Xu Hướng 12/2022 # Làm Giỗ, Cúng Vong… Ai Ăn? / 2023 # Top 15 View | Apim.edu.vn

Xu Hướng 12/2022 # Làm Giỗ, Cúng Vong… Ai Ăn? / 2023 # Top 15 View

Bạn đang xem bài viết Làm Giỗ, Cúng Vong… Ai Ăn? / 2023 được cập nhật mới nhất trên website Apim.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Sau khi một người đã mất, vong hồn của họ có dùng được đồ ăn do người thân cúng hay không? Nhiều người cho rằng cần phải cúng vì họ dùng được nhưng cũng có ý kiến ngược lại.

Chết rồi thì sao mà ăn được?

“Tôi cho rằng việc cúng cơm hay là làm giỗ của các gia đình hiện nay cũng chỉ là nhằm tưởng nhớ và sự thành tâm của người còn sống đối với người mất. Chứ chết rồi thì sao mà ăn được? Chúng ta vẫn thấy thức ăn cúng xong vẫn còn đó thì người mất đã ăn cái gì?” Anh Hoàng Trọng Tín (quận Bình Thạnh) tâm sự

Với người đã mất nếu làm mâm cơm cúng, họ có thọ hưởng được hay không?

Trái với quan điểm của anh Tín, chị Nguyễn Thị Xuân (quận Gò Vấp) lại cho rằng: “Người mất thì vong hồn của họ vẫn còn, họ vẫn biết đến việc ăn uống, họ ăn hương hoa… Chứ không thể nói là họ không ăn gì cả.”

Còn chị Diệu Thanh (Đồng Nai) thì băn khoăn việc có nên cúng cơm sau 49 ngày hay không?: “Mẹ mất được 5 tuần, em gái nói rằng sau 49 ngày (chung thất) sẽ không cúng cơm nữa. Vì theo kinh Địa Tạng, sau 7 tuần thì thần thức của hương linh sẽ theo nghiệp mà thọ sanh. Vậy có nên cúng cơm nữa không?…

Nếu làm quỷ thần vẫn thọ nhận cơm cúng

Trao đổi về điều này, thầy Thích Phước Thái cho rằng: “Theo tinh thần của kinh Địa Tạng và quan điểm Phật giáo Bắc truyền, một người khi mất đi, thần thức của họ (thân trung ấm) hầu hết đều phải trải qua giai đoạn trung gian thường là khoảng 49 ngày để tìm cảnh giới tái sanh.

Trong thời gian thọ thân trung ấm, hương linh vẫn thọ dụng được tất cả những vật phẩm mà thân nhân dâng cúng (thường là cơm, nước, hương, hoa) nhưng chỉ hưởng mùi vị của thức ăn mà thôi. Vì thế, thân trung ấm còn được gọi là hương ấm (thọ dụng mùi hương của thực phẩm).

Cho nên trong vòng 49 ngày, thân nhân cần dâng cúng cơm nước hàng ngày cho người chết để họ được no đủ, đặc biệt vào những ngày tuần thất thường cúng kính trang trọng hơn (như đến chùa hoặc thỉnh chư Tăng về nhà làm lễ cầu siêu cho người quá vãng).

Chúng ta là người trần mắt thịt nên không thể biết được thân nhân sau khi chết tái sanh về đâu. Trong khi loài quỷ thần vẫn hưởng được đồ cúng vì thế việc dâng cơm nước vẫn nên thực hiện

Chúng ta là người trần mắt thịt nên không thể biết được thân nhân sau khi chết tái sanh về đâu. Trong khi loài quỷ thần vẫn hưởng được đồ cúng vì thế việc dâng cơm nước vẫn nên thực hiện

Sau 49 ngày, khi thần thức tìm được cảnh giới tái sanh, thường thì họ sanh về một trong sáu cõi của lục đạo (trời, a tu la, người, súc sanh, ngạ quỷ, địa ngục) và từ đây, sự thọ dụng của họ có khác biệt.

Ví dụ như, nếu thần thức sanh vào cõi trời thì họ sẽ không ăn thực phẩm của cõi người vì thực phẩm ở cõi trời thượng vị hơn rất nhiều lần. Hoặc nếu họ đọa vào địa ngục thì cũng không thể thọ dụng được thực phẩm của loài người vì bị hành hạ, phải ăn hòn sắt nóng, uống nước đồng sôi, chịu nhiều đau khổ cùng cực v.v…

Duy chỉ có các chúng sanh trong loài quỷ thần thì vẫn có thể “ăn” được những phẩm vật do thân nhân dâng cúng.

Ngoài ra việc làm cỗ dâng cúng cha mẹ, ông bà, tô tiên đã khuất của người Việt còn nhằm thể hiện tấm lòng thành của con cháu đối với người đã khuất. Do đó, để tưởng niệm người thân. Chính vì thế cứ vào các ngày giỗ hoặc lễ Tết thì các gia đình thường làm mâm cơm cùng hoa trái để cúng kính ông bà và tổ tiên.

Bên cạnh đó chúng ta là người trần mắt thịt nên không thể biết được thân nhân của mình sau khi chết tái sanh về đâu. Trong khi loài quỷ thần vẫn hưởng được đồ cúng vì thế việc dâng cơm nước vẫn nên thực hiện.

Những gia đình nào có người thân mất thì trong 49 ngày nên cúng cơm hằng ngày, còn vào các ngày lễ tiếp theo như tiểu tường, đại tường hay ngày kỵ giỗ hàng năm thì thân nhân cần phải làm mâm cơm cúng giỗ. Có điều không nên quá câu nệ vào hình thức.

Cách làm mâm cơm cúng vong

Nghi cúng cơm nầy truyền thừa trong dân gian, do ông bà từ ngày xưa bày ra. Đây là một tập tục có từ ngàn xưa.

Khi cúng để 3 chén cơm, một chén chính giữa phải đầy cơm và 2 chén 2 bên thì lưng. Chén cơm và đôi đủa ở giữa là để cúng cho hương linh mới chết, còn 2 chén và 2 chiếc đủa 2 bên là để cúng cho 2 bên vai giác, tức là tả mạng thần quang và hữu mạng thần quang.

Thường là để cúng 3 chén, 6 chén hoặc 9 chén, chớ để 5 chén là sai. Lý do để 2 chiếc đủa 2 bên, ý nói rằng, ma cũ thường ăn hiếp ma mới, nên chỉ để một chiếc mà không để nguyên đôi. Nếu để nguyên đôi, thì hương linh mới chết đó khó có thể ăn được trọn vẹn, mà bị các cô hồn giành giựt ăn hết vậy.

Cách thức cúng cơm nầy không phải là nghi thức của Phật giáo, mà là theo tục lệ tín ngưỡng nhân gian ngày xưa bày nay làm lại mà thôi.

Cúng Giỗ Ông Bà Tổ Tiên Như Thế Nào? Cách Làm Mâm Cơm Cúng Giỗ / 2023

Riêng giỗ, ông cha ta xưa rất coi trọng. Cúng giỗ tổ tiên, ông bà, cha mẹ, được coi là “báo hiếu”, là ngày con cháu tưởng nhớ đến công lao sinh thành, xây nếp đắp móng của các vị tiền hiền, và cầu xin vong linh các vị phù hộ độ trì cho.

Các cụ chia giỗ làm hai loại: giỗ trọng và giỗ thường

Giỗ trọng là giỗ những người thân mới mất, thường là ông bà, cha me. Còn giỗ thường là giỗ những người ở thế hệ xa hơn: cụ kỵ, chú bác, cô, anh chị… Các cụ vẫn truyền cho con cháu câu: “Ngũ đại mai tiền chi” (năm đời không còn chủ), tức là từ đời thứ 5 trở lên (đời kỵ) các cháu chắt không phải cúng giỗ nữa, nhưng những ngày tết và những ngày giỗ khác, các vị từ đời thứ năm trở lên vẫn được tiến chủ (người đứng lễ) khấn, mời về “đồng hưởng” cùng vong linh những người đã khuất của gia đình.

Nhân dân ta mang truyền thống “uống nước nhớ nguồn” nên hàng năm những vị khai sáng ra một dòng họ – được suy tôn là “khởi tổ” hoặc “thuỷ tổ” – vẫn được chắt chút cúng giỗ ở nhà thờ “đại tôn” (nhà thờ của họ).

Trong khoảng 20 năm trở lại đây, nhiều nhà thờ họ được xây lại, được tôn tạo sửa chữa tôn tạo và việc cúng giỗ tổ tiên được khôi phục. Họ nội nhà tôi là một họ nhỏ, lại phân tán, kỳ giỗ Tổ tộc họ hàng năm cũng được 6-7 chục chắt chút về dự. Họ ngoại của tôi là một họ lớn, mỗi lần giỗ tập trung tới 5-7 trăm người ở khắp nơi trong cả nước và ở cả nước ngoài. Đó là dịp để các chắt chút… của Tổ gặp nhau, trước tỏ lòng thành kính với Tổ, sau là nhận họ, nhận hàng.

Nhiều họ, ngày giỗ Tổ còn là ngày động viên chắt, chút… làm những việc tốt, tuyên dương những chắt, chút mới tốt nghiệp đại học, trên đại học, có phần thưởng cho những chút, chít mới đỗ vào đại học hoặc học giỏi. Ở Phú Thọ, còn có phong trào “dòng họ tự quản” với những “tộc ước” rất cụ thể.

Riêng ngày giỗ trọng thì mỗi gia đình tổ chức một khác

Quê tôi xưa thuộc ngoại thành Hà Nội, nay là quận Hoàng Mai, có một nếp sống rất đẹp là đám ma đám giỗ thì tuỳ tâm gia chủ, tổ chức như thế nào do gia đình bàn bạc thống nhất. Các cụ truyền dạy: “Đó là việc hiếu, mọi người đến không phải vì cỗ to, vì miếng ăn, mà là để tưởng nhớ người đã mất, vì họ hàng làng xóm tối lửa tắt đèn có nhau”. Vì vậy, các đám ma, đám giỗ ở quê tôi, không ai buông một lời chê, không có cãi vã, to tiếng, say rượu, cờ bạc…

Các cụ rất coi trọng cỗ, chứ không coi trọng cỗ. Ngày giỗ lấy tâm thành là chính chỉ cần “bát cơm, quả trứng” cúng là đủ. Vì vậy, hầu như tất cả các gia đình ở Hà Nội, dù làm giỗ to nhỏ, nhiều ít, mâm cao cỗ đầy như thế nào thì gần cuối buổi lễ đều dâng lên bàn thờ một bát hoặc một liễn cơm và một quả trứng (hột) vịt hoặc gà luộc đã bóc vỏ, và bóp vỡ một chút ở chỗ ít lòng trắng để lộ phần lòng thêm một ít muối bên cạnh.

Xưa những đám giỗ trọng ở quê tôi có hai cách tổ chức gàn như là lệ làng: Làm mở rộng đối với những giỗ mới, nhất là giỗ đầu (một năm sau ngày mất và giỗ hết (hai năm sau ngày mất, có nhà làm vào ngày thứ 100 sau hai năm gọi là giỗ bỏ tang hay “bỏ trở” – từ sau ngày đó, con cháu không phải để trở).

Làm trong phạm vi hẹp (chú bác, anh chị em, con cháu) rượu từ giỗ sau giỗ bỏ tang trở đi. Gia chủ có làm rộng cũng ít người đến.

Về cỗ, quê tôi có hai loại, tuỳ hoàn cảnh gia đình mà chọn:

– Làm cỗ bình thường (quê tôi gọi cỗ “bàn than”): chỉ có mấy món chế biến từ thịt lợn: luộc, rang, lòng, có thể thêm đĩa giò.

– Làm cỗ to (gọi là cỗ “đồ Tàu”) có những món cầu kỳ hơn, thường mỗi mâm có có bốn bát và tám đĩa: giò, nem, ninh, mọc, nấm, bóng…

Có gia đình khá giả làm cả bò, lơn, gà (hoặc dê) gọi là cỗ “tam sinh”.

Những giỗ làm theo phạm vi rộng thường 30 mâm, có nhà tới hàng trăm mâm, trong phạm vi hẹp độ 5- 10 mâm (mỗi mâm 6 người).

Trước ngày giỗ độ 10 ngày, ông trưởng (con trai đầu) mời tất cả con trai, con gái của người mất đến họ để thống nhất cách làm giỗ và phân công mỗi người một nhiệm vụ; người mua thực phẩm, người mượn bát đũa, mâm nồi, người dựng rạp. Các người con tự nguyện đóng góp, tùy khả năng và tùy tâm, không bổ bán, không chia đều. Sau khi thống nhất, hai vợ chồng trưởng nam phải đích thân đi mời từng nhà: “Tiếng chào cao hơn mâm cỗ!”, có nhà ế hàng chục mâm cỗ chỉ vì sơ suất khi mời.

Cũng như các nơi khác, quê tôi nhà nào cũng có một bàn thờ gia tiên đặt ở gian giữa – nơi trang trọng nhất, từ hai cột chính đến sát tường sau. Nhà nghèo thì bàn thờ là một tấm gỗ sơn đỏ nối hai cột chính với hai cột sau. Trên tường chính giữa dán một vuông giấy đỏ có viết một chữ Hán to “Phúc” hoặc “Thần”. Trên tấm gỗ, đặt ba bát hương, bát giữa kê cao hơn thờ thần linh, bát bên phải thờ gia tiên và bát bên trái thờ các “bà cô, ông mãnh” – những người chết chưa vợ, chưa chồng và được gia đình coi là linh thiêng. Hai góc trước của bàn thờ có hai cây nến tiện bằng gỗ.

Nhà khá hơn thì bàn thờ là một án thư có trang trí hoa văn, sơn son hoặc sơn then (đen), đèn nến bằng gỗ tiện sơn son. Nhà giàu thì chạm trổ “tứ linh” (bốn con vật thiêng: long (rồng), ly (kỳ lân), quy (rùa), phượng (chim phượng hoàng); mặt trước án thư là một tấm gỗ quý chạm “mai long” (cây hoa mai uốn hình rồng) hoặc chữ “ngũ long” (năm con rồng quây thành một vòng tròn), tất cả đều bằng sơn son thếp vàng.

Trên án thư có bộ “tam sự” bằng đồng, có nhà còn thêm bộ đài rượu bằng gỗ sơn son hoặc bằng đồng (gồm ba khối hình ống, đáy cao, có nắp đậy, trên mỗi đáy đặt một chiếc chén hạt mít, khi cúng cơm, gia chủ mở nắp, rót vào chén). Có nhà thêm ống cắm hương chưa thắp, mâm bồng để bày hoa quả…

Những năm từ giữa thế kỷ XX, khi kỹ thuật chụp ảnh phổ cập, thì trên án thư còn đặt ảnh những người đã mất; trên tường sau còn treo một bức hoành, có 3-4 chữ Hán to, ghi nguyện vọng, sự cầu mong của gia đình và đôi câu đối phẳng hoặc hình lòng máng nói về công đức của tổ tiên và lòng hiếu của con cháu; tất cả đều sơn son thiếp vàng.

Ở các nhà thờ “đại tôn”, sau án thư là một tấm cửa võng, chạm trổ tinh vi, sơn son thiếp vàng, phía sau treo hai cánh màn bằng vóc hoặc nhiễu đỏ, ngăn án thư với “hậu cung”, khi cúng, gia chủ vén màn sang hai bên, để lộ cung sau. Hậu cung là một cái bục lớn, cao ngang án thư bằng gỗ hoặc xây gạch, sát đến tường sau, trong cùng có một chiếc bàn vuông, trên đặt chiếc ngai sơn son thiếp vàng, trên ngai đặt chiếc bài vị gỗ mấy dòng chữ Hán: họ, chi, quê…

Hai bên ngai, đặt hai giá cắm nến; khi cúng, gia chủ thắp nến để chiếu sáng cho cung. Trước ngai có một chiếc mâm gỗ vuông cao để đặt cỗ khi cúng cơm. Thường vào ngày giỗ trong, nhà ông trưởng nam tấp nập từ chiều hôm trước, để hoàn tất việc chuẩn bị và để cúng cơm.

Thường vào ngày giỗ trọng, nhà ông trưởng nam tấp nập từ chiều hôm trước, để hoàn tất việc chuẩn bị và để cúng “tiên thường”. Hôm giỗ, mọi việc diễn ra khẩn trương từ 2-3 giờ sáng dưới ánh đèn đuốc, nhóm giết lợn, giết bò, chuẩn bị thực phẩm, người vo gạo, thổi xôi… Tiếng cóc cách giã giò hoà tiếng lao xao người nọ hỏi người kia, lệnh của ông trưởng vang vang… tạo ra một không khí nhộn nhịp của một nhà có đám.

Khoảng 8 giờ sáng, các mâm cỗ đã xong, một hoặc ba mâm được để lên bàn thờ (hoặc cung sau). Ông trưởng nam, áo the khăn xếp, bước lên chiếc sập trước bàn thờ để thắp hương, đèn nến rồi đứng giữa sập, hai tay chắp giữa ngực, lên gối xuống gối lễ ba lần, đoạn đứng nghiêm, mười ngón tay đan vào nhau và đưa lên ngang trán, miệng lầm rầm khấn.

Bài nhấn có ba phần. Mở đầu là ngày tháng năm (âm lịch), tại nhà thờ ở thôn, xã, huyện, tỉnh… tiến chủ tên gì, nhân ngày giỗ ai, thành tâm cúng tiến những gì. Phần sau là gia chủ kính mời từ thần linh, thổ địa, táo quân… đến tên họ và hiệu, nơi an táng các vị trong gia đình theo thứ tự từ trên xuống (chỉ khấn nam và dâu họ, nữ không khấn, trừ trường hợp chết chưa có chồng).

Cuối bài khấn là những cầu xin. Khấn xong, ông trưởng nam lễ một lễ và ba vái nữa, rồi rót rượu cúng. Một số họ lớn, khi giỗ tổ họ, tổ chức dâng hương tế tổ và thay bài khấn bằng một bài văn tế, ông trưởng lễ xong thì đọc bài văn tế, rồi đem ra sân đốt như đốt sớ ở đình chùa.

Khi ông trưởng nam khấn xong, những người đến dự giỗ lần lượt già trước, trẻ sau vào lễ, người nào cũng đem một ít hoa, quả hoặc vàng hương, trầu rượu đặt lên bàn thờ rồi lễ, mỗi người ba lễ một bái, nam thì lễ như ông trưởng, nữ thì ngồi vào góc sập, chắp hai tay trước ngực, khi cúi thì giáp mặt tận chiếu, hai bàn tay xoè ra đặt hai bên đầu. Những bà gia đình có đại tang (bố mẹ hoặc chồng mới chết) phải lật một phần chiếu, ngồi xuống mặt sập, hai tay lật ngửa vòng khăn trắng quấn tóc mà lễ.

Thường cháy dở tuần nhang (hương) thứ hai thì cúng cơm và cuối tuần nhang thì ông trưởng nam tạ lễ, hoá vàng rồi hạ cỗ cho con cháu xin lộc.

Sơ qua phong tục cúng giỗ của người Hà Nội khoảng giữa thế kỷ XX như vậy để thấy ông cha ta rất cẩn trọng khi cúng giỗ. Giỗ là để họp mặt gia đình, để tưởng nhớ và noi gương tốt của những người thân trong gia đình đã mất, đó là việc hiếu, là một hoạt động tâm linh của người Việt nói chung, người Hà Nội nói riêng. Nó mang nặng tính truyền thống và là một phong tục đậm đà bản sắc dân tộc, cần được duy trì.

Khoảng trên chục năm nay, khi đời sống nói chung khấm khá, việc cúng giỗ được nhiều gia đình, dòng họ khôi phục. Nhưng do không hiểu hết ý nghĩa đúng hoặc không có ai hướng dẫn, hoặc cố tình làm to, làm trong diện rộng để khoe khoang, để thu lời.

Có người đi ăn giỗ để đền ơn người sống, để hối lộ, nên đặt lên bàn thờ không phải đồ lễ mà là phong bì… làm cho đám giỗ mất đi ý nghĩa cổ truyền của nó, gây một sự ganh đua giữa các gia đình, tạo điều kiện cho một số việc làm xấu, một số tệ nạn xã hội – thường là cờ bạc, đốt vàng mã – phát triển.

Bàn Thờ Vong Người Mới Mất Trước Khi Lập Cần Làm Gì? / 2023

Lập bàn thờ vong người mới mất là một trong những thủ tục quan trọng trong lễ tang truyền thống của người Việt Nam. Tuy vậy, lại rất ít người hiểu rõ về thủ tục này. Hãy cùng Bàn thờ Hòa Phát giải đáp những thắc mắc của các bạn nhé!

Bàn thờ vong người mới mất và phong tục thờ cúng của người Việt

Lập bàn thờ vong người mới mất

Để có thể hiểu rõ hơn về bàn thờ vong người mới mất, trước hết chúng ta tìm hiểu ý nghĩa của hai từ “thờ cúng”. Ý nghĩa của “Thờ” có nghĩa là dựng lên cái gì đó về mặt hình thức, về tín ngưỡng, còn “cúng” là dâng lên những thực phẩm, rượu nước, trái cây, nhang đèn,… Điều này có thể cảm nhận được bằng các giác quan, để ngửi, để thưởng thức. Từ thờ cúng chỉ để dành cho người đã mất. Việc thờ cúng người mất sẽ bắt đầu từ lúc đám tang diễn ra, tiếp sau đám tang là tuần thất, rồi đến là đám giỗ.

Đối với người Việt Nam, việc thờ cúng rất đa dạng và phong phú: thờ Phật, thờ thần, thờ anh hùng có công, thờ ông bà tổ tiên,… nên dân tộc ta được gọi là đa tín ngưỡng. Trong đó việc thờ cúng những người đã mất rất quan trọng và linh thiêng, bởi khác với suy nghĩ của người phương Tây “người chết là lên thiên đường”, thì theo quan niệm của mỗi người Việt Nam, chúng ta xem cái chết là điều vô cùng buồn thương, đau xót. Những người thân ra đi là nỗi đau to lớn không thể nào bù đắp nổi. Trong lễ tang truyền thống của người Việt Nam, ngoài tục lệ con cháu đội chiếc khăn tang trên đầu, lóc thương thảm thiết,… thì còn hiện hữu vô cùng nhiều phong tục khác với các ý nghĩa riêng, mà một trong số đó là tục lập bàn thờ vong cho người mất.

Cách sắp xếp bàn thờ vong người mới mất

Những người mới mất thường sẽ chưa được thờ chung với tổ tiên mà được lập một bàn thờ riêng tại gian thờ hoặc gian nhà ngang, với bài trí tương đối đơn giản, gồm: một bát nhang, bài vị (hoặc ảnh), mâm ngũ quả, lọ hoa, chén nước, ngọn đèn… Trong vòng 100 ngày tính từ ngày bắt đầu an táng xong, người nhà đều thắp hương với cơm canh trước khi gia đình ăn cơm để mời người mới mất thụ hưởng, bởi có quan niệm vào thời gian này, linh hồn người chết “hồn vía còn nặng” chưa thể siêu thoát được, còn quyến luyến người thân nên vẫn luẩn quẩn xung quanh nhà. Những người sống cũng làm việc này bởi không muốn tin vào sự thật là họ vừa mới mất đi một người thân, làm như vậy để dịu bớt phần nào nỗi buồn. Nhưng có nơi chỉ cúng cơm đến 49 ngày (tức lễ chung thất).

Đặt bàn thờ người mới mất

3 năm sau khi người mới mất được bốc mộ bát nhang, họ sẽ được rước lên bàn thờ tổ tiên. Sau lễ trừ phục (còn gọi là đàm tế) thì bàn thờ người mới mất sẽ được loại bỏ cùng những đồ thờ riêng, đưa ảnh chân dung và bát nhang lên, đặt ở hàng dưới của bàn thờ tổ tiên. Trường hợp gia đình không có bàn thờ tổ tiên thì sẽ vẫn giữ lại như cũ, chỉ cần yết cáo tổ tiên lên bàn thờ tổ. Tuy nhiên, có nơi chỉ cúng cơm đến 49 ngày (tức lễ chung thất) là đã làm lễ chuyển bàn thờ vong lên bàn thờ tổ tiên.

Thủ tục chuyển bàn thờ vong người mới mất sau 49 ngày

Sau 49 ngày, rất nhiều gia đình cúng rước bát nhang người mới mất chuyển lên bàn thờ tổ tiên, từ đây sẽ kính lễ như với ban thờ gia tiên và không phải cúng mâm cơm nữa.

Cụ thể cách chuyển bàn thờ sau 49 ngày thực hiện từng bước như sau:

Bước 1: Khi chuyển bàn thờ vong người mới mất cũng cần phải chọn ngày tốt, bằng cách xem theo sách tử vi, các website phong thủy chọn ra ngày hoàng đạo. Ngoài ra, các bạn cũng có thể tìm các thầy cúng, thầy phong thủy để nhờ họ xem ngày.

Bước 2: Để làm thủ tục chuyển bàn thờ , các bạn cần phải chuẩn bị mâm lễ cúng 49 ngày như sau: 1 con gà luộc, 1 đĩa xôi, 1 đĩa hoa quả, 1 chai rượu trắng, 1 lọ hoa tươi, 1 bát nước sạch, 3 lá trầu được têm sẵn, 1 con ngựa đỏ và 1 con ngựa vàng (có đủ hia, hài, mũ, kiếm), 1 bộ quần áo màu vàng cùng 1 bộ quần áo màu đỏ, vàng mã, sớ…

Bước 3: Vái lạy, thắp hương.

Bước 4: Đọc văn khấn (mẫu văn khấn xin chuyển bàn thờ gia tiên sau 49 ngày)

Bước 5: Sau khi khấn xong thì đem tiền vàng cùng tờ văn khấn chuyển bàn thờ đi hóa. Gạo và muối các bạn rắc từng thứ trước cửa chứ không đem vào nhà sử dụng lại nữa.

Bước 6: Khi hương tàn thì các bạn bái tạ và hạ các vật dụng trên bàn thờ xuống, lau chùi lại bàn thờ cho người mới mất sạch sẽ.

Bước 7: Lập bàn thờ vong người mới mất và sắp đặt các vật dụng lên bàn thờ.

Văn khấn an vị bát hương bàn thờ người mới mất

Qua đây, hy vọng các bạn sẽ hiểu rõ hơn về cách lập bàn thờ vong cho người mới mất sao cho chuẩn và đúng phong tục nhất. Với kinh nghiệm hơn 20 năm trong lĩnh vực nội thất phòng thờ chúng tôi luôn tự hào vì trong suôt những năm tháng qua được hầu hết các khách hàng tin tưởng và hài lòng tuyệt đối. Mong rằng bài chia sẻ về cách lập bàn thờ vong người mới mất sẽ mang đến nhiều điều hữu ích cho bạn.

Kiến thức bổ ích bạn không nên bỏ qua: Tất cả những điều cần biết về bàn thờ Phật Bà Quan Âm treo tường.

Có Được Gộp Cúng Giỗ Chung Được Không? Làm Thế Nào Để Đơn Giản Hóa Việc Cúng Giỗ? / 2023

VẤN: Nhà con là nhà từ đường và thường xuyên tổ chức đám giỗ, chay mặn đủ kiểu và má con rất khổ vì suốt ngày lo cúng quanh năm. Nhà con lại không khá giả gì. Có nhiều người phải thờ cúng con cũng không biết là ai, đời ông Cố ông Sơ. Con có hỏi má con sao không gộp lại để cúng chung như vậy sẽ đỡ mệt thì con bị gia đình la là không hiểu đạo lý uống nước nhớ nguồn, phải cúng cửu huyền thất tổ. Cửu huyền thất tổ là những ai và nếu cúng bao nhiêu đời vậy thì làm sao có thời gian và tiền bạc để cúng. Nếu không cúng tổ tiên ông bà có làm sao không vì ở nước ngoài con thấy họ có cúng bái gì đâu? Nếu cúng thì con thật sự không biết làm sao để giản đơn tránh tốn thời gian và tiền bạc cho gia đình. Con xin cảm ơn Sư rất nhiều. ĐÁP: I .

Đám giỗ, cúng giỗ, kỵ giỗ, giỗ chạp, mầng lễ giỗ, giỗ ông bà, giỗ cha mẹ, giỗ người thân, giỗ người đã qua, tưởng niệm người đã khuất bóng…tất cả những từ ngữ trên trở thành văn hóa Việt từ lâu đời. Giỗ là một buổi lễ, nghi thức theo phong tục tập quán của người Việt nhằm tưởng nhớ đến những người đã qua đời. Giỗ được tổ chức vào đúng ngày mất theo Âm lịch của người được thờ cúng. Ý nghĩa của giỗ là để nhắc nhở con cháu về những người đã đi trước; gắn kết tình cảm của các thành viên trong cùng một gia đình, dòng họ, đôi khi trong cùng nghề. Không cúng lễ giỗ không thành nhân nghĩa, không dự lễ giỗ ông bà coi như thành viên đó không còn được công nhận trong gia tộc.

Theo sách “Thọ Mai Gia Lễ” việc cúng giỗ chỉ thực hiện trong 5 đời theo phép “Ngũ đại đồng đường”, đến đời thứ 6 người chịu trách nhiệm cúng giỗ sẽ mang “thần chủ” của cụ 6 đời đem đi chôn mà không thờ cũng nữa gọi là “ngũ đại mai thần chủ”. Tất cả các “thần chủ” đều được sửa lại nâng lên 1 đời tính từ người chịu trách nhiệm cúng giỗ, còn về phần cụ 6 đời sẽ rước vào nhà thờ họ để khấn chung với cộng đồng gia tiên trong những dịp xuân tế hay chạp tổ.

Lễ giỗ theo Nhà Phật

Đối với nhà Phật, nam nữ Phật tử ngày nay tiến bộ vượt bậc, đám giỗ ông bà thì cúng chay, đãi nước ngọt, ngoài thân bằng quyến thuộc, còn có nam nữ Phật tử đến tụng kinh niệm Phật cầu nguyện cho ông bà, hoặc gia đình tự khai đàn tụng kinh. Có khi gia đình Phật tử còn thỉnh chư Tăng Ni đến để tụng kinh Địa Tạng, kinh A Di Đà, cúng dường trai Tăng cầu phước cho gia đình.

Có nhiều gia đình mỗi năm cúng giỗ đến 15 , 18 đám giỗ, đám giỗ ôi là đám giỗ, làm đám giỗ hoài, mãi dẫn đến nghèo xơ xát. Ở nông thôn thường nói câu: “…đám giỗ nhiều quá, nhà không còn một cộng lá để nấu cơm…”.

Nhiều gia đình Phật tử có đến hỏi Sư phải làm sao để giảm bớt cúng giỗ, đỡ tốn kém ngân sách gia đình. Sư hướng dẫn, các vị cúng hiệp kỵ:”nghĩa là thay vì mỗi năm cúng 18 lần giỗ, ta chỉ cúng một lần gọi là “cúng hiệp kỵ”, chọn một ngày tốt lành vào khoảng 15, 20 hay 25 tháng chạp tổ chức cúng linh đình, long trọng, mời toàn thể gia quyến tham dự một lần, khấn nguyện chung ông bà, cha mẹ, những người đã qua về chứng kiến.

II .

Các đời cửu huyền thất tổ:

“Cửu huyền: Chín đời: Cao, tằng, tổ, cha, mình, con, cháu, chắt, chít. Thất tổ: Bảy đời: Cao, tằng, tổ, cao cao, tằng tằng, tổ tổ, cao tổ.”

Mặc dầu trong các từ điển, chúng tôi không thấy có chữ “huyền” nào có nghĩa là “đời” cả, nhưng qua quá trình Việt Hoá, chữ nầy được hiểu như là “đời”, và có lẽ nên dịch là “thế hệ” thì chính xác hơn.

Chín thế hệ trên, nếu phiên âm bằng chữ Hán thì được viết như sau: Cao – Tằng – Tổ – Khảo – Kỷ – Tử – Tôn – Tằng – Huyền. Như vậy, nếu lấy thế hệ mình làm chính thì tính ngược lên bốn đời và tính xuống bốn đời thành ra chín đời.

Một vị Hoà Thượng mà người viết có duyên học hỏi đã giải thích rằng, sở dĩ gọi chữ “Huyền” ở đây vì chữ “Huyền” trong “cửu huyền” này vốn có nghĩa là “đen”, vô lượng kiếp chúng sanh luân hồi sống chết, khi thân xác này rã rời, phân ly, trả về cho tứ đại, những chất tinh tuỷ xương máu và thịt tan rã, huỷ hoại đều biến thành màu đen nên gọi là “huyền”. Bởi chín thế hệ vần xoay, sống chết như vậy nên gọi là “cửu huyền”.

Thất Tổ: Là bảy ông tổ. Tổ là ông nội của đời mình; đi ngược lên sáu đời nữa gọi là thất tổ.

Như vậy, chữ “cửu huyền” bao quát hơn chữ “thất tổ”. Vì “thất tổ” chỉ cho các thế hệ đi trước, còn “cửu huyền” không những chỉ cho bốn thế hệ trước mà còn nhắc đến bốn thế hệ sau nữa. Chính vì vậy, nơi thờ phụng những vị quá vãng còn được gọi là “Nhà Thờ Cửu Huyền” (viết bằng tiếng Việt), thỉnh thoảng dùng bốn chữ “Cửu Huyền Thất Tổ” (viết bằng chữ Hán), Nhà Thờ Họ, Nhà Chung, bàn thờ ông bà thờ bức tranh sơn thủy thật lớn trên bàn thờ ông bà.

Chư Tăng Ni miền Nam và miền Bắc cũng dùng cụm từ này để chỉ cho nơi thờ ông bà, cha mẹ mình nhiều đời, nhưng không phổ biến rộng rãi, các vị thường dùng từ “hương linh” chỉ người đã khuất, và nơi thờ các hương linh ấy được gọi là “bàn linh”. Các tịnh xá thuộc hệ phái Khất Sĩ dùng từ “Cửu Huyền” hoặc cả “Cửu Huyền Thất Tổ”, tại Quan Âm tu viện gọi là Viện Vãng Sanh chỉ cho nơi thờ những người đã quá vãng.

Không cúng có sao không?

Cúng giỗ chạp là truyền thống ông bà xưa nay, là phong hóa dân tộc Việt, là suối nguồn vui tươi đến với gia đình trong những ngày sắp đến giỗ chạp. Ngày kỵ giỗ của gia đình Việt Nam là ngày tưởng nhớ ông bà cha mẹ quá thế, đền ơn đáp nghĩa theo Sư nghĩ, nếu không cúng thì 80% người Việt Nam khó mà chấp nhận, vì các vị quan niệm đó là những gia đình không hiếu thảo với ông bà “hưởng của ông bà mà không nhớ ơn cúng quảy ông bà”, dường như việc không cúng ông bà là hiện tượng đi xuống của gia đình. Nên dù cúng lớn hay cúng nhỏ, cúng ít hay cúng nhiều, “giàu làm kép, hẹp làm đơn” theo Nhà Phật các Phật tử cũng nên cúng kính cho gia đình an cư lạc nghiệp. Đó cũng nhằm tưởng niệm công ơn của ông bà trong ngày sum họp gia đình, thân bằng quyến thuộc.

Công cha như núi Thái Sơn

Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra

Một lòng thờ mẹ kính cha

Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con

Người Phật tử phải chu toàn

Tưởng người quá cố nguyện cầu siêu sanh

Ngày tưởng niệm bỏ sao đành

Cầm lòng không đậu gia can không còn

Dù ta biết cửu huyền siêu

Nhưng ngày giỗ chạp ít nhiều không quên

Tưởng niệm là để đáp đền

Công ơn người quá cố trên liên đài

Việc cúng không cúng là sai

Không cúng là việc Đạo ngoài Đạo ta

HT Thích Giác Quang

Cập nhật thông tin chi tiết về Làm Giỗ, Cúng Vong… Ai Ăn? / 2023 trên website Apim.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!