ… Nhiều lớp huấn luyện bí mật được chi bộ mở liên tục với hình thức phân tán mỏng, đảm bảo được bí mật và an toàn cho từng học viên. Thông qua đó chi bộ chọn lọc và kết nạp ngày càng nhiều thanh niên ưu tú vào Đảng. Từ đó thúc đẩy phong trào cách mạng ngày càng phát triển lan rộng ra các nơi trong quận Phước Long. Chặng đường từ năm 1930 đến 1936, Chi bộ Mỹ Quới xuất sắc vượt qua mọi khó khăn để xây dựng cơ sở; trong khoảng thời gian này, nhiều cơ quan đảng ở các nơi trong quận lần lượt ra đời. Năm 1936, quận uỷ Phước Long thành lập, các đồng chí Lê Hoàng Chu, Trần Văn Bảy, Trương Quý Thể, Quảng Trọng Hoàng được bầu vào quận uỷ. Sau cuộc khởi nghĩa Nam kỳ nổ ra tại các nơi trong tỉnh ngày 23/11/1940, thực dân Pháp đã điên cuồng mở những cuộc càn quét với quy mô lớn để trả thù những người cách mạng yêu nước. Chúng đốt sạch, phá sạch và gây biết bao tội ác với nhân dân – Ngôi miếu Bà Mỹ Đông cũng bị bọn chúng đập phá san bằng. Sau giải phóng 30/4/1975, bà con ở ấp Mỹ Đông đã dựng tạm lại ngôi miếu bằng tre gỗ và lợp lá để thờ cúng. Năm 1997, tỉnh đầu tư kinh phí xây dựng nơi đây một tấm bia lưu niệm nơi thành lập Chi bộ Đảng đầu tiên của tỉnh Sóc Trăng. Ngày 27/11/2003 di tích Miếu Bà Mỹ Đông, xã Mỹ Quới, huyện Ngã Năm tỉnh Sóc Trăng được công nhận là di tích lịch sử cách mạng theo Quyết định số 62/2003/QĐ-BVHTT. Miếu Bà Chúa Xứ Mỹ Đông là một điểm sáng luôn sống mãi trong lòng Đảng bộ Sóc Trăng và đã trở thành nơi tổ chức kỷ niệm ngày thành lập Đảng hằng năm – một lễ hội truyền thống động viên giáo dục tinh thần cách mạng cho thế hệ hôm nay và mai sau./.

Em Hãy Thuyết Minh Về Di Tích Lịch Sử: “Miếu Bà Chúa Xứ Núi Sam”

Miếu Bà Chúa Xứ Núi Sam tọa lạc nơi chân núi Sam, trước thuộc xã Vĩnh Tế, nay thuộc phường Núi Sam, thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang, Việt Nam. Đây là một di tích (lịch sử, kiến trúc và tâm linh) quan trọng của tỉnh và của khu vực.Nguồn gốcCách đây khoảng 200 năm, tượng Bà (sau được gọi tôn là Bà Chúa Xứ) được dân địa phương phát hiện và khiêng xuống từ đỉnh núi Sam bằng 9 (có nguồn nói 12 hoặc hơn nữa) cô gái đồng trinh, theo như lời dạy của Bà qua miệng “cô đồng”, nên người dân đã lập miếu để tôn thờ .Có ý kiến cho rằng Thoại Ngọc Hầu hoặc vợ là bà Châu Thị Tế là người đã ban lệnh và hỗ trợ việc xây dựng miếu. Tuy khó xác minh, nhưng biết chắc là miếu ra đời sau khi vị quan này về đây trấn nhậm và kênh Vĩnh Tế đã hoàn tất (1824) mang lại lợi ích rõ rệt cho lưu dân và dân bản địaKiến trúcBan đầu miếu Bà Chúa Xứ Núi Sam được cất đơn sơ bằng tre lá, nằm trên vùng đất trũng phía tây bắc núi Sam, lưng quay về vách núi, chính điện nhìn ra con đường và cánh đồng làng.Năm 1870, ngôi miếu được xây dựng lại bằng gạch hồ ô dước. Năm 1962, ngôi miếu được tu sửa khang trang bằng đá miểng và lợp ngói âm dương. Năm 1965, Hội quý tế cho xây nới rộng nhà khách và làm hàng rào nhà chính điện của ngôi miếu. Năm 1972, ngôi miếu được tái thiết lớn và hoàn thành vào năm 1976, tạo nên dáng vẻ như hiện nay, và người thiết kế là hai kiến trúc sư Huỳnh Kim Mãng và Nguyễn Bá Lăng.Đến khi ấy, kiến trúc miếu có dạng chữ “quốc”, hình khối tháp dạng hoa sen nở, mái tam cấp ba tầng lầu, lợp ngói đại ống màu xanh, góc mái vút cao như mũi thuyền đang lướt sóng. Bên trong miếu có võ ca, chánh điện, phòng khách, phòng của Ban quý tế…Các hoa văn ở cổ lầu chính điện, thể hiện đậm nét nghệ thuật Ấn Độ. Phía trên cao, các tượng thần khỏe mạnh, đẹp đẽ giăng tay đỡ những đầu kèo. Các khung bao, cánh cửa đều được chạm trổ, khắc, lộng tinh xảo và nhiều liễn đối, hoành phi ở nơi đây cũng rực rỡ vàng son. Đặc biệt, bức tường phía sau tượng Bà, bốn cây cột cổ lầu trước chính điện gần như được giữ nguyên như cũ.Ở thời điểm năm 2009, thì miếu Bà Chúa Xứ Núi Sam là “ngôi miếu lớn nhất Việt Nam”Tượng Bà Chúa Xứ Núi SamKhi xưa, tượng Bà ngự trên đỉnh núi Sam, gần Pháo Đài. Chứng minh cho điều này là bệ đá Bà ngồi vẫn còn tồn tại (ảnh). Bệ đá có chiều ngang 1,60m; dài 0,3m, chính giữa có lỗ vuông cạnh 0,34m, loại trầm tích thạch màu xanh đen, hạt nhuyễn, không có ở địa phương.Theo nhà khảo cổ học người Pháp là Malleret đến nghiên cứu vào năm 1941, thì tượng Bà Chúa Xứ Núi Sam thuộc loại tượng thần Vishnu (nam thần), tạc dáng người nghĩ ngợi, quý phái, chất lượng bằng đá son, có giá trị nghệ thuật cao, được tạc vào cuối thế kỷ 6, và rất có thể đây một trong số hiện vật cổ của nền văn hóa Óc Eo [4].Sau này, nhà văn Sơn Nam cũng đã chép rằng: Tượng của Bà là pho tượng Phật đàn ông của người Khmer, bị bỏ quên lâu đời trên đỉnh núi Sam. Người Việt đưa tượng vào miễu, điểm tô lại với nước sơn, trở thành đàn bà mặc áo lụa, đeo dây chuyền. Và từ đó “Bà Chúa Xứ” là vị thần có quyền thế lớn ở khu vực ấy, xứ ấy…Cũng theo lời truyền miệng dân gian, thì khi xưa có một nhóm người đến quấy nhiễu nơi đây. Gặp tượng Bà, họ muốn lấy đi nhưng xê dịch không được nên tức giận đập gãy cánh tay trái của pho tượngChung quanh tượng Bà (đặt ở giữa chính điện), còn có bàn thờ Hội Đồng (phía trước), Tiền hiền và Hậu hiền (hai bên), bàn thờ Cô (bên phải, có thờ một tượng nữ thần nhỏ bằng gỗ), bàn thờ Cậu (bên trái, có thờ một Linga bằng đá rất to, cao khoảng 1,2m)…Theo sách Kỷ lục An Giang, 2009, thì tượng Bà là “pho tượng bằng đá sa thạch xưa nhất Việt Nam”, và “có áo phụng cúng nhiều nhất”Việc thờ cúngLễ Vía Bà Chúa Xứ Núi Sam được tổ chức trang trọng từ ngày 23 đến 27 tháng 4 âm lịch hàng năm, trong đó ngày vía chính là ngày 25. Các lễ chính gồm:

Lễ “tắm Bà” được cử hành vào lúc 0 giờ đêm 23 rạng 24 tháng 4 âm lịch.

Lễ “thỉnh sắc” tức rước sắc và bài vị Thoại Ngọc Hầu cùng hai phu nhân từ Sơn lăng về miếu bà, được cử hành lúc 15 giờ chiều ngày 24.

Lễ túc yết và Lễ xây chầu: Lễ “túc yết” là lễ dâng lễ vật (lễ vật chính là con heo trắng) và tiến hành nghi thức cúng Bà, lúc 0 giờ khuya đêm 25 rạng 26. Ngay sau đó, là “Lễ xây chầu” mở đầu cho việc hát bộ (còn gọi là hát bội hay hát tuồng).

Lễ chánh tế được cử hành vào 4 giờ sáng ngày 27.

Lễ hồi sắc được cử hành lúc 16 giờ chiều cùng ngày, ngay sau khi Lễ chánh tế kết thúc. Đây là lễ đem sắc và bài vị Thoại Ngọc Hầu cùng hai phu nhân về lại Sơn lăng.

Theo tín ngưỡng của người dân, nơi đây vẫn còn có những tục như xin xăm Bà, vay tiền Bà, thỉnh bùa Bà… Ý nghĩa việc thờ cúngNhà văn Sơn Nam viết:Bà Chúa Xứ, dạng đạo Lão dân gian, thu hút bá tánh nhiều nhất Nam Bộ. Cất bên chùa Tây An nhưng trong “Đại Nam nhất thống chí” không ghi tên, phải chăng đời Tự Đức và khi Pháp đến hồi cuối thế kỷ 19, miễu hãy còn khiêm tốn, khách hành hương chỉ là người phụ cận mà thôi. Miễu phát triển về sau, qua thời kháng Pháp rồi chống Mỹ…… Lăng Thoại Ngọc Hầu được trùng tu, rồi lập miếu thờ trang nghiêm như đình làng, nhưng vẫn không đáp ứng được yêu cầu của con người khi quá đau khổ, bế tắc. Miễu bà Chúa Xứ được nâng cấp, thay cho miễu sơ sài…Đây là dạng tu tiên, một dạng như: Tây Vương Mẫu, Cửu Thiên Huyền Nữ, hoặc Liễu Hạnh công chúa…nên việc thờ phượng, cúng vái để “tự nhiên”, khách có thể ăn mặc lòe loẹt, trai gái đùa giỡn, cúng rượu thịt… Vị trí miễu Bà bên núi Sam hội đủ: Sông rộng, đồi núi trập trùng, vùng biên giới…Người hành hương cảm thấy được thỏa mãn về tâm thần, hòa mình vào”sơn hà xã tắc”, “khí thiêng sông núi”…Theo Nguyễn Đức Toàn, thì:Theo bước đường Nam tiến của dân tộc Việt, chúa Liễu đã từ Phủ Giầy (Nam Định), Đền Sòng (Thanh Hóa) đi về phương Nam, tạm dừng ở điện Hòn Chén (Huế) và gặp bà Pô Nưgar tại Nha Trang, gặp bà Đen (Linh Sơn Thánh Mẫu) ở Tây Ninh và bà Chúa Xứ ở núi Sam, Châu Đốc…Tất cả các bà đều là mộtMẹ duy nhất trong tâm thức của tín ngưỡng và tập tục thờ mẫu của người Việt…Sách Kiến thức phục vụ thuyết minh du lịch giải thích thêm:Do ảnh hưởng Phật giáo, Lão giáo cùng với các tín ngưỡng đồng bóng của dân gian mà các vị thần được thờ chủ yếu là nữ, như: Thánh mẫu Liễu Hạnh, Thượng Ngàn, Bà Chúa Tiên, Bà Chúa Ngọc, Bà Chúa Động, Bà Cố Hỷ, Bà Thủy, Bà Hỏa…Và Bà Chúa Xứ trở thành một dạng như “Phật Bà Quan Âm” (đối với người Việt), “Bà Mã Hậu” hay “Thiên Hậu Nương Nương” (đối với người Hoa). Bà được tin tưởng đến độ có rất nhiều huyền thoại về “quyền lực linh thiêng” của Bà trong việc “ban phúc, giáng họa” cho con người. Như hai câu liễn đối treo ở miếu Bà như sau:Cầu tất ứng, thí tất linh, mộng trung chỉ thiXiêm khả kính, Thanh khả mộ, ý ngoại nan lường.Tạm dịch:Xin thì được, ban thì linh, báo trong giấc mông(Người) Xiêm sợ hãi, (Người) Hoa kính mộ, ý tứ khôn lường.Từ năm 2001, lễ hội Vía Bà Chúa Xứ Núi Sam được Bộ Văn hóa Thông tin và Tổng cục Du lịch Việt Nam công nhận là Lễ hội cấp Quốc gia. Ngoài phần Lễ được tổ chức trang trọng theo lối cổ truyền, phần Hội cũng được tổ chức trọng thể hàng năm.

Di Tích Cấp Quốc Gia Miếu Bà Chúa Xứ Góp Phần Phát Triển Loại Hình Du Lịch Tâm Linh Tại Thành Phố Châu Đốc (An Giang)

Nguyễn Thị Mai Trâm

Tập sự giảng viên Khoa Dân vận

Thành phố Châu Đốc là đô thị loại II trực thuộc tỉnh An Giang, có 16 km, biên giới giáp Campuchia. Với 4 cửa khẩu quốc tế và quốc gia, gồm: Tịnh Biên, Vĩnh Xương (thị xã Tân Châu), Khánh Bình, Vĩnh Hội Đông (huyện An Phú). Châu Đốc là cửa ngõ giao thương quan trọng của tỉnh An Giang với khu vực Đồng bằng sông Cửu Long với Campuchia và các nước Đông Nam Á bằng đường bộ lẫn đường thủy.

Châu Đốc nổi danh với vẻ đẹp của dãy Thất Sơn hung vĩ, còn được biết đến là thành phố thơ mộng bên dòng sông Hậu – một nhánh của sông Mê Kông. Với vị trí “tiền tam giang, hậu thất sơn hùng vĩ”, Châu Đốc có đến 6 di tích cấp quốc gia: Miếu Bà Chúa Xứ núi Sam, Chùa Phước Điền, Chùa Tây An, Lăng Ông Thoại Ngọc Hầu, Đình Thần Châu Phú và Đình Thần Vĩnh Ngươn cùng nhiều danh thắng nổi tiếng khác như Ngã ba sông Châu Đốc, kênh Vĩnh Tế, Pháo đài núi Sam,…từ những danh thắng, di tích, Châu Đốc có nhiều ưu thế để phát triển ngành du lịch.

Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố Châu Đốc lần XI, nhiệm kỳ 2024 – 2024, UBND Thành phố đã xây dựng Kế hoạch phát triển du lịch trên địa bàn thành phố  Châu Đốc. Theo đó đến năm 2024, du lịch sẽ cơ bản trở thành ngành kinh tế mũi nhọn. Trong đó, loại hình du lịch tâm linh góp phần không nhỏ trong việc phát triển ngành du lịch tại địa phương nói riêng và tỉnh nhà nói chung.

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành văn bản số 2468/QĐ-BVHTTDL ngày 19 tháng 7 năm 2010 khi nghiên cứu về loại hình du lịch tâm linh đã nêu rõ “Nghiên cứu và phát triển loại hình du lịch tín ngưỡng – tâm linh”. Cho thấy rằng, Nhà nước ta hiện nay đã và đang chú trọng hơn về loại hình du lịch này.

Bên cạnh đó, “du lịch tâm linh” cũng được các nhân vật nổi tiếng phát biểu với nhiều quan điểm:

Theo Trần Quang Đại (Báo Dân Trí, thứ Tư, 18/02/2009): “Tâm linh chính là một biểu hiện trong đời sống tinh thần của con người, với tất cả sự phong phú, phức tạp của nó. Không nên đơn giản hóa tâm linh là mê tín dị đoan, song cũng không nên “thần bí hóa”, “ghê gớm hóa” khái niệm tâm linh, gán cho nó những đặc tính cao siêu, phi thường, coi đó là cứu cánh của nhân loại, của khoa học”.  

Theo tiến sĩ APJ Abdul Kalam, cha đẻ của bom nguyên tử nước Ấn Độ lý luận rằng: “Du lịch tâm linh hoàn toàn khác với việc tham quan các địa danh và ngắm nhìn các chiều kích vật lý. Du lịch tâm linh có nghĩa là thăm viếng trái tim và tâm trí của những bậc hiền triết tại nhiều địa điểm khác nhau và nhất là những nơi có môi trường văn minh phong phú”[1].

Từ dẫn chứng trên, “du lịch tâm linh” được tóm tắt với nội dung cụ thể như sau:

+ Tín ngưỡng – tâm linh là một trong những yếu tố hấp dẫn đối với du lịch.

+ Cách tiếp cận, khai thác của các doanh nghiệp trong du lịch tâm linh là khác nhau dẫn đến các sai lệch trong việc tổ chức hoạt động du lịch tín ngưỡng – tâm linh. Vì vậy, cần làm rõ các khái niệm, phân loại các loại hình du lịch tín ngưỡng – tâm linh. Từ đó các doanh nghiệp có cơ sở tổ chức các loại hình du lịch tín ngưỡng – tâm linh phù hợp.

+ Đánh giá nhu cầu và đưa ra giải pháp để phát triển lành mạnh, ổn định loại hình du lịch tâm linh – tín ngưỡng

+ Có sự phân biệt rõ giữa tín ngưỡng – tâm linh và mê tín dị đoan, không để du lịch tín ngưỡng – tâm linh bị ảnh hưởng hoặc trở thành mê tín dị đoan.

Qua đó, ta thấy ngày nay du lịch tâm linh đang dần trở thành xu hướng của thời đại – thời đại của văn hóa tâm linh – nền văn hóa luôn hướng con người về với chân – thiện – mĩ nếu chúng ta xây dựng và phát triển nó theo chiều hướng tích cực. 

Thành phố Châu Đốc là vùng đất đã và đang phát triển mạnh mẽ loại hình du lịch tâm linh. Khu di tích nổi bật và thu hút được lượng khách hành hương lớn nhất ở thành phố Châu Đốc, đó là Miếu Bà Chúa Xứ núi Sam.

Miếu Bà Chúa Xứ được lập vào năm 1820. Theo truyền thuyết, miếu Bà do dân xây dựng để cúng bái vì tin vào sự linh thiêng của Bà. Lại có truyền thuyết cho rằng, Thoại Ngọc Hầu đã đứng ra xây dựng theo lời trăn trối của vợ (bà Châu Vĩnh Tế). Lúc đầu miếu cất bằng tre, lá. Năm 1962, miếu lợp ngói âm dương. Ðến năm 1972, ngôi miếu được xây lại, năm 1976 công trình mới hoàn thành. Miếu Bà Chúa Xứ kiến trúc theo kiểu chữ “Quốc”, có 4 mái hình vuông, nóc lợp bằng ngói ống màu xanh. Nhà để tượng cũng có 4 mái hình vuông.

Tượng Bà đặt giữa chánh điện, đội mão sặc sỡ, mặc áo bào thêu rồng phụng, kim tuyến lấp lánh. Đây là một tác phẩm nghệ thuật tạc bằng đá son, có từ thế kỷ thứ 6. Dáng người ngồi nghĩ ngợi, khoan thai, thuộc loại tượng thần Vít-nu, có nhiều ở Ấn Độ, Lào, Campuchia.

Hàng năm, lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam diễn ra từ ngày 23-27 âm lịch. Một bộ phận khách hành hương đến viếng Miếu Bà với lòng tin tưởng về sự thiêng liêng, huyền bí của Bà vì vậy số khách hành hương ngày một đông. Từ một lễ hội mang tính dân dã, lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam trở thành một trong những lễ hội cấp quốc gia kể từ năm 2001. Trong mùa lễ hội năm 2008, được tổ chức với quy mô cấp quốc gia có tên gọi là “Tuần lễ quốc gia lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam năm 2008”. Trong dịp này, Trung tâm Sách kỷ lục Việt Nam – Vietkings đã trao tặng giấy xác nhận và cúp lưu niệm kỷ lục Việt Nam đối với “Ngôi miếu lớn nhất Việt Nam” và “Tượng bà bằng đá sa thạch xưa và lớn nhất Việt Nam” cho Ban quản trị lăng miếu núi Sam.

Đặc biệt, năm 2024, Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam được Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch công nhận là lễ hội văn hóa Phi vật thể cấp quốc gia.

Trước kia có nhiều hình thức cúng bái như mê tín, xin xăm, xin bùa, uống nước tắm Bà để trị bệnh…Ngày nay, những hủ tục đó không còn nữa. Đa số khách đến viếng thăm để dâng hương cầu tài, cầu lộc, thể hiện lòng tạ ơn Bà bằng nhiều hình thức: Cúng heo quay, cúng tiền, lễ vật lưu niệm hoặc các tiện nghi phục vụ cho miếu. Các lễ cúng ở miếu Bà vẫn được duy trì theo nghi thức cổ truyền. Vào lúc nửa đêm 23 rạng 24 tháng tư âm lịch, lễ tắm Bà được tiến hành khoảng hơn một giờ đồng hồ nhằm lau sạch bụi sau một năm dài. Lễ được chuẩn bị từ lúc 23 giờ 30 và bắt đầu lúc 0 giờ. Các vị bô lão trong lễ phục áo dài khăn đóng lên đèn, niệm hương, dâng rượu, dâng trà,…Kết thúc phần nghi thức, khoảng 4 đến 5 phụ nữ đứng tuổi, có uy tín trong làng tiến hành việc tắm Bà. Sau khi cởi áo mão, các vị dùng nước sạch có ngâm hoa lài tỏa mùi thơm ngào ngạt để lau cốt tượng, xịt nước hoa, mặc áo mão mới cho Bà. Mặc dù công việc được thực hiện sau bức màn che nhưng có hàng nghìn người chen nhau đến chứng kiến ngoài vòng rào chánh điện.

Lễ túc yết và lễ xây chầu được tiến hành trong đêm 25 rạng 26 tháng 4 âm lịch, đây là cuộc lễ chính trong lễ hội vía Bà. Từ đầu hôm, hàng chục ngàn người đã tụ về miếu Bà để được tham dự cuộc hành lễ này. Trước đó, hồi 15 giờ cuộc lễ thỉnh sắc thần được tiến hành trọng thể trong tiếng trống lân rộn rã. Các bô lão và thanh niên trong lễ phục, xếp hai hàng dưới bóng cờ, lộng sặc sỡ, hộ tống long đình rước bài vị của ông Thoại Ngọc Hầu và hai vị phu nhân từ lăng về miếu.

Đúng 0 giờ, cuộc lễ túc yết bái bắt đầu với sự điều khiển của chánh bái và bốn đào thầy. Lễ vật dâng cúng là một con heo trắng đã cạo mổ xong và một dĩa mao huyết tượng trưng cho con heo sống cùng với các mâm xôi, ngũ quả,…trong tiếng nhạc lễ và chiêng trống trỗi lên từng hồi, ông chánh bái và các đào thầy dâng hương, dâng rượu, đọc văn tế, dâng trà. Lễ xây chầu được nối tiếp khi ông chánh bái cầm nhành dương vãi nước và đọc: “Nhất xái thiên thanh, nhị xái địa ninh, tam xái nhơn đường, tứ xái quỉ diệt hình” (nghĩa là thứ nhất vãi lên trên trời xanh mong điều cao đẹp, thứ hai vãi xuống đất cho được màu mỡ, trúng mùa, thứ ba vãi loài người được trường thọ, thứ tư vãi diệt loài quỉ dữ). Xong, chánh bái ca công nổi trống ba hồi. Đoàn hát bộ trên sân khấu trong võ ca trước chánh điện đã chuẩn bị sẵn, nổi trống theo và kéo màn trình diễn.

Đến 4 giờ sáng ngày 27 tháng 4 âm lịch, lễ chánh tế được tiến hành như lễ túc yết nhưng đơn giản hơn. 15 giờ cùng ngày đoàn thỉnh sắc làm lễ hồi sắc, đưa bài vị ông Thoại Ngọc Hầu và hai phu nhân trở về lăng, kết thúc một mùa vía.

Lễ hội vía Bà Chúa Xứ không chỉ thu hút khách hành hương trong những ngày tổ chức lễ hội, mà lượng du khách đến vía Bà nhiều nhất trong năm kéo dài gần bốn tháng, từ tháng Giêng đến hết tháng Tư âm lịch. Khách hành hương, du lịch không những đến từ các tỉnh lân cận mà còn từ các tỉnh xa như miền Đông, miền Trung và cả du khách nước ngoài,…Phó Chủ tịch Ủy ban  nhân dân thành phố Châu Đốc, ông Trần Quốc Tuấn cho biết: Trong năm 2024 có 4.578.500 lượt du khách đổ về tỉnh An Giang, riêng đến viếng Bà Chúa Xứ là 850.000 lượt khách hành hương. Năm 2024 lượng khách hành hương về Miếu Bà Chúa Xứ tăng hơn mọi năm. Mùa lễ hội tuy mới bắt đầu, nhưng chỉ trong hai tháng đầu năm 2024 lượng khách đến tham quan TP. Châu Đốc, viếng Bà Chúa Xứ hơn 1 triệu 400 lượt người, tăng 10% so với cùng kỳ năm 2024 [2].

Với số lượng khách đến Vía Bà Chúa Xứ núi Sam ngày một đông hàng năm, số tiền công đức phần lớn đều dành cho trùng tu, tôn tạo thêm các di tích, xây dựng các công trình phúc lợi xã hội của địa phương, gia đình chính sách; đóng góp cho quỹ khuyến học, quỹ vì người nghèo, giúp đỡ nạn nhân chất độc màu da cam, người tàn tật, trẻ mồ côi, cất nhà tình thương, nhà đại đoàn kết; cứu trợ thiên tai, hỏa hoạn…

Tuy nhiên, tại điểm du lịch nổi tiếng cấp quốc gia này vẫn còn tình trạng tiêu cực đã và đang xảy ra mà nạn nhân cuối cùng phải lãnh chịu hậu quả là những khách du lịch hành hương  với những kẻ núp bóng “xin đểu”, “móc túi” du khách bằng nhiều chiêu trò mới và độc đáo. Sau khi du khách đi “trả lễ” và cúng Bà xong, thấp thoáng ngoài cổng miếu Bà với hơn chục người dân, chủ yếu là những người phụ nữ, trong tay cầm những tấm thiếp màu vàng. Sau đó, họ giúi vào du khách và bảo rằng: “Lộc Bà cho”. Nhiều du khách lơ ngơ, cầm lấy tấm “Lộc” này thì họ liền đòi 50 ngàn đồng với vẻ mặt hung hãn và dữ tợn như sắp ăn tươi nuốt sống “con mồi”. Nhiều du khách bỡ ngỡ và hoảng sợ đành cho 50.000 đồng cho đội quân này.

Di tích cấp quốc gia Miếu Bà Chúa Xứ góp phần phát triển loại hình du lịch tâm linh tại Châu Đốc (An Giang). Đến viếng Miếu Bà Chúa Xứ núi Sam nói riêng và các khu di tích thuộc loại hình du lịch tâm linh tại thành phố Châu Đốc nói chung, mộ bộ phận du khách không chỉ đến để nghiên cứu, tìm hiểu, vui chơi mà họ như đang thực hiện một cuộc hành hương về vùng đất thiêng và tìm kiếm nơi trú ngụ bình yên, thanh thản cho tâm hồn. Nơi đây, còn mang lại cho một bộ phận người cảm thấy nhẹ nhàng, tâm an lạc, không tham theo dục vọng thấp hèn của vật chất. Du lịch tâm linh còn mang lại giá trị của tình yêu thương con người thật sự cho chính bản thân cá nhân đó, đồng thời mỗi cá nhân lại mang đến sự bình yên, an lạc cho những người xung quanh.

Lần đầu tiên tôi được đến với vùng đất Châu Đốc qua chuyến đi thực tế cùng đoàn giảng viên Trường Chính trị Bến Tre, được thăm viếng Miếu Bà Chúa Xứ. Tôi cũng như các du hành hương khác cảm nhận được sự cao quý và thiêng liêng của Bà. Qua tìm hiểu về vùng đất Châu Đốc (An Giang), tôi thấy được vai trò lãnh đạo của chính quyền địa phương, sự hợp tác, gắn kết của nhân và chính quyền tại nơi đây. Họ đã cùng nhau khai thác triệt để thế mạnh tại địa phương góp phần đẩy mạnh loại hình du lịch, phát triển kinh tế. Điều tôi học hỏi được qua chuyến thực tế tại vùng đất Châu Đốc đó là cách quản lý, cách khai thác, mặt mạnh và hạn chế tại vùng đất này, thấy về một thế giới huyền bí, nhiệm mầu mà người dân tìm về nơi đây.

Từ những kiến thức thực tế, đây là hành trang để tôi vận dụng trong cả quá trình làm việc của mình. Bến Tre Đồng khởi quê tôi được thiên nhiên ưu đãi và nổi bật với những vườn dừa xanh thẳm, vườn cây ăn trái sum xuê, làng nghề truyền thống, di tích văn hóa – lịch sử cấp quốc gia và cấp tỉnh,…rất phù hợp để chúng ta đẩy mạnh, khai thác lợi thế của mình qua nhiều hình thức du lịch như du lịch sinh thái miệt vườn, du lịch làng nghề, du lịch về nguồn, du lịch nghĩ dưỡng,…Hiện nay, tỉnh Bến Tre đã và đang khai thác hiệu quả những tiềm năng này. Đặc biệt, Bến Tre đang thực hiện chương trình “Đồng khởi khởi nghiệp” khuyến khích mọi người, mọi nhà cùng nhau khởi nghiệp bằng chính tiềm năng, thế mạnh vốn có, để Bến Tre có thể sánh vai cùng các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long và các tỉnh khác trong cả nước./.

1. Webside http://www.buddhismtoday.com

2. Webside http://www.angiang.gov.vn, Cổng TTĐT An Giang với bài viết của Hà Ngân đăng ngày 28/2/2024

* Chú thích:

Lễ túc yết: là lễ hương chức ra ra mắt thần. Theo cổ lệ mà sách Gia Định thành thông chí đã biên chép, lễ này được tiến hành vào buổi chiều cho đến hết đêm ngày thứ nhất. Theo sách Sổ tay hành hương đất phương Nam, sắp đến giờ hành lễ, các thành viên của Ban tế tự mặc áo thụng xanh, khăn đóng, mang giày đứng sắp hàng hai bên võ ca cùng với ban nhạc lễ, các lễ sinh và đào thài (đào chuyên hát chúc tụng) trong tư thế sẵn sàng. 

Lễ xây chầu: Lễ được cử hành sau lễ tế Túc yết.

Về cách thức xây chầu chia làm ba loại: Xây chầu văn, Xây chầu võ, và Xây chầu bán văn bán võ. Lễ này bắt nguồn từ quan niệm dịch lý của đạo Nho: thuận đạo trời (âm dương), an đạo đất (nhu cương) và hòa đạo người (nhân nghĩa); ba đạo này hòa hợp vạn vật mới hanh thông, tốt đẹp.

Địa Điểm Du Lịch Miếu Bà Chúa Sứ Núi Sam Di Tích (Lịch Sử, Kiến Trúc Và Tâm Linh) Quan Trọng Của Tỉnh Và Của Khu Vực.

Miếu Bà Chúa Xứ Núi Sam tọa lạc nơi chân núi Sam, trước thuộc xã Vĩnh Tế, nay thuộc phường Núi Sam, thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang, Việt Nam. Đây là một di tích (lịch sử, kiến trúc và tâm linh) quan trọng của tỉnh và của khu vực. Nguồn gốc Cách đây khoảng 200 năm, tượng Bà (sau được gọi tôn là Bà Chúa Xứ) được dân địa phương phát hiện và khiêng xuống từ đỉnh núi Sam bằng 9 (có nguồn nói 12 hoặc hơn nữa) cô gái đồng trinh, theo như lời dạy của Bà qua miệng “cô đồng”, nên người dân đã lập miếu để tôn thờ . Có ý kiến cho rằng Thoại Ngọc Hầu hoặc vợ là bà Châu Thị Tế là người đã ban lệnh và hỗ trợ việc xây dựng miếu. Tuy khó xác minh, nhưng biết chắc là miếu ra đời sau khi vị quan này về đây trấn nhậm và kênh Vĩnh Tế đã hoàn tất (1824) mang lại lợi ích rõ rệt cho lưu dân và dân bản địa Kiến trúc Ban đầu miếu Bà Chúa Xứ Núi Sam được cất đơn sơ bằng tre lá, nằm trên vùng đất trũng phía tây bắc núi Sam, lưng quay về vách núi, chính điện nhìn ra con đường và cánh đồng làng. Năm 1870, ngôi miếu được xây dựng lại bằng gạch hồ ô dước. Năm 1962, ngôi miếu được tu sửa khang trang bằng đá miểng và lợp ngói âm dương. Năm 1965, Hội quý tế cho xây nới rộng nhà khách và làm hàng rào nhà chính điện của ngôi miếu. Năm 1972, ngôi miếu được tái thiết lớn và hoàn thành vào năm 1976, tạo nên dáng vẻ như hiện nay, và người thiết kế là hai kiến trúc sư Huỳnh Kim Mãng và Nguyễn Bá Lăng. Đến khi ấy, kiến trúc miếu có dạng chữ “quốc”, hình khối tháp dạng hoa sen nở, mái tam cấp ba tầng lầu, lợp ngói đại ống màu xanh, góc mái vút cao như mũi thuyền đang lướt sóng. Bên trong miếu có võ ca, chánh điện, phòng khách, phòng của Ban quý tế… Các hoa văn ở cổ lầu chính điện, thể hiện đậm nét nghệ thuật Ấn Độ. Phía trên cao, các tượng thần khỏe mạnh, đẹp đẽ giăng tay đỡ những đầu kèo. Các khung bao, cánh cửa đều được chạm trổ, khắc, lộng tinh xảo và nhiều liễn đối, hoành phi ở nơi đây cũng rực rỡ vàng son. Đặc biệt, bức tường phía sau tượng Bà, bốn cây cột cổ lầu trước chính điện gần như được giữ nguyên như cũ. Ở thời điểm năm 2009, thì miếu Bà Chúa Xứ Núi Sam là “ngôi miếu lớn nhất Việt Nam” Tượng Bà Chúa Xứ Núi Sam Khi xưa, tượng Bà ngự trên đỉnh núi Sam, gần Pháo Đài. Chứng minh cho điều này là bệ đá Bà ngồi vẫn còn tồn tại (ảnh). Bệ đá có chiều ngang 1,60m; dài 0,3m, chính giữa có lỗ vuông cạnh 0,34m, loại trầm tích thạch màu xanh đen, hạt nhuyễn, không có ở địa phương. Theo nhà khảo cổ học người Pháp là Malleret đến nghiên cứu vào năm 1941, thì tượng Bà Chúa Xứ Núi Sam thuộc loại tượng thần Vishnu (nam thần), tạc dáng người nghĩ ngợi, quý phái, chất lượng bằng đá son, có giá trị nghệ thuật cao, được tạc vào cuối thế kỷ 6, và rất có thể đây một trong số hiện vật cổ của nền văn hóa Óc Eo [4]. Sau này, nhà văn Sơn Nam cũng đã chép rằng: Tượng của Bà là pho tượng Phật đàn ông của người Khmer, bị bỏ quên lâu đời trên đỉnh núi Sam. Người Việt đưa tượng vào miễu, điểm tô lại với nước sơn, trở thành đàn bà mặc áo lụa, đeo dây chuyền. Và từ đó “Bà Chúa Xứ” là vị thần có quyền thế lớn ở khu vực ấy, xứ ấy… Cũng theo lời truyền miệng dân gian, thì khi xưa có một nhóm người đến quấy nhiễu nơi đây. Gặp tượng Bà, họ muốn lấy đi nhưng xê dịch không được nên tức giận đập gãy cánh tay trái của pho tượng Chung quanh tượng Bà (đặt ở giữa chính điện), còn có bàn thờ Hội Đồng (phía trước), Tiền hiền và Hậu hiền (hai bên), bàn thờ Cô (bên phải, có thờ một tượng nữ thần nhỏ bằng gỗ), bàn thờ Cậu (bên trái, có thờ một Linga bằng đá rất to, cao khoảng 1,2m)… Theo sách Kỷ lục An Giang, 2009, thì tượng Bà là “pho tượng bằng đá sa thạch xưa nhất Việt Nam”, và “có áo phụng cúng nhiều nhất” Việc thờ cúng Lễ Vía Bà Chúa Xứ Núi Sam được tổ chức trang trọng từ ngày 23 đến 27 tháng 4 âm lịch hàng năm, trong đó ngày vía chính là ngày 25. Các lễ chính gồm:

Lễ “tắm Bà” được cử hành vào lúc 0 giờ đêm 23 rạng 24 tháng 4 âm lịch.

Lễ “thỉnh sắc” tức rước sắc và bài vị Thoại Ngọc Hầu cùng hai phu nhân từ Sơn lăng về miếu bà, được cử hành lúc 15 giờ chiều ngày 24.

Lễ túc yết và Lễ xây chầu: Lễ “túc yết” là lễ dâng lễ vật (lễ vật chính là con heo trắng) và tiến hành nghi thức cúng Bà, lúc 0 giờ khuya đêm 25 rạng 26. Ngay sau đó, là “Lễ xây chầu” mở đầu cho việc hát bộ (còn gọi là hát bội hay hát tuồng).

Lễ chánh tế được cử hành vào 4 giờ sáng ngày 27.

Lễ hồi sắc được cử hành lúc 16 giờ chiều cùng ngày, ngay sau khi Lễ chánh tế kết thúc. Đây là lễ đem sắc và bài vị Thoại Ngọc Hầu cùng hai phu nhân về lại Sơn lăng.

Theo tín ngưỡng của người dân, nơi đây vẫn còn có những tục như xin xăm Bà, vay tiền Bà, thỉnh bùa Bà… Ý nghĩa việc thờ cúng Nhà văn Sơn Nam viết: Bà Chúa Xứ, dạng đạo Lão dân gian, thu hút bá tánh nhiều nhất Nam Bộ. Cất bên chùa Tây An nhưng trong “Đại Nam nhất thống chí” không ghi tên, phải chăng đời Tự Đức và khi Pháp đến hồi cuối thế kỷ 19, miễu hãy còn khiêm tốn, khách hành hương chỉ là người phụ cận mà thôi. Miễu phát triển về sau, qua thời kháng Pháp rồi chống Mỹ… … Lăng Thoại Ngọc Hầu được trùng tu, rồi lập miếu thờ trang nghiêm như đình làng, nhưng vẫn không đáp ứng được yêu cầu của con người khi quá đau khổ, bế tắc. Miễu bà Chúa Xứ được nâng cấp, thay cho miễu sơ sài…Đây là dạng tu tiên, một dạng như: Tây Vương Mẫu, Cửu Thiên Huyền Nữ, hoặc Liễu Hạnh công chúa…nên việc thờ phượng, cúng vái để “tự nhiên”, khách có thể ăn mặc lòe loẹt, trai gái đùa giỡn, cúng rượu thịt… Vị trí miễu Bà bên núi Sam hội đủ: Sông rộng, đồi núi trập trùng, vùng biên giới…Người hành hương cảm thấy được thỏa mãn về tâm thần, hòa mình vào”sơn hà xã tắc”, “khí thiêng sông núi”… Theo Nguyễn Đức Toàn, thì: Theo bước đường Nam tiến của dân tộc Việt, chúa Liễu đã từ Phủ Giầy (Nam Định), Đền Sòng (Thanh Hóa) đi về phương Nam, tạm dừng ở điện Hòn Chén (Huế) và gặp bà Pô Nưgar tại Nha Trang, gặp bà Đen (Linh Sơn Thánh Mẫu) ở Tây Ninh và bà Chúa Xứ ở núi Sam, Châu Đốc…Tất cả các bà đều là một Mẹ duy nhất trong tâm thức của tín ngưỡng và tập tục thờ mẫu của người Việt… Sách Kiến thức phục vụ thuyết minh du lịch giải thích thêm: Do ảnh hưởng Phật giáo, Lão giáo cùng với các tín ngưỡng đồng bóng của dân gian mà các vị thần được thờ chủ yếu là nữ, như: Thánh mẫu Liễu Hạnh, Thượng Ngàn, Bà Chúa Tiên, Bà Chúa Ngọc, Bà Chúa Động, Bà Cố Hỷ, Bà Thủy, Bà Hỏa…Và Bà Chúa Xứ trở thành một dạng như “Phật Bà Quan Âm” (đối với người Việt), “Bà Mã Hậu” hay “Thiên Hậu Nương Nương” (đối với người Hoa). Bà được tin tưởng đến độ có rất nhiều huyền thoại về “quyền lực linh thiêng” của Bà trong việc “ban phúc, giáng họa” cho con người. Như hai câu liễn đối treo ở miếu Bà như sau: Cầu tất ứng, thí tất linh, mộng trung chỉ thi Xiêm khả kính, Thanh khả mộ, ý ngoại nan lường. Tạm dịch: Xin thì được, ban thì linh, báo trong giấc mông (Người) Xiêm sợ hãi, (Người) Hoa kính mộ, ý tứ khôn lường. Từ năm 2001, lễ hội Vía Bà Chúa Xứ Núi Sam được Bộ Văn hóa Thông tin và Tổng cục Du lịch Việt Nam công nhận là Lễ hội cấp Quốc gia. Ngoài phần Lễ được tổ chức trang trọng theo lối cổ truyền, phần Hội cũng được tổ chức trọng thể hàng năm.

Thích và chia sẻ

Tham gia Page cộng đồng

Danh sách Tour Miếu Bà Chúa Sứ

1

Cập nhật thông tin chi tiết về Miếu Bà Chúa Xứ Mỹ Đông Di Tích Lịch Sử Cách Mạng Cấp Quốc Gia Tỉnh Sóc Trăng trên website Apim.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!