Xu Hướng 2/2023 # Mâm Cơm Cúng Giỗ Miền Bắc Gồm Những Gì? Cách Làm Như Thế Nào? # Top 11 View | Apim.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Mâm Cơm Cúng Giỗ Miền Bắc Gồm Những Gì? Cách Làm Như Thế Nào? # Top 11 View

Bạn đang xem bài viết Mâm Cơm Cúng Giỗ Miền Bắc Gồm Những Gì? Cách Làm Như Thế Nào? được cập nhật mới nhất trên website Apim.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Thế nào là một mâm cơm cúng giỗ miền Bắc đúng chuẩn

Đối với các gia đình miền Bắc thì mâm cơm cúng giỗ được làm một cách khá đơn giản, không quá cầu kỳ mà lại còn tiết kiệm nữa đấy. Tất cả đều được chuẩn bị một cách thành tâm nhất là được.

Theo đó, Gốm Sứ Bát Tràng News sẽ gợi ý bạn một cách cụ thể về mâm cơm cúng giỗ của người miền Bắc đầy đủ sẽ bao gồm những món sau đây:

Cơm trắng và trứng gà luộc

Chân giò hầm với măng khô, mộc nhĩ

Ngoài ra gia chủ còn có thể chuẩn bị thêm nem rán, tôm tẩm bột chiên giòn

Thịt đông cùng với dưa chua

Một số món xào như: giá đỗ xào, miến xào lòng gà

Các món rau củ quả dễ ăn như: rau luộc hay nộm

Bên trên chỉ là những món ăn mà Gốm Sứ Bát Tràng News gợi ý cho bạn, bạn không cần phải quá tuân thủ với các món ăn trên đâu ạ. Tuy nhiên, tùy vào điều kiện kinh tế cụ thể của mỗi gia đình mà gia chủ có thể chế biến thêm một số món ăn khác hoặc giảm bớt một số món ăn sao cho phù hợp, không nhất thiết phải tuân theo quy luật như trên.

Bài văn khấn trong ngày cúng giỗ miền Bắc mà gia chủ nên biết

Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương. Con kính lạy Đức Hoàng Thiên Hậu Thổ chư vị Tôn thần. Con kính lạy ngài Đông Trù Tư mệnh Táo phủ Thần Quân. Con kính lạy các ngài Thần linh, Thổ địa cai quản trong xứ này. Con kính lạy Tổ Tiên nội ngoại họ…………………………………………………. Tín chủ (chúng) con là……………………………………Tuổi……………………… Ngụ tại…………………………………………………………………………………. Hôm nay là ngày ………tháng ………năm……………………(Âm lịch). Là chính ngày Cát Kỵ của…………………………………………………………… Thiết nghĩ…………………. vắng xa trần thế, không thấy âm dung. Năm qua tháng lại ngày húy lâm. Ơn võng cực xem bằng trời biển, nghĩa sinh thành không lúc nào quên. Càng nhớ công ơn gây cơ tạo nghiệp bao nhiêu, càng cảm thâm tình, không bề dãi tỏ. Ngày Cát Kỵ, hôm nay chúng con và toàn gia con cháu thành tâm sắm lễ, quả cau, lá trầu, hương hoa trà quả, thắp nén tâm hương dâng lên trước án thành khẩn kính mời………………………………………………………… Mất ngày ……..tháng…….năm…………………………(Âm lịch). Mộ phần táng tại………………………………………………………………… Cúi xin linh thiêng giáng về linh sàng, chứng giám lòng thành, thụ hưởng lễ vật, độ cho con cháu an ninh khang thái, vạn sự tốt lành, gia cảnh hưng long thịnh vượng. Con lại xin kính mời các vị Tổ Tiên nội ngoại, Tổ Khảo, Tổ Tỷ, Bá Thúc, Huynh Đệ, Cô Di, Tỷ Muội và toàn thể các Hương hồn gia tiên đồng lai hâm hưởng. Tín chủ con lại xin kính mời ngài Thổ Công, Táo Quân và chư vị Linh thần đồng lai giám cách thượng hưởng. Tín chủ lại mời các vị vong linh Tiền chủ, Hậu chủ nhà này, đất này cùng tới hâm hưởng. Chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin được phù hộ độ trì.

Một số lưu ý quan trọng khi làm mâm cơm cúng giỗ miền Bắc mà gia chủ nên biết

Để thể hiện lòng thành kính của mình, gia chủ nên tự tay chuẩn bị những món đồ cúng mà không nên mua đồ sẵn ngoài hàng hay đồ đóng hộp để bày lên mâm cỗ cúng

Mâm Cơm Cúng Giỗ Gồm Những Gì? 3 Miền Bắc

Mâm cơm cúng giỗ được xem là nét văn hóa đặc trưng của mỗi vùng miền trên khắp đất nước. Mỗi nơi sẽ nấu các món cúng bao gồm nhiều món ăn khác nhau. Nhưng có một điểm chúng đó là ngày nấu đồ cúng thông thường diễn ra trước một ngày hoặc đúng ngày. Bạn không nên cúng giỗ trễ ngày.

1/ Các món trong mâm cơm cúng giỗ miền Nam

Thực đơn trong đám giỗ miền Nam thường sẽ có các món ăn như hầm, thịt luộc, xào, kho. Các món được mô tả cụ thể như sau:

Món kho thường là thịt heo, cá lóc, kho với nước dừa để gợi đến hương vị đặc trưng miền Nam.

Thịt luộc là thịt ba chỉ, xắt mỏng.

Món hầm (thịt heo hầm) thường là giò heo hầm măng tre Mạnh Tông, đây là loại măng ngon nhất vùng Nam Bộ (ông Mạnh Tông trong nhị thập tứ hiếu).

Món xào là món thịt bị bó buộc về hình thức bên ngoài như xào chua, xào mặn, với rau cải đồ lòng, hoặc tôm, hầu như không dùng thịt rừng.

Bạn nên hiểu rằng không phải là dâng cúng cho cha mẹ đã mất nhưng là cho tổ tiên đời ông cố của gia chủ, hiểu ngầm rằng những bà con xa gần thời xa xưa cũng phải được tham dự. Vì vậy, nếu cúng 3 mâm ở 3 hoặc 1 bàn thờ, thì thức ăn được làm phải giống nhau.

2/ Các món trong mâm cơm cúng giỗ miền Trung

Thực đơn trong đám giỗ miền Trung nổi tiếng cầu kỳ, đặc biệt là Huế có sự ảnh hưởng cực lớn từ văn hóa cung đình Huế từ các triều đại xa xưa. Vì vậy món ăn cũng có phần cầu kỳ không kém khi làm mâm cơm cúng giỗ. Các món cúng giỗ được phân ra làm 4 loại đó là: món xào, món canh, món ăn từ thịt, món từ tôm cá:

Thịt vịt luộc chấm nước mắm gừng

Thịt gà bóp với rau răm tiêu muối

Thịt heo luộc với mắm tôm, kèm với rau sống, vã xắt lát

Thịt heo quay

Thịt gà ru ty

Thịt bò nướng

Thịt heo kho rim

Nem chả

Cá chiên khúc

Cá thu hay cá to chặt khúc kho nước

Tôm rim hay tôm rang

Vã trộn với tôm

Canh khổ qua nhồi thịt

Canh bún nổi giò heo hay nấu với lòng gà, vịt

Canh củ hầm thịt bò

Thịt heo kho nước với sã và đậu phụng

Bánh tráng ram (miền Nam gọi là chả giò, loại bánh trán cuốn thịt băm rồi chiên dầu lên cho vàng)

Thường là món củ hay légume xào với thịt heo nạc, có khi thịt bò hay tôm

Đậu cô ve, su su

Xà lách bóp thịt bò với dầu dấm

Đậu trắng, khoai tây chiên

Món khoai tây, với hành tây nấu với thịt gà hay bò theo kiểu Ấn Độ gọi là món Ca ry. (thường ăn kèm với bánh mì)

3/ Các món trong mâm cơm cúng giỗ ở miền Bắc

Mâm cơm cúng giỗ miền Bắc thì hầu như bao gồm tất cả các món bạn có thể bắt gặp trên hầu hết mâm cỗ ở các gia đình miền Bắc xưa nay.

Cơm trắng, xôi gấc (ăn kèm với giò và chả)

Xôi vò, chè đường

Một con cua và một quả trứng được bày chung một đĩa

Bánh dầy đậu

Chả quế

Thịt quay, Bê thui (chấm với tương gừng)

Giò lụa hay giò bò thì là, giò thủ, giò bì

Thịt kho tầu

Chân giò hầm măng khô, mộc nhĩ

Chả giò cua bể + bún

Gà quay hay gà luộc (chặt miếng, sắp vào một chiếc đĩa sâu, những miếng đẹp và có da thì nằm sát đáy đĩa, rồi úp ngược đĩa gà này vào một chiếc đĩa trảng khác, cho ngon mắt)

Thịt đông, dưa chua nếu cúng giỗ vào mùa lạnh

Nem dê (thực tế được làm bằng thịt bò nhưng gọi là nem dê)

Tôm sú hay tôm càng rim

Tôm thịt xào nấm đông cô, đậu ve, cà rốt, su hào

Lươn om với bắp chuối bào

Nộm măng đi kèm với tôm, thịt, khế thái dọc, mè rang

Miến xào lòng gà cùng với mộc nhĩ

Món bóng cá nhồi giò sống hay bóng lợn (canh bóng, nấu với rau củ, nấm, mộc nhĩ)

Xà lách búp, cà chua, dưa deo (chấm nước tôm rim)

4/ Những điều kiêng kị khi làm mâm cơm cúng giỗ:

Khi làm mâm cơm cúng giỗ cho người đã khuất bạn nên tránh chọn món kiêng kị. Nhất là những món mà người trên không thích ăn khi còn sống.

Không được phép nêm nếm, ăn thử các món để làm cơm cúng gia tiên.

Trên mâm cơm cúng giỗ, không đặt những món gỏi, thực phẩm sống hay có mùi tanh.

Không cho lên mâm cúng các món từ cá mè và cá sông.

Mâm cơm cúng giỗ phải đặt riêng biệt, bày trên những bát đĩa mới. Nếu có bộ bát đũa riêng dành cho việc cúng bái càng tốt. Tránh dùng chung với chén đũa hay sử dụng hàng ngày.

Không được dùng đồ đóng hộp, các món ăn đặt sẵn từ bên ngoài nhà hàng để đưa vào mâm cúng giỗ.

Cúng Giỗ Ông Bà Tổ Tiên Như Thế Nào? Cách Làm Mâm Cơm Cúng Giỗ

Riêng giỗ, ông cha ta xưa rất coi trọng. Cúng giỗ tổ tiên, ông bà, cha mẹ, được coi là “báo hiếu”, là ngày con cháu tưởng nhớ đến công lao sinh thành, xây nếp đắp móng của các vị tiền hiền, và cầu xin vong linh các vị phù hộ độ trì cho.

Các cụ chia giỗ làm hai loại: giỗ trọng và giỗ thường

Giỗ trọng là giỗ những người thân mới mất, thường là ông bà, cha me. Còn giỗ thường là giỗ những người ở thế hệ xa hơn: cụ kỵ, chú bác, cô, anh chị… Các cụ vẫn truyền cho con cháu câu: “Ngũ đại mai tiền chi” (năm đời không còn chủ), tức là từ đời thứ 5 trở lên (đời kỵ) các cháu chắt không phải cúng giỗ nữa, nhưng những ngày tết và những ngày giỗ khác, các vị từ đời thứ năm trở lên vẫn được tiến chủ (người đứng lễ) khấn, mời về “đồng hưởng” cùng vong linh những người đã khuất của gia đình.

Nhân dân ta mang truyền thống “uống nước nhớ nguồn” nên hàng năm những vị khai sáng ra một dòng họ – được suy tôn là “khởi tổ” hoặc “thuỷ tổ” – vẫn được chắt chút cúng giỗ ở nhà thờ “đại tôn” (nhà thờ của họ).

Trong khoảng 20 năm trở lại đây, nhiều nhà thờ họ được xây lại, được tôn tạo sửa chữa tôn tạo và việc cúng giỗ tổ tiên được khôi phục. Họ nội nhà tôi là một họ nhỏ, lại phân tán, kỳ giỗ Tổ tộc họ hàng năm cũng được 6-7 chục chắt chút về dự. Họ ngoại của tôi là một họ lớn, mỗi lần giỗ tập trung tới 5-7 trăm người ở khắp nơi trong cả nước và ở cả nước ngoài. Đó là dịp để các chắt chút… của Tổ gặp nhau, trước tỏ lòng thành kính với Tổ, sau là nhận họ, nhận hàng.

Nhiều họ, ngày giỗ Tổ còn là ngày động viên chắt, chút… làm những việc tốt, tuyên dương những chắt, chút mới tốt nghiệp đại học, trên đại học, có phần thưởng cho những chút, chít mới đỗ vào đại học hoặc học giỏi. Ở Phú Thọ, còn có phong trào “dòng họ tự quản” với những “tộc ước” rất cụ thể.

Riêng ngày giỗ trọng thì mỗi gia đình tổ chức một khác

Quê tôi xưa thuộc ngoại thành Hà Nội, nay là quận Hoàng Mai, có một nếp sống rất đẹp là đám ma đám giỗ thì tuỳ tâm gia chủ, tổ chức như thế nào do gia đình bàn bạc thống nhất. Các cụ truyền dạy: “Đó là việc hiếu, mọi người đến không phải vì cỗ to, vì miếng ăn, mà là để tưởng nhớ người đã mất, vì họ hàng làng xóm tối lửa tắt đèn có nhau”. Vì vậy, các đám ma, đám giỗ ở quê tôi, không ai buông một lời chê, không có cãi vã, to tiếng, say rượu, cờ bạc…

Các cụ rất coi trọng cỗ, chứ không coi trọng cỗ. Ngày giỗ lấy tâm thành là chính chỉ cần “bát cơm, quả trứng” cúng là đủ. Vì vậy, hầu như tất cả các gia đình ở Hà Nội, dù làm giỗ to nhỏ, nhiều ít, mâm cao cỗ đầy như thế nào thì gần cuối buổi lễ đều dâng lên bàn thờ một bát hoặc một liễn cơm và một quả trứng (hột) vịt hoặc gà luộc đã bóc vỏ, và bóp vỡ một chút ở chỗ ít lòng trắng để lộ phần lòng thêm một ít muối bên cạnh.

Xưa những đám giỗ trọng ở quê tôi có hai cách tổ chức gàn như là lệ làng: Làm mở rộng đối với những giỗ mới, nhất là giỗ đầu (một năm sau ngày mất và giỗ hết (hai năm sau ngày mất, có nhà làm vào ngày thứ 100 sau hai năm gọi là giỗ bỏ tang hay “bỏ trở” – từ sau ngày đó, con cháu không phải để trở).

Làm trong phạm vi hẹp (chú bác, anh chị em, con cháu) rượu từ giỗ sau giỗ bỏ tang trở đi. Gia chủ có làm rộng cũng ít người đến.

Về cỗ, quê tôi có hai loại, tuỳ hoàn cảnh gia đình mà chọn:

– Làm cỗ bình thường (quê tôi gọi cỗ “bàn than”): chỉ có mấy món chế biến từ thịt lợn: luộc, rang, lòng, có thể thêm đĩa giò.

– Làm cỗ to (gọi là cỗ “đồ Tàu”) có những món cầu kỳ hơn, thường mỗi mâm có có bốn bát và tám đĩa: giò, nem, ninh, mọc, nấm, bóng…

Có gia đình khá giả làm cả bò, lơn, gà (hoặc dê) gọi là cỗ “tam sinh”.

Những giỗ làm theo phạm vi rộng thường 30 mâm, có nhà tới hàng trăm mâm, trong phạm vi hẹp độ 5- 10 mâm (mỗi mâm 6 người).

Trước ngày giỗ độ 10 ngày, ông trưởng (con trai đầu) mời tất cả con trai, con gái của người mất đến họ để thống nhất cách làm giỗ và phân công mỗi người một nhiệm vụ; người mua thực phẩm, người mượn bát đũa, mâm nồi, người dựng rạp. Các người con tự nguyện đóng góp, tùy khả năng và tùy tâm, không bổ bán, không chia đều. Sau khi thống nhất, hai vợ chồng trưởng nam phải đích thân đi mời từng nhà: “Tiếng chào cao hơn mâm cỗ!”, có nhà ế hàng chục mâm cỗ chỉ vì sơ suất khi mời.

Cũng như các nơi khác, quê tôi nhà nào cũng có một bàn thờ gia tiên đặt ở gian giữa – nơi trang trọng nhất, từ hai cột chính đến sát tường sau. Nhà nghèo thì bàn thờ là một tấm gỗ sơn đỏ nối hai cột chính với hai cột sau. Trên tường chính giữa dán một vuông giấy đỏ có viết một chữ Hán to “Phúc” hoặc “Thần”. Trên tấm gỗ, đặt ba bát hương, bát giữa kê cao hơn thờ thần linh, bát bên phải thờ gia tiên và bát bên trái thờ các “bà cô, ông mãnh” – những người chết chưa vợ, chưa chồng và được gia đình coi là linh thiêng. Hai góc trước của bàn thờ có hai cây nến tiện bằng gỗ.

Nhà khá hơn thì bàn thờ là một án thư có trang trí hoa văn, sơn son hoặc sơn then (đen), đèn nến bằng gỗ tiện sơn son. Nhà giàu thì chạm trổ “tứ linh” (bốn con vật thiêng: long (rồng), ly (kỳ lân), quy (rùa), phượng (chim phượng hoàng); mặt trước án thư là một tấm gỗ quý chạm “mai long” (cây hoa mai uốn hình rồng) hoặc chữ “ngũ long” (năm con rồng quây thành một vòng tròn), tất cả đều bằng sơn son thếp vàng.

Trên án thư có bộ “tam sự” bằng đồng, có nhà còn thêm bộ đài rượu bằng gỗ sơn son hoặc bằng đồng (gồm ba khối hình ống, đáy cao, có nắp đậy, trên mỗi đáy đặt một chiếc chén hạt mít, khi cúng cơm, gia chủ mở nắp, rót vào chén). Có nhà thêm ống cắm hương chưa thắp, mâm bồng để bày hoa quả…

Những năm từ giữa thế kỷ XX, khi kỹ thuật chụp ảnh phổ cập, thì trên án thư còn đặt ảnh những người đã mất; trên tường sau còn treo một bức hoành, có 3-4 chữ Hán to, ghi nguyện vọng, sự cầu mong của gia đình và đôi câu đối phẳng hoặc hình lòng máng nói về công đức của tổ tiên và lòng hiếu của con cháu; tất cả đều sơn son thiếp vàng.

Ở các nhà thờ “đại tôn”, sau án thư là một tấm cửa võng, chạm trổ tinh vi, sơn son thiếp vàng, phía sau treo hai cánh màn bằng vóc hoặc nhiễu đỏ, ngăn án thư với “hậu cung”, khi cúng, gia chủ vén màn sang hai bên, để lộ cung sau. Hậu cung là một cái bục lớn, cao ngang án thư bằng gỗ hoặc xây gạch, sát đến tường sau, trong cùng có một chiếc bàn vuông, trên đặt chiếc ngai sơn son thiếp vàng, trên ngai đặt chiếc bài vị gỗ mấy dòng chữ Hán: họ, chi, quê…

Hai bên ngai, đặt hai giá cắm nến; khi cúng, gia chủ thắp nến để chiếu sáng cho cung. Trước ngai có một chiếc mâm gỗ vuông cao để đặt cỗ khi cúng cơm. Thường vào ngày giỗ trong, nhà ông trưởng nam tấp nập từ chiều hôm trước, để hoàn tất việc chuẩn bị và để cúng cơm.

Thường vào ngày giỗ trọng, nhà ông trưởng nam tấp nập từ chiều hôm trước, để hoàn tất việc chuẩn bị và để cúng “tiên thường”. Hôm giỗ, mọi việc diễn ra khẩn trương từ 2-3 giờ sáng dưới ánh đèn đuốc, nhóm giết lợn, giết bò, chuẩn bị thực phẩm, người vo gạo, thổi xôi… Tiếng cóc cách giã giò hoà tiếng lao xao người nọ hỏi người kia, lệnh của ông trưởng vang vang… tạo ra một không khí nhộn nhịp của một nhà có đám.

Khoảng 8 giờ sáng, các mâm cỗ đã xong, một hoặc ba mâm được để lên bàn thờ (hoặc cung sau). Ông trưởng nam, áo the khăn xếp, bước lên chiếc sập trước bàn thờ để thắp hương, đèn nến rồi đứng giữa sập, hai tay chắp giữa ngực, lên gối xuống gối lễ ba lần, đoạn đứng nghiêm, mười ngón tay đan vào nhau và đưa lên ngang trán, miệng lầm rầm khấn.

Bài nhấn có ba phần. Mở đầu là ngày tháng năm (âm lịch), tại nhà thờ ở thôn, xã, huyện, tỉnh… tiến chủ tên gì, nhân ngày giỗ ai, thành tâm cúng tiến những gì. Phần sau là gia chủ kính mời từ thần linh, thổ địa, táo quân… đến tên họ và hiệu, nơi an táng các vị trong gia đình theo thứ tự từ trên xuống (chỉ khấn nam và dâu họ, nữ không khấn, trừ trường hợp chết chưa có chồng).

Cuối bài khấn là những cầu xin. Khấn xong, ông trưởng nam lễ một lễ và ba vái nữa, rồi rót rượu cúng. Một số họ lớn, khi giỗ tổ họ, tổ chức dâng hương tế tổ và thay bài khấn bằng một bài văn tế, ông trưởng lễ xong thì đọc bài văn tế, rồi đem ra sân đốt như đốt sớ ở đình chùa.

Khi ông trưởng nam khấn xong, những người đến dự giỗ lần lượt già trước, trẻ sau vào lễ, người nào cũng đem một ít hoa, quả hoặc vàng hương, trầu rượu đặt lên bàn thờ rồi lễ, mỗi người ba lễ một bái, nam thì lễ như ông trưởng, nữ thì ngồi vào góc sập, chắp hai tay trước ngực, khi cúi thì giáp mặt tận chiếu, hai bàn tay xoè ra đặt hai bên đầu. Những bà gia đình có đại tang (bố mẹ hoặc chồng mới chết) phải lật một phần chiếu, ngồi xuống mặt sập, hai tay lật ngửa vòng khăn trắng quấn tóc mà lễ.

Thường cháy dở tuần nhang (hương) thứ hai thì cúng cơm và cuối tuần nhang thì ông trưởng nam tạ lễ, hoá vàng rồi hạ cỗ cho con cháu xin lộc.

Sơ qua phong tục cúng giỗ của người Hà Nội khoảng giữa thế kỷ XX như vậy để thấy ông cha ta rất cẩn trọng khi cúng giỗ. Giỗ là để họp mặt gia đình, để tưởng nhớ và noi gương tốt của những người thân trong gia đình đã mất, đó là việc hiếu, là một hoạt động tâm linh của người Việt nói chung, người Hà Nội nói riêng. Nó mang nặng tính truyền thống và là một phong tục đậm đà bản sắc dân tộc, cần được duy trì.

Khoảng trên chục năm nay, khi đời sống nói chung khấm khá, việc cúng giỗ được nhiều gia đình, dòng họ khôi phục. Nhưng do không hiểu hết ý nghĩa đúng hoặc không có ai hướng dẫn, hoặc cố tình làm to, làm trong diện rộng để khoe khoang, để thu lời.

Có người đi ăn giỗ để đền ơn người sống, để hối lộ, nên đặt lên bàn thờ không phải đồ lễ mà là phong bì… làm cho đám giỗ mất đi ý nghĩa cổ truyền của nó, gây một sự ganh đua giữa các gia đình, tạo điều kiện cho một số việc làm xấu, một số tệ nạn xã hội – thường là cờ bạc, đốt vàng mã – phát triển.

Mâm Cơm Cúng Giỗ Gồm Những Gì? Thực Đơn 3 Miền!

Cúng giỗ là một trong những nét đẹp trong đời sống văn hóa tâm linh của người Việt. Bất cứ ngày giỗ nào trong năm đều có một ý nghĩa quan trọng đối với gia đình. Đây cũng là cơ hội để các thành viên trong nhà có thể quây quần, đoàn viên bên nhau sau khoảng thời gian xa cách.

Chính vì thế, đây sẽ là ngày mà gia chủ cần chuẩn bị chỉnh chu, tươm tất trong mọi việc và đặc biệt nhất là việc làm mâm cơm cúng giỗ.

Tùy theo mỗi vùng miền mà cách làm mâm cơm cúng giỗ sẽ có sự khác nhau, các món trên mâm cũng có những khác biệt nhất định.

Và chắc hẳn cũng sẽ có rất nhiều gia chủ – đặc biệt là những gia đình lần đầu thực hiện lễ cúng thắc mắc về vấn đề: Mâm cơm cúng giỗ gồm những gì?

Chính vì thế, trong bài viết hôm nay chúng tôi không chỉ giải đáp câu hỏi trên mà còn gợi ý đến mọi người thực đơn cho mâm cơm cúng trong ngày giỗ, những món quen thuộc trên mâm cỗ của cả 3 miền Bắc – Trung – Nam!

Ý nghĩa của việc cúng giỗ

Từ bao đời nay, cúng giỗ đã trở thành một nét văn hóa trong phong tục thờ cúng tổ tiên của người phương Đông.

Việc cúng giỗ được ông bà ta truyền từ thế hệ này đến thế hệ khác. Hầu như không một gia đình nào quên đi và không làm lễ này cho ngày đã khuất.

Ngày cúng giỗ là ngày mà con cháu thể hiện tấm lòng, sự thương xót và để tưởng nhớ những người thân đã khuất.

Trong phần dưới, chúng tôi sẽ nhắc lại để các bạn xác định được đâu là những ngày giỗ quan trọng.

Những ngày giỗ quan trọng cần nhớ

Trong 1 năm, chỉ có 1 ngày giỗ duy nhất dành cho một người đã khuất. Tuy nhiên, có 3 ngày giỗ quan trọng mà bạn cần chú ý. Cụ thể:

Giỗ đầu (Tiểu Tường)

Là ngày giỗ đầu tiên sau một năm tính từ ngày mất. Giỗ này vẫn nằm trong kỳ tang, không khí trong gia đình còn bi ai, sầu thẩm.

Trong ngày giỗ này, gia chủ thường tổ chức trang trọng, nghiêm túc không khác gì với ngày để tang của 1 năm trước đó. Ngày này, con cháu vẫn còn mặc tang phục để thắp hương!

Giỗ hết (Đại Tường)

Đây là ngày sau khi người mất 2 năm, giỗ này vẫn nằm trong thời kỳ tang. Giỗ này cũng được tổ chức trang trọng, vương vấn đau thương, sầu bi chẳng kém với giỗ đầu.

Giỗ thường (Cát Kỵ)

Là ngày giỗ tính từ sau 3 năm người khuất, Cát Kỵ cũng có nghĩa là giỗ lành. Vào ngày này, con cháu chỉ cần mặc đồ bình thường không mặc tang phục và cũng không còn cảnh sầu thảm như 2 ngày giỗ trước đó.

Đây được xem là dịp để con cháu sum họp và tưởng nhớ đến người đã khuất. Khách khứa được mời trong ngày giỗ này cũng không còn rộng rãi như giỗ đầu và giỗ hết, thường chỉ có con cháu trong nhà và bà con hàng xóm xung quanh tới dự.

Mâm cơm cúng giỗ gồm những gì?

Với mỗi vùng miền thì mâm cúng giỗ sẽ có sự thay đổi khác nhau. Và để hiểu hơn về điều này, bạn có thể tham khảo những món ăn thường được chuẩn bị cho mâm cúng ngày giỗ chạp theo từng miền ở dưới phần của bài viết sau đây:

Mâm cơm cúng ngày giỗ ở miền Nam

Lễ cúng cho người quá cố cũng sẽ có sự góp mặt của những người bà con, ông bà, cố cụ từ thời xa xưa tham dự. Chính vì thế, khi cúng 3 mâm cơm ở 3 bàn thờ bên hoặc trên 1 bàn thờ thì thức ăn cần phải giống nhau.

Món kho: thịt heo, cá lóc, kho nước dừa đúng chuẩn phong vị người miền Nam.

Món luộc: thịt ba chỉ luộc thái mỏng.

Món hầm: thịt heo hầm măng tre.

Món xào: xào chua, xào mặn, xào rau cùng đổ lòng, hoặc các món xào với tôm. Tuy nhiên không bao giờ có thịt rừng trong những món xào trên mâm cúng ngày giỗ của người miền Nam.

Mâm cơm cúng giỗ miền Trung

Người miền Trung nổi tiếng với những món ăn cầu kỳ, đặc biệt là Huế – vùng đất ảnh hưởng rất lớn từ ẩm thực cung đình Huế qua các triều đại.

Do đó, nếu lấy Huế làm đại diện thì có thể nói, mâm cúng của người miền Trung có sự chỉnh chu và một chút cầu kỳ đặc biệt.

Các món thịt: Thịt vịt luộc chấm mắm gừng/ Thịt gà bóp với rau răm, Thịt heo quay, Thịt gà roti, Thịt bò nướng, Thịt heo kho rim.

Các món tôm cá: Cá chiên khúc, Tôm rim hay tôm rang, Vả trộn với tôm,…

Món canh: Canh khổ qua nhồi thịt, Canh bún nổi giò heo, Canh củ hầm thịt bò,…

Món xào: Đậu cô ve xào, su xào,…

Ngoài những món này, gia chủ người miền Trung cũng thường xuyên lựa chọn: Chả ram, Nem chả, Món gỏi,…trên mâm cúng.

Mâm cơm cúng giỗ miền bắc gồm những gì?

Mâm giỗ cổ truyền của người miền Bắc thường bao gồm tất cả những món ăn sau đây và ngày nay, dường như không có sự thay đổi. Cụ thể:

Những điều kiêng kỵ cần biết khi chuẩn bị mâm cúng giỗ

Cũng giống như bao lễ cúng khác, cúng giỗ người đã mất cũng có những điều cấm kỵ mà bạn không nên phạm phải. Cụ thể:

Khi cúng giỗ, gia chủ không nên chuẩn bị mâm cơm cúng có những món mà ngày còn sống người đó không thích ăn.

Tuyệt đối không được phép nêm nếm hoặc ăn thử thức ăn để dùng làm cơm cúng các vị gia tiên.

Trên mâm cúng không nên đặt các món gỏi, món đồ sống có mùi tanh hôi khó chịu.

Những món từ cá mè, cá sông cũng không được đưa lên bàn cúng.

Mâm cơm cúng ngày giỗ cần phải được đặt riêng, món ăn được bày biện trên bát, đĩa mới.

Nên chuẩn bị bát đũa riêng để dọn lên bàn cúng. Không nên sử dụng chén đũa đã dùng ngày thường cho mâm cúng giỗ.

Không được sử dụng đồ đóng hộp, những món ăn được đặt ở nhà hàng vào mâm cúng.

Cập nhật thông tin chi tiết về Mâm Cơm Cúng Giỗ Miền Bắc Gồm Những Gì? Cách Làm Như Thế Nào? trên website Apim.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!