Xu Hướng 6/2023 # Lược Ý Đốt Đèn Cúng Phật Trong Nghi Thức Nhiên Đăng Phật Giáo Bắc Truyền # Top 6 View | Apim.edu.vn

Xu Hướng 6/2023 # Lược Ý Đốt Đèn Cúng Phật Trong Nghi Thức Nhiên Đăng Phật Giáo Bắc Truyền # Top 6 View

Bạn đang xem bài viết Lược Ý Đốt Đèn Cúng Phật Trong Nghi Thức Nhiên Đăng Phật Giáo Bắc Truyền được cập nhật mới nhất trên website Apim.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Lược Ý Đốt Đèn Cúng Phật Trong Nghi Thức Nhiên Đăng Phật Giáo Bắc Truyền

Đạo Phật với tinh thần nhập thế và tuỳ duyên hoá độ, theo căn cơ cũng như nhu cầu của chúng sanh mà mở bày ra các phương tiện hoằng pháp độ sanh. Pháp hội nghi thức, cúng kiến đàn nghi trong Phật Giáo Bắc Truyền là một trong những hoạt động tín ngưỡng quan trọng không thể thiếu trong sự nghiệp hoằng hoá đạo mầu và sinh hoạt thiền lâm của Phật Giáo ở Đông Độ,

trong không ít những nghi thức của pháp hội Phật Giáo Bắc Truyền có khởi nguồn từ những câu chuyện khi Phật còn tại thế. Nghi thức đốt đèn cúng Phật là một trong những nghi thức có nguồn gốc như vậy.

Truyền thống đốt đèn cúng Phật có trong Phật Giáo được bắt nguồn từ câu chuyện “Bần nữ cúng đèn”, chuyện kể rằng: “Một thời Đức Phật ở nước La Duyệt Kỳ tại núi Kỳ Xà Quật, lúc bấy giờ vua A Xà Thế thỉnh Đức Phật dự lễ trai Tăng trong hoàng cung. Sau khi thọ trai, Đức Phật trở về Tinh Xá Kỳ Hoàn, Vua bèn hỏi Kỳ Bà rằng: “Ta thỉnh Phật thọ trai xong, nay không biết nên làm gì?”. Kỳ Bà nói: “Ngài nên đem rất nhiều đèn để cúng dường Phật”. Vua liền sai chở mọt trăm thùng dầu về Tinh xá Kỳ Hoàn.

Có một bà già nhà rất nghèo, có tâm chí thành muốn cúng dường Đức Phật mà không có tiền. Bà thấy vua A Xà Thế làm công đức như vậy, rất lấy làm cảm kích. Bà đi xin được hai tiền, liền đến nhà hàng mua dầu. Chủ hàng hỏi: “Bà rất nghèo túng, xin được hai tiền, sao không mua đồ ăn mà lại mua dầu?”. Bà già đáp rằng: “Tôi nghe ra đời gặp Đức Phật rất khó, vạn kiếp mới được một lần. Tôi nay may mắn được sinh đời Phật, mà chưa có dịp cúng dường. Ngày nay tôi thấy vua làm việc đại công đức, tôi tuy cùng khổ, cũng muốn cúng dường ngọn đèn để làm căn bản cho đời sau”.

Lúc bấy giờ người chủ quán cảm phục chí nguyện của bà già, liền đong cho thêm ba tiền thành được năm tiền dầu. Bà đến trước Đức Phật thắp đèn lên, tự nghĩ dầu thắp không quá nửa đêm, bà phát nguyện rằng: Con không có gì cúng dâng Phật, ngoại trừ cây đèn nhỏ này. Nhưng do sự cúng dường này, mong cho con đời sau có trí tuệ. Mong cho con giải thoát tất cả hữu tình ra khỏi bóng tối ngu si. Mong cho con tịnh hóa tất cả những cấu uế chướng ngại của họ, và đưa họ đến giải thoát.

Đêm ấy tất cả các ngọn đèn của vua cúng dường, có ngọn tắt, có ngọn đỏ, tuy có người săn sóc nhưng không được chu toàn. Riêng ngọn đèn của bà lão thì chiếu sáng hơn các ngọn đèn khác, suốt đêm không tắt, dầu lại không hao.

Đến lúc bình minh, ngọn đèn của bà lão vẫn tiếp tục cháy, khi tôn giả Mục Kiền Liên đi thâu lại những cây đèn. Khi trông thấy ngọn đèn còn cháy sáng, đầy dầu và bấc mới, Ngài nghĩ: “Không lý gì để cho cây đèn này vẫn cháy vào ban ngày,” và Ngài cố thổi tắt, nhưng cây đèn vẫn cháy. Ngài lấy tay bóp, lấy y chụp lên cho nó tắt, mà nó vẫn tiếp tục cháy sáng.

Đức Phật vẫn nhìn ngài từ lúc đầu, và bảo: Mục Kiền Liên, có phải ông muốn dập tắt ngọn đèn ấy không? Ông không làm được đâu. Ông không di chuyển được nó, chứ đừng nói là dập cho nó tắt. Nếu ông đem được bốn biển mà tưới lên cây đèn này, nó vẫn không tắt được, tại sao? Vì cây đèn này đã được đốt lên để dâng cúng với tất cả niềm sùng kính, và với tâm trí thanh tịnh. Chính động cơ ấy đã làm cho nó có công đức vô cùng.

Khi Đức Phật nói lời này, thì bà lão ăn xin đi đến Ngài, và Ngài nói lời thọ ký cho bà trong tương lai sẽ thành Phật. Vua A Xà Thế nghe nói, liền hỏi Kỳ Bà rằng: “Ta làm công đức rộng lớn như vậy mà Đức Phật không thọ ký cho ta thành Phật, còn bà già kia chỉ thắp một ngọn đèn mà được thọ ký là cớ làm sao?”. Kỳ Bà đáp rằng: “Ngài cúng đèn tuy nhiều mà tâm không chuyên nhất, không bằng được tâm thuận thành, tôn kính tuyệt đối của bà lão kia đối với Đức Phật”.

Từ câu chuyện này trong nghi thức tín ngưỡng, tín chúng Phật Giáo bắt đầu có nghi thức thắp đèn cúng Phật, trước là để tỏ lòng cúng kính đối với Phật và Thánh chúng, sau là cầu nguyện trí tuệ của mình ngày thêm sáng suốt, thứ nữa là để cầu mong bao nhiêu công đức của việc dâng đèn cúng Phật này, hồi hướng đến cho bản thân và gia đình mình cũng như pháp giới chúng sinh đều được chư Phật Bồ Tát gia hộ vạn sự kiết tường như ý.

Đại Thừa Thánh Giáo hưng khởi, Phật Giáo Bắc Truyền đến Đông Độ thì nghi thức đốt đèn cúng Phật ngày một phát triển, từ thành thị cho đến thôn quê, từ hoàng cung cho đến lê thứ đâu đâu cũng tổ chức nghi thức đốt đèn cúng phật trong các Pháp hội Dược Sư cầu quốc thái dân an cho đến pháp hội Vu Lan cầu nguyện cho pháp giới tứ sanh vãng sanh Tịnh Độ.

Dâng đèn cúng Phật từ những ý nghĩa ban đầu đến khi Bắc truyền được Đại Thừa Kinh Giáo bắt đầu tuyên dương cũng như diễn giải thâm ý và tán thán công đức của nghi thức thắp đèn cúng Phật, làm cho nghi thức này trở thành một trong những nghi tiết quan trọng vào bậc nhất, không thể thiếu trong các pháp hội quan trọng của Phật Giáo Bắc Truyền.

Trong quan niệm truyền thống của Phật Giáo Bắc Truyền, Đăng là tượng trưng cho trí tuệ, với ý nghĩa là chân lý của Đức Phật như ngọn minh đăng chiếu sáng và dẫn dắt chúng sanh thoát khỏi u minh phiền não đi đến an lạc Niết Bàn, giải thoát, vì vậy nên Đức Phật thường dạy: “này các con hãy tự mình thắp đuốt lên mà đi” cho nên nghi thức đốt đèn cúng Phật là hàm ý nương vào trí tuệ của Phật để rọi chiếu vô minh ám chướng của chính mình, diệt trừ phiền não chiếu phá ngã chấp giải thoát an lạc.

Theo tinh thần của Đại Thừa Phương Quảng cho rằng đốt đèn cúng Phật diệu ý cũng không khác gì như ánh sáng trí tuệ của chư vị Bồ Tát Ma Ha Ha Tát chiếu rọi phá vỡ vô minh tăm tối của chúng sanh. Kinh Hoa Nghiêm quyển 78 có đoạn chép: “này người thiện nam! ví như dùng một ngọn đèn, soi vào ngôi nhà tối cả trăm ngàn năm, thì bóng tối ấy lập tức đều bị xua tan hết. Ngọn đèn tâm bồ đề của các bậc Đại Bồ Tát ma ha tát cũng như vậy; soi vào tâm u tối trãi qua bá thiên vạn ức kiếp không thể tính hết của chúng sanh, tạo các nghiệp phiền não, vô số ám chướng, đều có thể diệt trừ sạch hết…”.

Thắp đèn cúng Phật được công đức rất to lớn. Trong rất nhiều kinh điển Đại Thừa đều dạy rằng việc thắp đèn cúng Phật, ở bảo tháp, trong chùa, trước tượng Phật hoặc thắp cúng dường trước các bộ kinh điển của Phật, tất cả đều được vô lượng công đức. Như trong Kinh Phật Vi Thủ Ca Trưởng Giả Thuyết Nghiệp Báo Sai Biệt Công Đức có thuyết về công đức của việc thắp đèn cúng Phật: Nếu có người phát tâm phụng hiến thắp đèn cúng dường Phật thì được 10 điều công đức:

1. Được công đức cả cuộc đời quang minh xán lạn như ánh đèn.

2. Được sanh về nơi chổ tuỳ theo ý muốn của mình, không bao giờ bị đau các chứng bịnh về mắt.

3. Nếu như phát tâm tu hành thì sẽ chứng được phép thiên nhãn thông.

4. Được trí tuệ có thể đối với các pháp thiện hay ác đều có thể phân biệt được.

5. Diệt trừ được hết thảy tối tăm mê muội.

6. Đắc chứng được pháp trí tuệ quang minh

7. Khi luân chuyển trên thế gian không ba giờ xa lìa vào ác đạo tối tăm.

8. Được đầy đủ phước báo to lớn.

9. Khi lâm chung được sanh lên cõi trời.

10. Nếu phát tâm tu hành thì sẽ sớm chứng được quả vị Niết bàn.”

Trong Kinh Phật Thuyết Thí Đăng Công Đức có chép về những điều vui hỷ lạc trong đời hiện thế mà tất cả ai ai nếu như phát tâm đốt đèn cúng Phật thì đều được thọ hưỡng những niềm vui như vậy, trong Kinh có đoạn chép: “Nếu có chúng sanh nào, nơi chùa hay tháp của Phật đốt đèn cúng dường, thì đắc được bốn pháp hỷ lạc, gồm có những pháp lạc?

1. Đắc được hỷ lạc thân thể trang nghiêm đẹp đẽ.

2. Được hỷ lạc tiền tài của báu sung mãn.

3. Được hỷ lạc luôn luôn gặp được vận may.

4. Được hỷ lạc thông minh trí huệ…”.

Theo quan niệm của Phật Giáo Đại Thừa, nghi thức đốt đèn cúng Phật còn là một trong sáu thứ cúng dường trong nghi thức Lục Cúng Hoa Đăng của Phật Giáo Bắc Truyền, nghi thức này còn được Phật Giáo Việt Nam diễn tấu thành vũ khúc Lục cúng hoa đăng rất là nổi tiếng và trỡ thành một trong những vũ điệu quan trọng trong nghệ thuật ca múa truyền thống Phật Giáo và dân tộc Việt Nam.

Đốt đèn cúng Phật là một trong “Lục chủng cúng dường” sáu món cúng dường của Phật Giáo gồm có:

1. Hiến Hương là đốt nhang xông hương cúng dường Phật.

2. Hiến Hoa là dâng hoa cúng dường Phật.

3. Hiến Đăng là đốt đèn cúng dường Phật.

4. Hiến Đồ là dâng nước hoặc thức ăn cúng dường Phật.

5. Hiến Quả là dâng trái cây cúng dường Phật.

6. Hiến Nhạc là niệm tụng, tán bạch, tấu nhạc cúng dường Phật trong các nghi lễ Pháp hội đàn tràng.

Sáu món cúng dường này theo quan niệm của Phật Giáo Bắc Truyền là sáu món tượng trưng cho hạnh tu Lục Độ Ba La Mật của chư vị Bồ Tát gồm: 1. Bố Thí; 2.Trì Giới; 3. Tinh Tấn; 4. Nhẫn Nhục; 5. Thiền Định; 6. Trí Tuệ. “Đồ” tượng trưng cho Bố Thí, “Hương” tượng trưng cho Trì Giới, “Nhạc” tượng trưng cho Tinh Tấn, “Hoa” tượng trưng cho nhẫn nhục, “Đăng” tượng trưng cho Trí Tuệ, “Quả” tượng trung cho Thiền Định. Người Phật tử khi thực hành các sự cúng dường này thì cũng chẳng khác nào chư vị Bồ Tát đang tu hành pháp Lục Độ.

Công năng diệu dụng cũng như nghi thức phương pháp của việc đốt đèn cúng Phật được Đức Phật dạy rất rõ ràng Trong Kinh Dược Sư Bổn Nguyện Công Đức, trong Kinh có đoạn chép: “Bấy giờ, Ngài A Nan hỏi Ngài Cứu Thoát Bồ Tát rằng: Cung kính Ðức Phật Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai như thế nào? và đèn phan tục mạng thế nào? Cứu Thoát Bồ Tát đáp rằng: Ðại Ðức, nếu người nào có bệnh, muốn cứu thoát khỏi bệnh khổ của họ, nên vì họ trong bảy ngày đêm, thọ trì Bát Quan Trai Giới, đồ ăn thức uống, các vật thường dùng, tuỳ sức lực mà làm, để cúng dường các vị Sư Tăng, ngày đêm sáu thời, hành đạo lễ bái cúng dường Ðức Phật Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai.

Đọc tụng Kinh nầy, bốn mươi chín lần, tạo bảy hình tượng Ðức Phật Dược Sư, bày thành bảy bàn, trước mỗi tượng, thắp bảy ngọn đèn, mỗi ngọn đèn lớn như vòng bánh xe, thắp sáng luôn bốn mươi chín ngày không tắt. Tạo tràng phan năm màu, dài bốn mươi chín gang tay, và phóng sinh các loài súc sinh trong bốn mươi chín ngày, thì sẽ qua khỏi các nạn nguy ách, không bị các hoạnh hoạ và ác quỷ bắt giữ…”.

Cách mà người xưa ở Đông Độ đốt đèn thường là dùng một cái chén trãn nhỏ đựng dầu, sau đó để tim đèn vào đốt thành đèn, loại đèn này rất phổ biến, sau có các chất liệu như vàng, bạc, đồng đỏ, sứ, gốm đều được dùng để chế tác trãn đựng dầu đèn, càng về sau sự phát triển của hình dáng thể loại của đèn dầu rất là phong phú, như hình chén, hình dĩa, hình bình, chậu và có loại như hình cái muỗng, hình dĩa được đặt trên giá có hình trụ.v.v…

Dầu dùng để đốt đèn được chế tác từ mỡ của động vật hoặc là dầu được lấy từ trong các hạt cũng như trong các thân cây và trong các chất khoáng sản..v.v… sau đó ở Đông độ làm ra loại đèn cầy cây được chế từ sáp ong chủng loại ngày một phong phú, đáp ứng nhu cầu thắp đèn cúng Phật ngày càng phát trong các nghi thức Phật Giáo Bắc Truyền.

Theo quan niệm của Phật Giáo Bắc truyền, nghi thức thắp đèn cúng Phật trong tự viện có rất nhiều ý nghĩa, thắp đèn làm trang nghiêm cho đạo tràng, thắp đèn khiến cho tín chúng phát khởi tâm cung kính, thắp đèn tượng trưng cho ánh sáng trí tuệ của Phật chiếu diệu hết thảy chúng sanh, thắp đèn để diệt trừ hết thảy các ám chướng của phiền não, xua đi hết thảy các vận hạn không may, dẫn dắt những điều cát tường đến cho tín chủ, vì vậy trong truyền thống nghi thức của Phật Giáo Bắc Truyền, đến mùa xuân lại đốt đèn quang minh trong pháp hội Dược Sư cầu quốc thái dân an, đến tháng bảy Vu Lan thắng hội lại thả hoa đăng cầu nguyện âm linh siêu thoát.

Đốt đèn cúng Phật trong nghi thức Phật Giáo Bắc Truyền còn một ý nghĩa giáo dục rất là sâu xa, như câu chuyện Bần Nữ cúng đèn ở trên đã nói. Nếu như ta đốt đèn cúng Phật bằng tâm thế tục, phô trương sự giàu có, mặc dù phát tâm cúng rất nhiều dầu, dùng các vật dụng sang trọng, mắc tiền để làm đèn để dâng cúng, nhưng có tránh được đâu nhân quả dầu cạn lữa tắt.

Cũng ví như của cải sang giàu, phước báu, đều nằm trong sự chi phối của luật nhân quả vô thường có đó rồi mất đó, khi hưởng hết rồi thì chẳng còn chi, hoặc khi nhắm mắt xuôi tay có đem theo được thứ gì.

Người nào khi phát tâm dâng đèn cúng Phật thì đừng sanh tâm đòi hỏi và mong cầu những điều lợi ích đến với mình, mà chỉ nên nhất tâm dâng cúng chư Phật, vì tất cả các công đức trong đốt đèn cúng Phật mà Đức Phật dạy trong Kinh Phật Thuyết Thí Đăng Công Đức và kinh Phật Vi Thủ Ca Trưởng Giả Thuyết Nghiệp Báo Sai Biệt Công Đức đã sẵn có, ta không mong cầu thì những công đức nêu trên cũng đã tròn đủ trong ta, chúng ta không cần phải khởi vọng niệm phiền não để kiếm tầm cúng dường với “Tâm không tức Phật” nếu phát tâm cúng dường như vậy, thì mới là chân cúng dường và như vậy thì ngọn đèn trí tuệ của chư Phật mới sáng mãi trong ta.

Đốt đèn cúng Phật trong nghi thức Nhiên Đăng cúng Phật có trong pháp hội Dược Sư hay trong nghi thức phóng liên đăng trong đại lễ Vu Lan Phật Giáo Bắc Truyền đều có chung một hàm ý là mong muốn trí tuệ của hết thảy chúng sanh nương treo ngọn đèn cúng Phật này để toả rạng, cầu nguyện Phật tâm và Phật tánh sáng suốt sẵn có trong mỗi con, thể hiện đức tánh từ bi bình đẳng không phân biệt. không bị các âm phiền não như phân biệt giai cấp, sang hèn, hơn thua, so đo của phàm phu làm lu mờ trí tuệ. Ý nghĩa cúng đèn với bản tâm thanh tịnh, tiếp nối ánh sáng trí tuệ của Phật Pháp để hiển bày được thể tánh chân như của Phật. Đốt đèn cúng Phật với phát tâm như vậy, đó được gọi là cúng dường ba la mật, cho nên tương ưng với Tâm và Pháp của Chư Phật và Chư Bồ tát.

copy: chúng tôi

Nghi Thức Cúng Thí Thực Trong Phật Giáo

Theo quan niệm Phật Giáo, với những người không tu tập thiện pháp, hạng người sát sinh, trộm cắp, gây ra nhiều ác nghiệp, khi chết sẽ không được vào cõi an lạc mà bị đầy xuống địa ngục hay vào ngạ quỷ. Những chúng sinh ở cõi ngạ quỷ này phải chịu nhiều khổ đau, đói rét, luôn mong muốn nhận được cúng phẩm của người thân. Chính vì vậy, nghi thức cúng thí sẽ giúp họ nhận được phẩm vật mà con người hiến cúng.

Những lưu ý khi làm nghi thức cúng thí thực

Khi làm nghi thức cúng thí thức sẽ được chia làm hai bàn cúng. Một bàn dành cho chư thiên và các loài quỷ thần có oai lực, ở bàn này chỉ cần cúng hương, đèn, hoa, trái và nước sạch. Còn một bàn dành cho các vong linh, quỷ đói, nên ở trên bàn này cần có cơm trắng, cháo, bánh, trái, gạo, muối. Khi cúng thí chúng ta không nên sát sinh, nên cúng đồ chay để tăng thêm phước đức cho chúng sanh.

NGHI THỨC CÚNG THÍ THỰC

Cúng hương

Nguyện dâng hương mầu này

Cúng dường tất cả Phật

Tôn Pháp, Chư Bồ Tát

Thinh Văn và Duyên Giác

Cùng các bậc Thánh Hiền

Duyên khởi đài sáng chói

Khắp xông mười phương cõi

Tỏa ngát các chúng sanh

Đều phát tâm Bồ Đề

Xa lìa các vọng nghiệp

Trọn nên Đạo Vô Thượng.

Cầu nguyện

Hôm nay, Phật tử chúng con…….., tại………… sắm sửa hương hoa phẩm vật, cúng thí âm hồn các đảng, vất vưởng thê lương, không nhà không cửa, không nơi nương tựa, đói khát thảm thương. Hoặc nơi chiến trường hoang dã, ngã gục tan thây, hoặc nơi thâm sơn cùng cốc, rắn độc gấu beo. Hoặc nơi sông sâu biển rộng, cá sấu vây quanh, xé nát thân ra, từng mảnh nhỏ. Tất cả oan hồn yếu tử, nay mời về núp bóng Từ Quang, dự đàn thí thực, nương nhờ Phật lực, sớm được siêu sinh tịnh độ. Ngưỡng mong Đức Phật cao dày, từ bi gia hộ.

Án thỉnh cô hồn

Hỡi cô hồn trước sau về tựu

Nghe lời khuyên để sửa lỗi mình

Quan Âm, Địa Tạng oai linh

Thích Ca Phật Tổ, câu kinh giải nàn.

Hỡi uổng tử hồn oan phưởng phất

Noi tâm lành của Phật làm gương

Ta bà cực khổ trăm đường

Mau tu thì được Phật thương độ trì.

Hỡi hương hồn chết chìm đáy biển

Và bao người ngộ độc bỏ thân

Nghe chuông thức tỉnh dần dần

Đừng ham danh lợi phù trần nhiễu nhương.

Hỡi cô hồn chết thiêu chết chém.

Hổ giáo thân bị yểm bị trù

Lắng nghe kinh kệ sớm tu

Khỏi vòng xích sắt tội tù nghiệp oan.

Hỡi hồn thác trong cơn binh lửa

Chết phong ba, chết giữa núi non

Khi nghe chuông giục boong boong

Hương thơm tỏa khắp, hồn còn nghe kinh.

Hỡi hồn ở đầu gành cuối bãi

Nương gió mây, phảng phất lời xưa

Hồn ơi, hồn hỡi tránh chừa

Những người gian ác dối lừa Phật tiên.

Các hồn bị gấu, beo, rắn cắn

Cùng những hồn số vắn vô danh

Hồn ơi, hồn hỡi tránh chừa

Rồi đây hồn sẽ vô ngần thảnh thơi.

Hỡi những hồn vì lời dèm xiểm

Đã hủy mình chết lụn căm gan

Sớm nghe kinh kệ, lời vàng

Phật liền dẫn lối chỉ đàng hồn tu.

Xin hồn tỉnh hướng về Phật Tổ

Ngài từ bi cứu độ vong linh

Bao hồn sinh tử tử sinh

Hôm nay hồn được nghe kinh pháp mầu.

Mông Sơn thí thực

Nam Mô Diêm Nhiên Vương Bồ Tát Ma Ha Tát. (3 lần)

Mãnh – Hỏa diệm diệm chiếu thiết thành,

Thiết thành lý diện nhiệt cô hồn,

Cô hồn nhược yếu sanh tịnh độ,

Phúng tụng Hoa Nghiêm bán kệ kinh

Nhược nhơn dục liều tri,

Tam thế nhứt thiết Phật,

Ưng quán pháp giới tánh,

Nhứt thiết duy tâm tạo.

Niệm Phật

A Di Đà Phật thân kim sắc,

Tướng hảo quang minh vô đẳng luân,

Bạch hào uyển chuyển ngũ tu di,

Cám mục trừng thanh tứ đại hải.

Quang trung hóa Phật vô số ức,

Hóa Bồ Tát chúng diệc vô biên,

Tứ thập bát nguyện độ chúng sanh,

Cửu phẩm hàm linh đăng bỉ ngạn.

Nam mô Tây Phương Cực Lạc thế giới, đại từ đại bi, A Di Đà Phật.

Nam Mô A Di Đà Phật.

Nam Mô Đại Bi Quan Thế Âm Bồ Tát.

Nam Mô Đại Thế Chí Bồ Tát.

Nam Mô Địa Tạng Vương Bồ Tát.

Nam Mô Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát.

Ý Nghĩa Và Công Đức Đốt Đèn Cúng Phật

Nói về đốt đèn cúng Phật, xưa giờ có một điển tích rất nổi tiếng đó là “Cô gái nghèo đốt đèn cúng Phật”.

Vào thời Đức Phật còn tại thế, tập tục đốt đèn cúng Phật đã được thịnh hành, kỳ nguyện đốt đèn mong cầu thăng trưởng phúc báu và trí huệ.

Đương thời có một cô gái nghèo, nghe Đức Phật thuyết pháp xong, biết được công đức của việc cúng dường, Cô phát tâm mua đèn cúng dường, nhưng cô không có tiền. Lúc đó cô gái nghèo liền cắt tóc của mình đem bán, số tiền cô bán tóc có được đem đi mua một cây đèn, đến trước Phật thắp cúng dường. Cô chân thành chắp tay, lễ lạy. Cô cảm thấy sung sướng vì đã hoàn thành được tâm nguyện của mình.

Sau đó, A Nan tôn giả đi kiểm tra các cây đèn, và phát hiện có một cây đèn cháy sáng và lâu nhứt, A Nan cảm thấy khác lạ và đi hỏi đức Phật.

Phật đà nói: “Vị chủ nhân của cây đèn này là người phát bồ đề tâm rộng lớn, hơn hẳn những vị cúng dường khác, thế nên cây đèn này cháy lâu và sáng nhứt. Sau đó vị cùng nữ này được Thế Tôn thọ ký là sẽ luân hồi trong 15 đời, mà đời nào sinh ra cũng trong nhà quý tộc, không những có tiếng mà còn được tu học Phật Pháp và sau sẽ thành Phật.

Trong Phật giáo đốt đèn không phải là “bỏ tiền ra để tiêu tai, hay cải đổi vận mệnh hay cầu phúc”, mà bên trong có hàm ý rất sâu sắc. Đốt đèn tượng trưng cho sự thắp sáng trí huệ quang minh, đèn chính là đại biểu cho trí huệ quang minh của Phật pháp, giống như khi ánh quang minh chiếu ra có thể phá trừ những phiền não u ám của chúng sinh. Cho nên, khi đốt đèn cúng Phật một mặt có thể nhận được sự gia trì của chư Phật, Bồ Tát phóng quang gia trì, tiêu trừ nghiệp chướng, mặt khác mượn vào việc đốt đèn mà nhắc nhở mình phải thường nghe kinh và Phật pháp, và vận dụng đạo lý của Phật Pháp để tu hành, để làm tăng trưởng phúc báu và trí huệ, hơn nữa còn tích luỷ tư lương thành Phật.

Đốt đèn tuy rằng cũng có công năng tiêu trừ tai nạn và kỳ phúc, hơn nữa Phật Pháp còn nói về nhân quả nghiệp báo, nếu như nhân duyên chưa đến, thì chúng ta phải thừa nhận quả báo và chấp nhập tiếp thọ. Chúng ta phải nên mượn và nhân duyên đốt đèn này mà tiếp cận với Phật giáo nhiều một chút để tìm hiểu về Phật Pháp, các việc ác không làm, các điều thiện nên làm, sửa đổi những thói hư tật xấu, thì những thiện duyên tự nhiên tích tập, và những tai nạn sẽ từ từ giảm trừ, đó mới chính là tiêu tai giải nạn, là phương pháp chuyển vận kỳ phúc, đó mới là ý nghĩa đốt đèn chân chính của Phật giáo.

Trong “Kinh Hiền Ngu” quyển 3 có nói “Cùng nữ chí thành tha thiết cúng một ngọn đèn, vĩnh viễn không bị tắt, các ngọn đèn của các vương hầu dâng cúng thì bị tắt. Điều đó chứng minh rằng tâm tha thiết, tâm chân thành dù phẩm vật nhỏ mà thắng xa phẩm vật lớn.

Thông qua sự tuỳ hỷ bố thí đốt đèn, cũng nhưng có thể tiến đến cúng dường Tăng đoàn, bảo trì chùa chiền, làm cho Phật Pháp hoằng dương, lợi ích cho nhiều chúng sinh, chúng ta vô hình hay hữu hình thực hành tài thí và pháp thí. Trong kinh “Phật Vị Thủ Già Trưởng Giả Thuyết Nghiệp Báo Sai Biệt Kinh” Cúng đèn được 10 công đức như sau:

1. Chiếu thế như đăng: người cúng đèn đời đời giống như đèn sáng, sinh làm người thì là vua của người. 2. Nhục nhãn bất hoại: Người cúng đèn mắt luôn luôn sáng, không hư hoại, không mù. 3. Đắc ư thiên nhãn: người cúng đèn đắc được thiên nhãn. 4. Thiện ác tri năng: Người cúng đèn phân biệt được pháp thiện và pháp ác. 5. Diệt trừ đại ám: Người cúng đèn có được trí huệ rộng sâu, phá tan đi những ngu si hắc ám. 6. Đắc trí năng minh:Người cúng đèn có trí huệ siêu vượt quần chúng, không bị mê hoặc ở bên ngoài, và có năng lực biện biệt thủ và xả. 7. Bất tại ám xứ: Người đốt đèn đời đời không bị chuyển trong tà kiến hoặc ở trong chổ hắc ám, thường được ở nơi quang minh thù thắng. 8. Cụ đại phúc báo: Người đốt đèn được sinh ra trong gia đình đại phúc báo, phúc báo ở đây không nghĩa là giàu có, mà là người cả một đời không biết tạo ác nghiệp, và đầy đủ cơ duyên tu trì thiện pháp. 9. Mệnh chung sinh thiên: Người đốt đèn khi chết sẽ không đoạ và ác đạo mà sinh thiên. 10. Tốc chứng Niết Bàn: Người đốt đèn thời gian rất mau sẽ đắc thánh quả.

Tỳ Kheo Thích Viên Ngộ

Bài Khác

Phật Giáo: Nghi Cúng Lễ Phật Thành Đạo

* Tiết thứ làm nghi:

– Cử nhạc khai đàn.

– Chủ lễ đăng điện.

– Chủ lễ niệm hương.

– CÚNG HƯƠNG(chủ lễ xướng): Nguyện đem lòng thành kính,

Phưởng phất khắp mười phương,

Cúng dường ngôi Tam Bảo.

Cùng pháp giới chúng sanh,

– TÁN PHẬT( Tán dương công đức Phật):

Đấng Pháp vương vô thượng,

Thầy dạy khắp trời người,

Cha lành chung bốn loại.

Xưng dương cùng tán thán,

Ức kiếp không cùng tận!

Phật, chúng sanh tánh thường rỗng lặng,

Đạo cảm thông không thể nghĩ bàn,

Lưới Đế châu ví đạo tràng,

Mười phương Phật bảo hào quang sáng ngời .

Trước bảo tọa thân con ảnh hiện,

Cúi đầu xin thệ nguyện qui y.

Tánh không tám đức sạch trần gian,

Pháp giới rộng thênh thang,

Lửa đỏ hóa sen vàng.

Nam mô Thanh Lương Địa Bồ Tát. (3 lần)

Nam mô hắc ra đát na, đa ra dạ da. Nam mô a lị gia bà lô kiết đế, thước bát ra da, bồ đề tát đỏa bà da, ma ha tát đỏa bà da, ma ha ca lô ni ca da. Án tát bàn ra phạt duệ, số đát na đát tả. Nam mô tất kiết lật đỏa, y mông a lị gia bà lô kiết đế, thất Phật ra lăng đà bà. Nam mô na ra cẩn trì hê rị, ma ha bàn đa sa mế, tát bà a tha đậu du bằng, a thệ dựng, tát bà tát đa, na ma bà đà, ma phạt đặt đậu đát điệt tha. Án a bà lô hê, lô ca đế, ca ra đế, di hê lị, ma ha bồ đề tát đỏa, tát bà tát bà, ma ra ma ra, ma hê ma hê, rị đà dựng, cu lô cu lô kiết mông, độ lô độ lô phạt xà da đế, ma ha phạt xà da đế, đà la đà là, địa rị ni, thất Phật ra da, giá ra gía ra. Mạ mạ phạt ra ma, mục đế lệ, y hê y hê, thất na thất na, a ra sâm Phật ra xá lợi, phạt sa phạt sâm, Phật ra xá da, hô lô hô lô ma ra, hô lô hô lô hê rị, ta ra ta ra, tất rị tất rị, tô rô tô rô, bồ đề dạ, bồ đề dạ, bồ đà dạ, bồ đà dạ, di đế rị dạ, na ra cẩn trì, địa rị sắt ni na, ba dạ ma na ta bà ha, tất đà dạ ta bà ha. Ma ha tất đà dạ ta bà ha. Tất đà du nghệ thất bàn ra dạ ta bà ha. Na ra cẩn trì ta bà ha. Ma ra na ra ta bà ha. Tất ra tăng a mục khư gia, ta bà ha. Ta bà ma ha, a tất đà dạ ta bà ha. Giả kiết ra a tất đà dạ ta bà ha. Ba đà ma kiết tất đà dạ ta bà ha. Na ra cẩn trì bàn đà ra dạ ta bà ha. Ma bà rị thắng kiết ra dạ ta bà ha.

Nam mô hắc ra đát na đa ra dạ da. Nam mô a rị da bà lô kiết đế thước bàn ra dạ, ta bà ha.

Án tất điện đô mạn đà ra bạt đà dạ ta bà ha.

Trên trời dưới đất không bằng Phật,

Thế giới mười phương cùng không sánh.

Thế gian có gì con đã thấy,

– TỤNG BÀI Ý NGHĨA NGÀY THÀNH ĐẠO:

Chúng con cung kính nghe rằng:

Khổ hạnh sáu năm quả mãn;

Hân hoan muôn đức công thành!

Muôn loài hưởng phước!

Và chư Phật tử chúng con.

Giờ này: Cung kính quỳ trước Phật đường,

Chí thành dâng lên pháp cúng.

Cúng dường đấng từ bi cứu thế,

Tôn vinh ngôi trí tuệ siêu trần.

Cỏ hoa hoan hỷ muôn phần,

Người, vật thiết tha một dạ.

Gọi hồn thế giới ba ngàn.

Soi sáng nước non tám vạn.

Trước đài nhất tâm qui mạng,

Trên tọa bách bảo chứng minh.

Một Bồ Tát xuất thế, Con vua Tịnh Phạn vương,

Người liền tuyên lời phán:

Chúng sanh Thánh sẽ thành, Vì tất cả chúng sanh,

Thành Chảng đẳng Chánh giác,

Cùng thiên nhạc thiên hương,

Xin Pháp Vương thuyết pháp.

Nhưng người chưa vội đáp,

Không thể được vội truyền,

Pháp thiêng của chư Phật.

Cùng với các phương tiện,

Trong trí thường nghĩ suy,

Người đến vườn Lộc Thú (Lộc Uyển),

Sống cuộc đời triền miên,

Là “Khổ, Tập, Diệt, Đạo”.

Muốn dứt (diệt) các khổ nhơn,

Hết các thứ nghiệp khiên,

Hết tham sân “sử triền”, (1)

Sống cuộc đời giải thoát,

Với “ngã tịnh thường lạc”, (2)

Vui hơn các trời cao!

Kính bạch Đức Bổn Sư Từ phụ!

Nhìn lại ánh sáng sao Mai,

Nhớ thuở Bổn Sư thành đạo,

Nghĩ tới lời vàng dạy bảo,

Nhớ ngày trời đất hân hoan.

Muôn thuở hào quang rạng rỡ,

Tỏa hương ngào ngạt nhơn gian.

Cầu cho đất nước bình an,

Nguyện cho nhân dân hạnh phúc.

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. (30 lần)

Nam mô Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát. (3 lần)

Nam mô Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát. (3 lần)

– LỄ 12 LỄ LỊCH SỬ ĐỨC PHẬT.

( Chủ lễ xướng đến: Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật thì nhịp khánh hướng dẫn Phật tử đồng hòa: Bổn Sư Thích Ca …)

A tỳ ngục tốt, mới phát lòng lành,

Một đời Bổ xứ, hiện ở Suất Đà,

Từ trời Đâu Suất, ứng mộng Ma Gia,

Dưới cây Vô Ưu, đản sanh thị hiện,

Hiện hưởng dục lạc, chán cảnh vô thường,

Nửa đêm vượt thành, xuất gia tìm đạo,

Dưới cây Đạo thọ, hàng phục ma quân,

Bốn mươi chín năm, độ sanh thuyết pháp

Dưới cây Ta La, Niết Bàn thị hiện,

Hiện tọa đạo tràng, Ta Bà giáo chủ,

Đạo sư ba cõi, Từ phụ bốn loài. Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. (1 lễ)

Tham thiền nhập định giữa rừng xanh,

MA HA BÁT NHÃ BA LA MẬT ĐA TÂM KINH.

Quán tự tại Bồ Tát hành thâm Bát Nhã Ba la mật đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách. “Xá Lợi Tử! Sắc bất dị không, không bất dị sắc, sắc tức thị không, không tức thị sắc. Thọ, tưởng, hành, thức diệc phục như thị”. Xá Lợi Tử! Thị chư pháp không tướng, bất sanh, bất diệt, bất cấu, bất tịnh, bất tăng, bất giảm. Thị cố không trung vô sắc, vô thọ, tưởng, hành, thức; thanh, hương, vị, xúc, pháp; vô nhãn giới, nãi chí vô ý thức giới; vô vô minh diệc vô vô minh tận, nãi chí vô lão tử diệc vô lão tử tận; vô khổ, tập, diệt, đạo, vô trí diệc vô đắc, dĩ vô sở đắc cố, Bồ đề tát đỏa y Bát nhã ba la mật đa cố, tâm vô quái ngại, vô quái ngại cố, vô hữu khủng bố, viễn ly điên đảo mộng tưởng, cứu cánh Niết Bàn. Tam thế chư Phật, y Bát nhã Ba la đa cố, đắc A nậu đa la Tam miệu tam Bồ đề. Cố tri Bát nhã ba la mật đa, thị đại thần chú, thị đại minh chú, thị vô thượng chú, thị vô đẳng đẳng chú, năng trừ nhất thiết khổ, chơn thiệt bất hư, cố thuyết Bát nhã ba la mật đa chú. Tức thuyết chú viết: “Yết đế, yết đế, Ba la yết đế, Ba la Tăng yết đế, Bồ đề tát bà ha”.

Hào quang chiếu diệu. Sáng tỏ mười phương, Ngộ lý chơn thường, Phá màn hôn ám. Đệ tử lòng thành bài sám, Trước điện dâng hoa, Cúng dường Phật Tổ Thích Ca, Ba ngôi thường trú. Đệ tử chúng con, Nhân lành chưa đủ, Nghiệp báo theo hoài. Nay nhờ Văn Phật Như Lai, Giáng trần cứu độ, Sáu năm khổ hạnh, Bảy thất tham thiền, Ma oán dẹp yên, Thần long che chở, Tâm quang rực rỡ. Chứng lục thần thông. Lộ chiếu minh tinh, Đạo thành Chánh giác, Trời, người hoan lạc, Dậy tiếng hoan hô. Năm mươi năm hóa độ, Ba trăm hội đàm Kinh,

Cứu phàm ngu thoát khỏi mê đồ, Tiếp Hiền Thánh siêu sinh Tịnh độ Muôn đời xưng tán, Vạn đức hồng danh, Đệ tử chí thành, Lễ bày kỷ niệm. Tâm hương phụng hiến, Gọi chút báo ân, Ngửa trông Vô thượng Pháp vương Từ bi gia hộ.

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. (3 lần) Nam mô Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát. (3 lần) Nam mô Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát. (3 lần) Nam mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát. (3 lần) Nam mô Đạo Tràng Hội Thượng Bồ Tát. (3 lần)

Vừa rồi bao nhiêu công đức,

Thích Ca Bổn Sư Hòa thượng,

Thành Đạo Thánh lễ tôn vinh,

Thùy từ tác đại chứng minh,

Cúng dường Thánh lễ đã viên hoàn,

Công đức ban cho khắp thế gian,

Phật tánh mọi loài đều sẵn có,

Khắp xin tất cả hãy hồi quang.

Nguyện tiêu ba chướng trừ phiền não,

Nguyện chơn trí tuệ thường sáng tỏ,

Nguyện bao tội chướng thảy tiêu trừ,

Kiếp kiếp thường tu Bồ Tát hạnh.

Nguyện sanh Tịnh độ cảnh Tây phương,

Chín phẩm hoa sen là cha mẹ,

Hoa nở thấy Phật chứng vô sanh,

Bất thoái Bồ Tát là bạn hữu,

Đều trọn thành Phật đạo.

Tự qui Phật, xin nguyện chúng sanh, thể theo đạo cả, phát lòng vô thượng. (1 lễ)

Tự qui y Pháp, xin nguyện chúng sanh thấu rõ kinh tạng, trí tuệ như biển. (1 lễ)

Tự qui y Tăng, xin nguyện chúng sanh, thống lý đại chúng, hết thảy không ngại. (1 lễ)

Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Ta Bà Giáo Chủ Đại Từ Đại Bi Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. (1 lễ)

Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Lộc Uyển Ngũ Vị Đại Tỳ Kheo A La Hán. (1 lễ)

Cúi đầu lễ tất.

(1) Sử triền: xuôi khiến, ràng buộc.

(2) Bốn Đạo quả Niết Bàn.

Nghi cúng lễ Phật Thành Đạo

Cập nhật thông tin chi tiết về Lược Ý Đốt Đèn Cúng Phật Trong Nghi Thức Nhiên Đăng Phật Giáo Bắc Truyền trên website Apim.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!