Xu Hướng 2/2024 # Kiệt Tác Thiên Nhiên Của Kiên Giang – Tạp Chí Thủy Sản Việt Nam # Top 10 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Kiệt Tác Thiên Nhiên Của Kiên Giang – Tạp Chí Thủy Sản Việt Nam được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Apim.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Hoang sơ và trong lành

Hòn Sơn thuộc xã Lại Sơn, huyện Kiên Hải, tỉnh Kiên Giang, nằm giữa Hòn Tre và quần đảo Nam Du, cách đất liền khoảng 60 km, với diện tích 11,5 km2. Hòn Sơn có hơn 2.012 hộ gia đình với 8.120 khẩu. Người dân chủ yếu sống bằng nghề nuôi trồng, đánh bắt hải sản, đóng tàu, chế biến tôm, cá, mực khô và làm nước mắm. Hòn Sơn có tên gọi khác là Hòn Sơn Rái. Tương truyền, sở dĩ hòn đảo có tên này là vì trước đây trên đảo có một loài cây tên là dầu rái mọc rất nhiều, nhựa cây dùng quét lên vỏ thuyền để chống nước biển ăn mòn. Ý kiến khác cho rằng là do lúc trước quanh đảo có rất nhiều rái cá sinh sống. Năm 1777, khi Nguyễn Ánh chạy trốn quân Tây Sơn đến đây, có một con rái cá khổng lồ dâng hải sản lên cho ông, nên ông đặt tên cho hòn đảo là Hòn Sơn Rái.

Hòn Sơn thuộc xã Lại Sơn, huyện Kiên Hải, tỉnh Kiên Giang. Ảnh: ST

Với đường bờ biển dài hơn 1 km uốn cong hình lưỡi liềm, đảo Hòn Sơn có 5 bãi biển là bãi Bàng, bãi Nhà, bãi Thiên Thuế, bãi Giếng và bãi Bấc. Đây đều là những bãi biển đẹp với biển xanh, cát trắng, nắng vàng quanh năm, sóng nhè nhẹ vỗ bờ, nước biển sạch cùng nhiều bãi đá lớn, nhỏ. Trong đó, bãi Bàng được xem là bãi biển đẹp nhất, nơi đây có làn nước trong xanh, những rặng dừa dọc bờ biển đung đưa theo gió, không khí biển mát mẻ thích hợp để thư giãn. Hiện nay, nhiều dịch vụ du lịch cũng được phát triển tại bãi Bàng như lặn ngắm san hô, câu mực, câu cá…

Bãi Thiên Tuế nằm ở phía tây đảo, nơi có những khối đá tạo hình kỳ thú, gần như vẫn giữ nguyên được vẻ đẹp hoang sơ và độc đáo. Bãi Đá Chài và Bãi Giếng nằm sát bãi Thiên Tuế, dựa lưng vào dãy núi có rừng cây nguyên sinh. Ở đây có những mô đá phẳng nguyên khối chạy dài ra mép nước. Không gian thoáng đãng rất phù hợp để tổ chức vui chơi, cắm trại.

Cây dừa huyền thoại ở Bãi Xếp. Ảnh: ST

Bãi Xếp là bãi biển còn hoang sơ, trên bãi cát có những hòn đá to nằm như được sắp đặt. Đặc biệt, ở Bãi Xếp có cây dừa ngã nằm gác mình qua hai tảng đá lớn, được khách du lịch đặt tên là “cây dừa huyền thoại” bởi ai đi về cũng có một tấm hình chụp cùng cây dừa này.

Tiềm năng du lịch khám phá

Hòn Sơn có 7 đỉnh núi liền nhau, trong đó nổi bật là Ma Thiên Lãnh với độ cao 450 m so với mặt nước biển. Để lên đến đỉnh núi cần vượt qua những bậc thang và đi qua con đường mòn quanh co, đầy sỏi, dài hơn 3 km. Trên đỉnh Ma Thiên Lãnh có một tảng đá bằng phẳng, phong cảnh xung quanh rất đẹp, không gian mênh mông, xanh thẳm của biển trời, tiếng núi rừng, chim muông ríu rít. Theo truyền thuyết, nhờ cảnh đẹp non nước hữu tình nên các nàng tiên trên trời thường nhảy múa ở đây mỗi lần hạ giới nên còn được gọi là Sân Tiên.

Sân Tiên trên đỉnh Ma Thiên Lãnh. Ảnh: ST

Cảnh đẹp hoang vu, huyền bí này cũng thu hút không ít các đạo sĩ, những người quy ẩn giang hồ đến thiền định trong các hang động, am miếu. Theo người dân nơi đây, có tu sĩ đến Sân Tiên tu thiền ẩn cư trong một hang đá khắc dòng chữ “Mai Dương Kiếm Pháp”, trong hang có đầy đủ vật dụng: bàn ghế, giường, tủ sách… làm bằng cây rừng. Cuộc đời và cách hành xử của những người này được người dân truyền miệng với nhiều câu chuyện nửa hư nửa thực, tạo nên một màu sắc liêu trai huyền bí bao trùm lên đỉnh núi này.

Một ngọn núi khác cũng không kém hấp dẫn là núi Ông Rồng cao hơn 250 m so với mực nước biển. Đường đi đến đỉnh núi Ông Rồng chỉ bằng 1/3 so với Ma Thiên Lãnh nhưng khó đi hơn, phải băng rừng, vượt suối, càng lên cao đường càng dốc, có những dốc cao cả mét, trơn trợt, hay những đoạn dốc gần như thẳng đứng, phải bám dây leo, cây rừng mà đi. Lên đến đỉnh sẽ thấy cây thiên tuế cổ thụ mọc trong vách núi, thân ngã khoanh tròn như thân con rồng với đầu hướng ra biển, nên núi mới được gọi là Ông Rồng. Theo các nhà nghiên cứu, cây thiên tuế này có tuổi đời trên 300 năm nếu tính theo mắt lá (một năm thay lá một lần).

Nét đẹp tâm linh

Ngoài thắng cảnh đẹp, Hòn Sơn còn có những di tích mang nét tâm linh của xứ biển, gắn với giai thoại của người bản địa. Trên đảo có các đình, chùa như: Đền thờ Nam Hải Đại tướng quân, Đình thần Lại Sơn, Miễu Bà Cố Chủ, Thánh Thất Cao Đài, Chùa Hải Sơn… Theo người dân trên đảo, Miếu Bà Cố Chủ là nơi thờ người phụ nữ đầu tiên đến khai phá Hòn Sơn Rái và được xem là thần cai quản vùng biển Lại Sơn. Để tưởng nhớ đến công ơn của Bà, người dân nơi đây đã lập miếu thờ, tổ chức lễ cúng vào ngày 9 tháng 9 âm lịch hàng năm.

Di tích đền thờ thần Nam Hải tọa lạc ở Bãi Thiên Tuế là nơi bảo quản nhiều bộ xương cá Ông. Lễ hội Nghinh Ông vào ngày 15 và 16 tháng 10 âm lịch hàng năm là một nét văn hóa đặc trưng của người dân trên đảo. Vào ngày hội này, tất cả người dân sẽ hội tụ lại, đặc biệt là những người sinh sống bằng nghề đánh bắt hải sản.

Thời tiết ở Hòn Sơn quanh  năm dễ chịu nên bạn có thể đến đây vào bất cứ thời điểm nào trong năm. Tuy nhiên, lý tưởng nhất để du lịch đảo Hòn Sơn là vào khoảng tháng 5 đến tháng 12, bởi mùa này biển êm và nhiều hải sản tươi ngon.

Lễ Cúng Chẩn Tế Của Cư Dân Nam Bộ (Thạc Sĩ Lam Phương) – Tạp Chí Văn Hóa Phật Giáo

Sau hàng nghìn năm du nhập vào nước ta, Phật giáo đã được đông đảo cư dân Việt tiếp nhận, vì Phật giáo không chỉ lý giải các vấn đề phát sinh trong cuộc sống, mà còn có những hoạt động thực tế giúp giải quyết những mâu thuẫn xã hội. Trong số đó có lễ cúng chẩn tế, nghi thức này tuy chưa diễn tả hết tinh thần và tư tưởng Phật giáo, nhưng là một trong những nỗ lực của Phật giáo theo hệ tư tưởng Bắc truyền, nhằm vận dụng những hoạt động thực tiễn để đưa Phật giáo đến gần hơn với người dân. Phật giáo khi du nhập đến bất kỳ vùng đất nào đều có sự tiếp biến với văn hóa địa phương. Tại Nam bộ, lễ cúng chẩn tế đã tiếp thu nhiều yếu tố văn hóa bản địa, đồng thời cũng tạo nhiều ảnh hưởng sâu sắc trong đời sống cư dân nơi đây.

KHÁI NIỆM CÚNG CHẨN TẾ:

Chẩn tế có nguồn gốc từ chữ Hán, là dùng tiền hoặc thực phẩm, y phục,… để “cứu tế cho dân nghèo đói hoặc gặp tai họa”[1]. Thiền sư Thích Nhất Hạnh có định nghĩa chẩn tế như sau: “chẩn” là phân phát; “tế” là cứu giúp, tế độ, đưa người khác ra khỏi hoàn cảnh ngặt nghèo[2]. Trong tâm thức chung của cộng đồng, khi nói đến cúng chẩn tế, mọi người thường nghĩ đến cúng cho người chết, hay hiểu đơn giản “cúng chẩn tế là dâng các loại phẩm vật cho người đã chết”. Tuy nhiên, lễ cúng chẩn tế không chỉ cho người quá cố mà còn đáp ứng yêu cầu của người sống, là một phần trong lễ cầu an và cầu siêu.

Về niên đại lễ chẩn tế du nhập Việt Nam, hiện chưa có một tư liệu nào nói chắc chắn. Trong Việt Nam Phật giáo sử luận, tác giả Nguyễn Lang cho rằng khoa nghi này do ngài Hứa Tông Đạo từ Trung Hoa truyền vào Việt Nam đầu thế kỷ XIII. Hiện chúng ta còn có một tư liệu do Trúc Lâm Đệ tam tổ Huyền Quang soạn là: “Pháp sư đạo tràng công văn cách thức thủy lục chư khoa”.

QUY TRÌNH THỰC HIỆN LỄ CÚNG CHẨN TẾ:

Quy trình này được sử dụng trong lễ cúng kỳ siêu bạt độ, dành cho những vong hồn đang chịu khổ ở địa ngục hoặc chết oan ức. Nghi thức chẩn tế cô hồn ở Việt Nam hiện gồm ba loại: Đại khoa, Trung khoa và Tiểu khoa (còn gọi là Tiểu Mông Sơn). Chữ “khoa” ở đây có thể hiểu là trình tự, các bước tiến hành nghi lễ.

Đại khoa hay còn gọi là Khoa Du Già, được thực hiện ít nhất 6 giờ đồng hồ. Trung khoa là phần lược của Đại khoa, gồm hai phần: Đàn thượng và Đàn hạ. Đàn thượng là các nghi thức nhập đàn, ấn chú, chân ngôn; còn Đàn hạ là phần thỉnh Thập loại cô hồn. Tiểu khoa là nghi lễ cúng cô hồn vào mỗi buổi chiều tại các chùa theo Phật giáo Bắc tông. Đây vốn xây dựng theo tinh thần của Cứu Bạt Diệm Khẩu Ngạ Quỷ Kinh, sau này được phát triển thêm với tên gọi mới “Mông Sơn Thí Thực Nghi”, nghĩa là ngoài việc chú trọng cúng thí thức ăn, còn có phần quy y và thuyết giảng cho vong linh nghe. Trong các đàn Đại khoa và Trung khoa đều có phần “nhập Tiểu Mông Sơn”, chính là nghi thức Tiểu khoa này.

Lễ cúng chẩn tế có hai phần chính là mật pháp và hiển pháp. Trong đó, mật pháp thuộc về các ấn chú và quán tưởng. Hiển pháp gồm các bài kinh chú, hành động cử chỉ… mà mọi người có thể thấy và hiểu được. Sự gia giảm trong các đàn chủ yếu ở phần hiển pháp, riêng tâm pháp tuyệt đối không được lược giảm.

Một ban kinh sư thường có 5 – 7 vị gồm: Sám chủ (hay Đàn chủ, Đàn cả hoặc Thầy cả); Duy na (kinh sư đánh chuông); Duyệt chúng (kinh sư gõ mõ); Vĩ thuận và Vĩ nghịch (hai vị kinh sư đánh đẩu); Bốn Trung phan (các vị kinh sư tụng kinh, hòa, tán); Phi chung (kinh sư đánh chuông lớn); Phi cổ (kinh sư đánh trống lớn).

Lễ Thượng phan Sơn Thủy

Để triệu thỉnh tất cả hương hồn đã vong thân trên không, trên lộ, dưới nước về tại địa điểm có cây phan. Sau đó, sẽ được đưa vào đàn tràng để tham dự pháp hội, nghe pháp âm của Đức Phật mà tỉnh ngộ để thoát khỏi cảnh khốn cùng.

Nghi thức Kiết giới Đàn tràng

Cả dưới đất lẫn trên không đều quy định khu vực đàn tràng, kiết giới là biến đổi nơi lập đàn tràng thành chốn trang nghiêm thanh tịnh.

Lễ Hạ phan Sơn Thủy

Thỉnh chư hương linh dựa vào Thần Phan, theo tiếng niệm Phật tiếp dẫn để an tọa tại đàn tràng.

Lễ Hưng Tác Thượng đại

Tràng phan

Sau khi an vị Phan Sơn Thủy xong, lễ Hưng Tác bắt đầu để cáo với giang sơn, hồn thiêng đất nước, chư Hộ pháp Long thần và Thổ địa Tôn thần tại nơi diễn ra buổi lễ biết rõ thời gian, địa điểm tổ chức trai đàn. Đồng thời, hướng dẫn âm linh cô hồn về dự trai đàn, theo lời triệu thỉnh trong Đại Tràng phan dài 36m, được viết bằng chữ Hán trên giấy ngũ sắc.

Lễ Bạch Tổ, Bạch Phật,

Khai Kinh

Cung thỉnh chư tôn Hòa thượng, Thượng tọa, Đại đức quang lâm bảo điện để cung hành nghi lễ, Thỉnh Tiêu Diện Đại Sĩ.

Lễ Giải Oan Bạt Độ

Là nghi thức giải oan đoạn nghiệp. Đây là giây phút người sống và kẻ chết đều mong mỏi. Trước giờ hành lễ, tất cả trai chủ, Phật tử đều tập trung đầy đủ tại chánh điện (hoặc nơi làm lễ) để cung thỉnh vị Sám chủ và Ban kinh sư quang lâm cử hành lễ. Trong lễ Bạt Độ, đặc biệt nhất là nghi thức phá ngục để cứu hương linh đang chịu khổ trong đó ra. Khi ấy sẽ có một vị (tu sĩ hoặc người đời) đóng vai chèo đò đưa các thầy sang sông cứu vớt hương linh. Nghi thức này không phổ biến, chỉ khi nào gia chủ có nhu cầu và thường được thực hiện ở miền Trung. Ở miền Nam thay vào đó là nghi thức Phát Tấu, gồm phần Xá Hạc (chim Hạc) và Xá Mã (ngựa), nhờ hai con vật này chở tấu chương về tâu các nơi như thiên đình và thủy cung.

Đại lễ Trai đàn Chẩn tế

Các vị Gia Trì Sư và kinh sư sẽ cung hành nghi thức Tham lễ Giác Hoàng (lễ Phật). Tham lễ xong, vị Gia Trì Sư và chư vị kinh sư đi trước; gia chủ và những người khác đi sau ra ngoài đàn, đến trước án Tiêu Diện, Địa Tạng, Ngũ Phương Phật để cung thỉnh chư Phật chứng minh đàn tràng. Tiếp theo, đến Bàn Giác Hoa tiến hành nghi thức thỉnh vị Gia Trì Sư lên bảo tọa, thay Phật thuyết giới cho âm linh cô hồn.

Sau đó, Ngài kiết ấn, niệm chú vào sư tử tòa, bảo tọa, màn song khai và chính tự thân trước khi ngồi kiết già trên bảo tọa. Màn song khai mở ra, nghi thức chẩn tế bắt đầu: sái tịnh, cung thỉnh chư Phật và Bồ tát chứng minh, thỉnh chư hương linh và 12 hạng cô hồn cùng đến dự. Tiếp theo là nhập Tiểu Mông Sơn để biến hóa thức ăn phù hợp và dư đủ cho các hạng cô hồn dùng. Sau đó, sẽ rưới nước Cam lộ, vị Tả chức nhận bình nước đã làm phép từ Sám chủ đi từ từ đến phía trước và rưới nước. Tại vị trí đó, nhiều Phật tử chuẩn bị sẵn vật dụng để hứng nước Cam lộ[3]. Tiếp theo là hồi hướng công đức, cầu cho tất cả chúng sanh an lành, sanh về cực lạc. Sau khi hạ đàn, chư Tăng trở về nội đàn, đến bàn Phật làm lễ Tạ Phật hoàn Kinh, lễ đến đây hoàn mãn. Ngoài ra, lễ cúng còn có các phần: phóng đăng, phóng sinh…

BỐ TRÍ ĐÀN TRÀNG TRONG LỄ CÚNG CHẨN TẾ

Được chia thành hai phần: nội đàn và ngoại đàn.

Nội đàn gồm:

Bàn Phật (chùa có chánh điện, tư gia có bàn thờ Phật là nơi tham lễ Giác Hoàng); bàn kinh (nơi để chuông, mõ, pháp khí).

Ngoại đàn gồm:

Màn Sư tử tòa (bức màn có hình sư tử dáng vẻ oai nghiêm, treo sau lưng vị Gia Trì Sư, tượng trưng chỗ ngồi của Phật); Bảo tọa (chỗ ngồi của Gia Trì Sư, đại diện chư Phật để hoằng dương chánh pháp); Màn song khai (bức màn chia đôi trước bảo tọa, đóng lại hoặc mở ra tùy theo quy định của khoa nghi); bàn Kim đài (kinh sư ngồi hai bên tả hữu, mỗi bên ba hoặc bốn vị); Bàn Giác Hoa (Giác Hoa Định Tự Tại Vương Như Lai, một Đức Phật ở cõi Ta bà); các án Ngũ phương Phật (gồm năm bàn thiết trí theo hướng Đông – Tây – Nam – Bắc và Trung ương); bàn Hộc thực (vị trí thấp, để bài vị và đồ cúng cô hồn); bàn Tiêu Diện (cao hơn bàn Địa Tạng, thiết trí ba tượng Địa Tạng, Tiêu Diện và Hộ Pháp nên còn gọi là bàn Tam Bảo ngoại).

Vật phẩm trong đàn cúng chẩn tế chia làm hai phần:

1. Cung thỉnh chư Phật, Bồ tát, thần thánh… triệu thỉnh chư hương linh, vong hồn.

2. Vật phẩm cúng thường có 6 loại: hương, hoa, đăng, trà, quả, thức ăn, gọi chung là lục cúng. Thức ăn cúng Phật chỉ gồm đồ chay, thường là cơm và xôi chè. Riêng với thần thánh thì tùy người tổ chức, có thể cúng cả chay và mặn, ngoài ra còn có lá phan và bảo cái.

Thực phẩm cúng cho nhóm đối tượng thứ hai rất đa dạng. Ngoài hương, hoa, đăng, trà, quả, thức ăn, còn có một số khác bắt buộc, như: gạo, muối, cháo loãng, cốm nổ, xôi chè, tiền cúng, mía, các loại khoai,… tùy vào gia chủ mà có thêm vàng mã. Riêng miền Bắc sẽ có oản. Tùy điều kiện gia chủ, có thể thêm nhiều đồ cúng khác như: kẹo bánh, áo quần (thật). Vật cúng có thể treo lên “cộ” (giá đỡ hình chóp, bằng tre, dán giấy bên ngoài) hoặc xếp trên mâm và bàn.

Đặc biệt, nghệ thuật diễn xướng trong lễ cúng là đỉnh cao về nghệ thuật diễn xướng của âm nhạc Phật giáo. Theo nhà nghiên cứu Trần Văn Khê, “… nét nhạc của các bài tụng, tán thay đổi tùy theo miền, theo vùng. Mà thang âm, điệu thức dùng trong những bài tán, tụng rất gần thang âm điệu thức của tiếng hát ru và những điệu dân ca đặc biệt của mỗi vùng…. Có hai điệu thức chính được dùng: điệu Thiền (dùng hơi nhạc, hơi hạ trong nhạc tài tử miền Nam) và điệu Ai. Các điệu thay đổi tùy theo nội dung bài” [4].

Trong một lễ cúng, về phía ban kinh sư, một vị đàn chủ phải đầy đủ oai nghi phẩm hạnh, chất giọng tốt, am tường chữ Hán và nghệ thuật diễn xướng. Các lối diễn xướng được sử dụng trong lễ cúng gồm: Bạch, Nói, Thỉnh, Nguyện, Đọc, Tụng, Vịnh, Tán. Để một lễ cúng chẩn tế thành công, phải đầy đủ yếu tố hình thức và tâm thức.

Ở miền Trung và miền Nam, lễ cúng chịu ảnh hưởng dòng thiền Lâm Tế. Nhà sư Nguyên Thiều và các đệ tử là những người đầu tiên đưa lễ này vào Đàng Trong. Tại đây, lễ cúng chủ yếu dựa vào bản kinh: “Chánh khắc Trung khoa Du Già tập yếu”, rút gọn từ “Du Già diệm khẩu thí thực đàn nghi” của sư Vân Thê Châu Hoằng. Tùy từng vùng, lễ cúng còn chịu ảnh hưởng của thổ âm địa phương. Trang phục và pháp khí trong lễ cúng chẩn tế Nam bộ cho thấy hiện tượng giao lưu văn hóa mạnh mẽ và mang đậm dấu ấn vùng miền.

ẢNH HƯỞNG CỦA LỄ CÚNG CHẨN TẾ TRONG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA PHẬT TỬ NGƯỜI VIỆT NAM BỘ

Nam bộ với điều kiện tự nhiên và thành phần dân cư đa dạng đã hình thành những đặc điểm văn hóa khác nhau, trong từng giai đoạn lịch sử. Đồng hành với quá trình phát triển đó, lễ cúng chẩn tế cũng đóng góp những giá trị thiết thực vào đời sống nhân dân nói chung và Phật tử nói riêng.

Trong đời sống cá nhân

Quan niệm coi trọng người đã khuất, các bậc tiền bối,… đã chứng minh cho tấm lòng thương nhớ, tính nhân bản của con người. Đó còn là sự cầu mong cuộc sống bình an, thể hiện yếu tố trọng lý và trọng tình trong văn hóa phương Đông. Mặt khác, tâm lý tiếc thương người thân đã mất đưa đến suy nghĩ người thân có thể đang chịu cảnh thiếu thốn, khổ đau và cần sự giúp đỡ.

Với cư dân Nam bộ, đặc biệt ở buổi đầu đất rộng người thưa, nhiều thú dữ và bệnh dịch, mối quan hệ giữa các thành viên gia đình do vậy rất quan trọng. Sự ra đi vĩnh viễn của bất kỳ thành viên nào cũng khiến gia đình hụt hẫng, trống vắng. Ngoài ra, việc thường xuyên di chuyển chỗ ở khiến mồ mả người thân không có điều kiện trông nom. Vì vậy, việc tổ chức lễ cúng tưởng nhớ người thân đã khuất, cầu mong được cảm thông và tha thứ, mong giải tỏa oan khuất, dằn vặt, cầu nguyện cho họ được thanh thản siêu thoát, cầu xin người đã khuất phù hộ cho người sống bình an vô sự là chuyện nên làm khi điều kiện cho phép.

Trong đời sống cộng đồng

Ở cư dân nông nghiệp, yếu tố cộng đồng rất quan trọng, “bán anh em xa, mua láng giềng gần”. Lễ cúng chẩn tế để cầu an hay cầu siêu, dù do cá nhân hay tập thể tổ chức, cũng phải đủ ba hoạt động: cúng Phật, cúng những vị thần ở địa phương diễn ra lễ cúng (thần Thành Hoàng Bổn Cảnh) và cúng hương linh, vong linh, tri ân các anh hùng liệt sĩ vị quốc vong thân, chiến sĩ trận vong, đồng bào tử nạn trong các cuộc chiến tranh và thiên tai bão lũ, cầu mong cho họ được sanh về cảnh giới an lành. Đặc biệt, trong các lễ cúng do cá nhân tổ chức, ngoài tên của người được cúng chính và ông bà tổ tiên gia chủ, những người đến tham gia cũng được khuyến khích gửi tên thân nhân của mình để cầu siêu.

Về tâm linh, một gia đình hay tập thể tổ chức lễ cúng thì lợi ích cho cộng đồng lớn hơn, chứ không đơn thuần chỉ cho đối tượng được xướng danh, như người xưa có câu: “nhất nhơn tác phước thiên nhơn hưởng, độc thọ khai hoa vạn thọ hương” (một người làm việc tốt nhiều người hưởng chung, trong vườn có cây hoa nở hoa thì cả vườn thơm lây).

Về thực tế, khi tổ chức một lễ cúng cần huy động rất nhiều người, ngoài những người gửi tên cầu siêu ra, những người không gửi hoặc là Phật tử cũng có thể đến giúp đỡ. Trong khi cử hành lễ cúng, về lý, vị Sám chủ đội mão Tỳ lư, mặc y gấm, là hình ảnh Bồ tát Địa Tạng đại diện cho Phật thuyết pháp và bố thí thức ăn cho vong hồn. Nhưng ở góc độ phi tôn giáo, hình ảnh thầy sám chủ mặc trang phục đẹp, ban kinh sư dùng pháp khí với nhạc lễ xung quanh,… tất cả những yếu tố đó tựa như một hình thức diễn xướng nghệ thuật. Không chỉ đối với Phật tử người Việt, lễ cúng chẩn tế còn là cơ hội giao lưu giữa các cộng đồng cư dân Chăm, Khmer, Hoa, Việt… trên vùng đất Nam bộ.

Về tôn giáo, lễ cúng chẩn tế thể hiện tinh thần nhập thế của Phật giáo. Một việc làm vì nhiều người, không chỉ riêng cho cá nhân nào. Một lễ cúng không chỉ phục vụ nhu cầu thiết thực của gia chủ, mà còn hướng lợi ích an lạc cho nhiều đối tượng khác.

Có thể nói, được truyền vào Nam bộ từ thuở sơ khai, lễ cúng chẩn tế đã tồn tại và tiếp sức người dân và những Phật tử nơi đây. Trong đời sống, với hoàn cảnh khó khăn ở vùng đất mới, việc tổ chức cầu an, cầu siêu giúp người sống vơi bớt phần nào khổ đau, mất mát. Những hiểm họa bất an nơi vùng đất mới hoang vu cũng làm cho người dân canh cánh nỗi lo, nỗi sợ hãi, việc tổ chức lễ cúng chẩn tế ngoài mong muốn giúp người chết giải thoát, còn là khát vọng cho người sống được yên ổn, tránh bệnh tật và làm ăn thuận lợi. Lễ cũng là cơ hội để mọi người có dịp gần gũi, tìm hiểu và thông cảm nhau hơn trong cuộc sống. Ngoài ra, những tiết tấu diễn xướng trong lễ cúng cũng góp phần làm cho cuộc sống người dân bớt đi sự buồn tẻ nơi đất lạ.

Tồn tại và phát triển ở Nam bộ, lễ cúng chẩn tế tiếp thu những yếu tố văn hóa địa phương, đồng thời chịu tác động từ các yếu tố khác như: hoạt động kinh tế, bối cảnh chính trị – xã hội, điều kiện tự nhiên,… Lễ cúng chẩn tế cũng phần nào phản ánh mối quan hệ, giao lưu, tiếp biến văn hóa của các cộng đồng dân tộc cùng sống cộng cư hoặc cận cư ở Nam bộ.

Chú thích:

* Th.S Đào Ngọc Lam Phương – Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (ĐHQG TP HCM).

[1] Hoàng Phê chủ biên (2006), Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, tr.142. [2] Thích Nhất Hạnh (2007), Đại trai đàn bình đẳng tế xuân Đinh Hợi 2007 tại Việt Nam, tr.19. [3] Quan niệm cho rằng nước Cam lộ giúp người uống hoặc sử dụng được khỏe mạnh. [4] Trần Văn Khê (2001), Phong cách tán tụng trong Phật giáo Việt Nam, đăng trên Nguyệt san Giác ngộ (số 59, 2/2001, tr.23-24).

1. Dương Chí Cang (2000), Nghiên cứu chế độ lễ nghi Trung Quốc, Nxb ĐHSP Hoa Đông. 2. Trần Văn Khê (2001), Phong cách tán tụng trong Phật giáo Việt Nam, đăng trên Nguyệt san Giác ngộ (số 59, 2/2001). 3. Hoàng Phê chủ biên (2006), Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng 4. Trần Hồng Liên (2007), Quá trình hình thành và phát triển nhạc lễ Phật giáo Nam bộ, Kỷ yếu Hội thảo Khoa học “Sư Nguyệt Chiếu với sự nghiệp nhạc lễ cổ truyền Nam bộ”, Nxb Văn hóa Thông tin.

Tạp Chí Gia Đình Và Trẻ Em

11:31:55 26/02/2024

Mâm ngũ quả ngày tết.

Tuy ngày nay do cách nhìn và có sự giao thoa văn hóa giữa các vùng miền nên việc cúng kiếng đối với người trẻ cũng có những thay đổi. Mâm ngũ quả của nhiều nhà không nhất thiết phải theo công thức cũ mà có cả táo, nho, dưa hấu, cam quít… theo sở thích của gia chủ. Tuy nhiên, có một loại trái mà ngày Tết dân miền Tây vẫn không mặn mà cho lên mâm cúng, đó là chuối xiêm.

Mâm cỗ ngày Tết.

Nếu như mâm ngũ quả của người Bắc bao giờ cũng có nải chuối xiêm màu xanh và tôi được biết ngày Tết chuối xiêm ở Bắc rất đắt, nải trái lẻ có khi lên tới hai, ba trăm ngàn, thì ở miền Tây, dịp Tết là chuối xiêm rẻ như bèo, không ai mua. Lý do thật buồn cười và thiệt là… Nam bộ: Bà con sợ chưng chuối hay ăn chuối thì cả năm đó sẽ bị xui xẻo, cuộc sống bị “chúi” xuống (chuối đọc trại là chúi)! Ngay cả ngày thường, có người được cho nải chuối là không bao giờ nhận vì sợ… chúi, xui xẻo!

Còn về món ăn trong mâm cúng thì quê tôi – Bến Tre nói riêng và miền Tây nói chung khá thoải mái, có gì cúng nấy, có khi cúng theo sở thích mà tiền nhân yêu thích lúc sinh thời, nhưng, vẫn có vài món thuộc hàng “kinh điển” không thể thiếu, đứng đầu là thịt heo kho tàu (thịt heo kho với trứng vịt và nước dừa xiêm), khổ qua hầm, bánh tét, dưa củ kiệu… Ăn thịt heo kho tàu vì món này có vị ngòn ngọt của nước dừa (cũng là món hợp khẩu vị của đại đa số dân miền Tây, vì ở đây ăn rất ngọt) cũng là mong ước một năm mới ngọt ngào, yên ả; còn ăn khổ qua hầm là “thể theo” tên gọi khổ qua là mong mỏi cái “khổ” sẽ “qua”, tức những phiền não trong năm cũ không còn nữa, năm mới sẽ tốt đẹp hơn! Còn bánh tét, có thể cúng hoặc không, nếu như trong mâm cỗ ngoài Bắc tôi thấy luôn hiện diện bánh chưng, thì trong Nam, bánh tét chỉ để ăn chơi, không nhất thiết phải là món đóng “vai chính” như thịt heo kho tàu, khổ qua!

Ngoài những món có “không khí” ngày Tết thì người miền Tây không câu nệ trong ăn uống, cúng kiếng, có thể là tô canh chua bông so đũa nấu cá basa, bánh tráng cuốn tép đất, tép bạc, cá kèo kho tộ… không nhất thiết phải theo nghi lễ. Miễn sao, bữa cơm đoàn viên, sum họp gia đình vui là được!

Hiền Long/TC GĐ&TE

Hướng Dẫn Du Lịch Hòn Sơn Kiên Giang

Đảo Hòn Sơn – Hướng dẫn du lịch Hòn Sơn Kiên Giang

Với những bãi biển cát trắng xinh đẹp, bãi đá hùng vĩ và thơ mộng, những rặng dừa phủ bóng xanh mát, Hòn Sơn hiện lên như một hòn ngọc lấp lánh giữa đại dương bao la, chưa có dấu vết của sự khai phá. Với không gian yên tĩnh  và vẻ đẹp hoang sơ cuốn hút bậc nhất, đảo Hòn Sơn – Kiên Giang là một địa điểm du lịch Miền Tây lý tưởng cho các kì nghỉ dưỡng, dã ngoại.

Đôi nét về Hòn Sơn

Hòn Sơn còn có tên gọi khác là Hòn Sơn Rái, thuộc xã Lại Sơn, huyện Kiên Hải, tỉnh Kiên Giang. Nằm trên vịnh Hà Tiên, giữa quần đảo Nam Du và đảo Hòn Tre, cách thành phố Rạch Giá 65 km về phía Tây.

Thời điểm du lịch Hòn Sơn lý tưởng

Thời tiết ở Hòn Sơn luôn dễ chịu quanh năm chính vì vậy bạn có thể đi du lịch Hòn Sơn vào bất cứ thời điểm nào trong năm.  Tuy nhiên thời điểm lý tưởng để bạn đi du lịch đảo Hòn Sơn là vào khoảng tháng 5 đến tháng 12 bởi mùa này biển êm ít sóng và có nhiều hải sản: mực, tôm, ghẹ… tươi ngon.

Trước khi lên đường các bạn nên cập nhật tình hình thời tiết ở vùng biển Cà Mau – Kiên Giang và tránh các thời điểm biển động và mưa bão để đảm bảo an toàn.

Đến đảo Hòn Sơn bằng cách nào.

Di chuyển tới Rạch Giá

Muốn tới Hòn Sơn trước tiên bạn phải đến TP Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang. Từ Hà Nội, bạn có thể mua vé máy bay tới Cần Thơ, sau đó bắt xe khách từ Cần Thơ đi Kiên Giang. Một lựa chọn khác là bay từ Hà Nội đến TP. HCM tiếp tục bắt xe khách đến Kiên Giang.

Từ TP. Hồ Chí Minh bạn có thể đi ô tô cá nhân, xe khách đến Rạch Giá với thời gian khoảng từ 5-6 giờ. Vì các chuyến tàu đi Rạch Giá – Hòn Sơn xuất phát vào sáng, chính vì vậy bạn nên đi trước một ngày nghỉ qua đêm tại TP Rạch Giá để sáng tới bến tàu cho kịp giờ. Còn đi xe khách thì đi từ đêm hôm trước đến bến xe Rạch Giá vào khoảng 6h sáng ngày hôm sau. Một số hãng xe như Phương Trang, Việt Đức,… đều có tuyến xe Hồ Chí Minh – Rạch Giá (Kiên Giang). Đến Rạch Giá, xe trung chuyển đưa bạn ra bến tàu mất 30 phút.

Di chuyển tới đảo Hòn Sơn

Tàu cao tốc: Thời gian di chuyển là 1 tiếng 30 phút. Với phương tiện này thì bạn sẽ tiết kiệm được tối đa thời gian di chuyển. Tàu cao tốc thường neo đậu ở cảng số 2 và số 3 ở bến Rạch Giá.

Một số các hãng tàu và thời gian khởi hành cụ thể:

Tàu Ngọc Thành: Bến Rạch Giá – Hòn Sơn: khởi hành lúc 8h05. Hòn Sơn – Bến tàu Rạch Giá: khởi hành lúc 13h30

Tàu Superdong:  Bến Rạch Giá – Hòn Sơn: khởi hành lúc 7h20.  Hòn Sơn – Bến tàu Rạch Giá: khởi hành lúc 11h15

Tàu Phú Quốc Express: Bến Rạch Giá – Hòn Sơn: khởi hành lúc 6h30.  Hòn Sơn – Bến tàu Rạch Giá: khởi hành lúc 14h10

Tàu khách: Nếu mang xe máy lên để tham quan đảo và chở nhiều đồ đạc, hàng hoá thì tàu khách sẽ là lựa chọn phù hợp. Thời gian di chuyển khá lâu khoảng 3 tiếng 30 phút nhưng giá vé rẻ hơn tàu cao tốc. Các tàu khách thường đậu ở cảng số 2 tại bến. Hai hãng tàu chính là Thanh Tú và Đức Trung, đều khởi hành từ Bến Rạch Giá – Hòn Sơn lúc 8h30 và quay trở lại lúc 10h.

Thời gian khởi hành có thể thay đổi vào cuối tuần hay những ngày đông khách. Các bạn nhớ gọi điện cho các hãng tàu để đặt vé trước và nhớ hỏi kĩ lúc liên hệ đặt vé để tránh tình trạng bị lỡ chuyến tàu.

Di chuyển trên đảo

Muốn đi dạo trên đảo thì bạn nên thuê xe máy với giá dao động từ 200,000 – 250,000đ.  Bạn có thể thuê trực tiếp tại các nhà nghỉ, song song với lúc nhận phòng. Nếu đi theo nhóm đông người thì bạn một sự lựa chọn khác đó là thuê xe bán tải hoặc xe khách 12 chỗ. Ngoài ra bạn cũng có thể thuê một chiếc thuyền của ngư dân để đi vòng quanh đảo hay đi câu cá, câu mực rất thú vị.

Đảo Hòn Sơn có rất nhiều địa điểm hấp dẫn, thú vị cho du khách tha hồ khám phá phá như: Những dãy núi cao hùng vĩ, những bãi biển trong xanh tuyệt đẹp, những ngôi chùa được đi vào di tích lịch sử…  Bạn nên đi Hòn Sơn khoảng 2 ngày 1 đêm để thăm thú những nét đặc trưng trên đảo, ngắm cảnh hoàng hôn và đón bình minh trên đảo. Khoảnh khắc đó ngồi trên một mỏm đá lớn, hướng mắt nhìn về phía biển bạn sẽ cảm thấy mình thật nhỏ bé giữa biển cả rộng lớn.

Với đường bờ biển dài hơn 1km uốn cong theo đường lưỡi liềm, đảo Hòn Sơn có nhiều bãi biển như: bãi Giếng, bãi Bàng, bãi Bấc, bãi Đá Chài…. Trong đó, bãi Bàng được xem là bãi biển đẹp.

Con đường quanh đảo được tráng xi măng rộng đẹp, quanh co uốn lượn theo bờ biển với những rặng dừa nghiêng soi bóng dưới làn nước biển xanh ngắt, khiến bạn vô cùng thích thú.

Ngoài các hoạt động thường thấy như tắm biển, lặn biển ngắm san hô, câu cá, bắt nhum…thì các hoạt động leo núi hay đi bộ xuyên rừng cũng là một trong những trải nghiệm thú vị.

Đảo Hòn Sơn còn có 7 ngọn núi, trong đó nổi bật là đỉnh núi Ma Thiên Lãnh với độ cao 450m. Vượt qua những bậc thang và đi qua con đường mòn đầy sỏi, lên đến đỉnh núi. Đứng trên những tảng đá lớn giữa đỉnh Ma Thiên Lãnh, bạn có thể phóng tầm mắt ra không gian mênh mông, xanh thẳm của biển trời. Trên đỉnh núi có một tảng đá rất lớn được gọi là “Sân Tiên” gắn với truyền thuyết là nơi các tiên nữ thường xuống đây vui chơi nhảy múa. Cảnh đẹp hoang vu, huyền bí này cũng thu hút không ít các đạo sĩ, những người quy ẩn giang hồ đến thiền định trong các hang động, am miếu bỏ hoang. Những câu chuyện dân gian này càng làm cho Ma Thiên Lãnh thách thức người khám phá và chinh phục.

Ngồi trên đỉnh núi tự ghi lại những bức ảnh, nghe dân địa phương thuật lại truyền thuyết đỉnh Ma Thiên Lãnh, chuyện các nàng tiên giáng trần nơi Sân Tiên và cuộc đời bí ấn của các đạo sĩ tìm đến đây tu hành… quả là không uổng phí!

Khám phá Núi Ông Rồng

Một ngọn núi khác cũng không kém hấp dẫn là núi Ông Rồng. Núi chỉ cao hơn 250m so với mực nước biển, đường đi cũng ngắn rất nhiều so với núi Ma Thiên Lãnh, nhưng đường khó đi hơn, phải băng rừng, vượt suối. Lộ trình leo núi Ông Rồng chỉ bằng 1/3 so với Ma Thiên Lãnh nhưng đòi hỏi bạn phải có sức dẻo dai, bởi vì càng lên cao, đường càng dốc.

Sau một hồi len lỏi, luồn lách qua những phiến đá khổng lồ, những lối mòn rậm rạp, bạn sẽ đến được đỉnh Ông Rồng. Tại đây, điểm gây ấn tượng mạnh chính là cây thiên tuế cổ thụ mọc trong vách núi, thân ngã nằm dài, uốn khúc, khoanh tròn như thân của con rồng với đầu hướng ra biển, tên gọi núi Ông Rồng cũng bắt nguồn từ đây. Theo các nhà nghiên cứu cây này có tuổi đời trên 300 năm nếu tính theo mắt lá (một năm thay lá một lần).

Tìm hiểu các di tích lịch sử

Ngoài những thắng cảnh đẹp, Hòn Sơn còn có những di tích mang nét tâm linh của xứ biển, gắn với những giai thoại của người bản địa. Trên đảo có các đình, chùa như: Đền thờ Nam Hải Đại tướng quân, Đình thần Lại Sơn, Miễu Bà Cố Chủ, Thánh Thất Cao Đài, Chùa Hải Sơn…

Đến Hòn Sơn, bạn nhớ viếng thăm Di tích Đình thần Nam Hải tọa lạc ở Bãi Thiên Tuế. Đây cũng là nơi bảo quản nhiều bộ xương cá Ông. Lễ hội Nghinh Ông vào ngày 15 và 16 tháng 10 âm lịch hàng năm là một nét đẹp văn hoá đặc trưng của người dân trên đảo.

Các hoạt động về đêm

Đêm đứng trên cầu tàu Hòn Sơn-ở Bãi Nhà trông ra biển rất đẹp, phía xa biển khơi là ánh sáng nhấp nhô tàu thuyền của ngư dân, còn nhìn vào bãi biển ven bờ đường ánh sáng xanh, vàng, đèn phố thị soi bóng xuống con đường vòng cung trông rất thơ mộng. Bên cạnh bãi biển Bãi Nhà là chợ đêm sung túc sáng rực với nhiều hải sản tươi ngon của miền biển Kiên Giang. Đi từ cầu cảng đến chợ đêm tầm 200m. Nếu bạn nào ở các nhà nghỉ gần cảng thì có thể dễ dàng đi bộ ra chợ. Chỉ mất khoảng 10 đến 15 phút thôi.

Nhà nghỉ ở đảo Hòn Sơn

Vì còn hoang sơ và chưa được khai thác du lịch nhiều, nhưng trên đảo Hòn Sơn đã có một số khách sạn, nhà nghỉ, homestay phục vụ du khách. Khách du lịch thường sẽ nghỉ tại khu homestay tọa lạc ngay bãi Bấc, cách cầu cảng khoảng 7 km. Ở đây bạn có thể tắm biển và ngắm hoàng hôn tuyệt đẹp. Giá phòng dao động khoảng 500.000 đến 800.000 đồng/đêm (gồm cả ăn sáng).

Ăn uống trên đảo Hòn Sơn

Đến Hòn Sơn bạn đừng bỏ qua những món Hải sản tươi sống  như: ghẹ, ốc, tôm, tôm tích và các món khác ngon không kém là cá trích tái chanh, hào sữa trái chanh hoặc trộn xoài, canh chua cá biển, lẩu cháo mực, cháo hào, nhum nướng…. với cách chế biến rất đặc trưng của người dân xứ đảo.

Bạn cũng có thể ra chợ Bãi Giếng hoặc các bãi neo thuyền đánh bắt để mua hải sản tươi sống rồi nhờ chủ nhà nghỉ hoặc các nhà dân bên biển Bãi Bàng chế biến và cung cấp nước uống, bát đĩa,….

Có một quán mà giới trẻ phải check in cho bằng được tại Hòn Sơn đó là Quán Bia – Cổng trời Hòn Sơn. Cách cầu cảng khoảng 3km. Đến đây bạn có thể uống nước, hóng gió và tha hồ chụp hình sống ảo.

Đặc sản ở đảo Hòn Sơn mua về làm quà Tour du lịch Hòn Sơn

Để tiết kiệm chi phí và đỡ lo lắng về chuyện đi lại ăn uống nghỉ ngơi trên đảo bạn hãy đặt Tour Hòn Sơn Kiên Giang cực hấp dẫn của Thám Hiểm MeKong.  Liên lạc để được tư vấn và hỗ trợ: 0292.3819.219

Lưu ý: Đang ở trên đảo mà hết tiền mặt thì xử lí như thế nào ? Vì ngoài đảo không có ATM hay ngân hàng do vậy bạn nên sử dụng Internet Banking chuyển khoản cho chủ nhà nghỉ và đổi lấy tiền mặt để dùng. Tốt nhất nên dự trù chi phí để mang theo tiền mặt đủ dùng.

Cô Bé Chí Mìu Bắc Giang

Đền Cô Bé Chí Mìu Bắc Giang nằm ở bản Chí Mìu, xã Hương Sơn, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang. Cô bé Chí Mìu chính là Cô Bé Thượng Ngàn, do đền Cô bé Thượng Ngàn nằm ở bản Chí Mìu nên mọi người đều gọi cô theo tên địa danh của đền là Cô Bé Chí Mìu.

Đường đến đền Cô bé Chí Mìu Bắc Giang

Đường đến đền Cô Bé Chí Mìu: Nếu đi từ Hà Nội, chúng ta đi theo đường Quốc Lộ 1A qua thị trấn Kép khoảng 4 km đến một ngã tư Cầu Đen. Đến ngã tư Cầu Đen rẽ bên phải đi thêm khoảng 3 km nữa là đến Đền Cô Chí Mìu. Đến Kép hỏi đền Cô thì ai cũng biết cả. Từ Hà Nội đến Đền Cô Chí Mìu khoảng 95 km.

Lịch sử đền Cô bé Chí Mìu Bắc Giang

Trước năm 1995, đền Cô chỉ là một cái miếu nhỏ có một bát hương và chưa được phối thờ thêm ngôi vị của một vị thánh nào. Năm 1995, có người mới dâng tượng cô vào miếu. (Hiện ngôi tượng này vẫn đang được thờ tại cung Cô Bé Thượng Ngàn của ngôi đền).

Cho đến 2010, ngôi miếu mới được phá để xây ngôi đền mới như bây giờ. Cung cô Chí Mìu hiện tại chính là vị trí của ngôi miếu cũ ngày xưa. Ngôi đền mới xây dựng đã được phối thờ các cung: Cung công đồng, Cung Sơn Trang, cung Trần Triều và cung Cấm thờ Tam Tòa Thánh Mẫu.

Sự linh thiêng của Đền Cô Chí Mìu

Đền Cô Chí Mìu là một ngôi đền mang nhiều huyền bí và linh thiêng nên khách thập phương về đây lễ rất đông. Người ta truyền rằng, cứ vào lúc 12 giờ đêm, cô Bé Chí Mìu sẽ giáng về đền chứng lễ và ban phúc, lộc, đặc biệt là đêm 30, rạng mùng 1. Vì vậy, thường vào đêm 30 hàng tháng có đến hàng ngàn người đổ về đây ăn chực nằm chờ để chờ 12 giờ đêm cô về chứng lễ. Về đây, xin lộc cô bé chủ yếu là dân buôn bán, dân lô đề. Lễ dâng cô bé tràn từ trong đền ra ngoài đường chính các đó đến 4 km.

Hiện nhà đền còn lưu một bức ảnh ngày động thổ ngôi đền năm 2010, có một con bướm rất to về ngự tại bàn thờ lễ động thổ (xem ảnh dưới).

Bài trí của đền Cô bé Chí Mìu

Đền Cô gồm có các cung: + Cung ngoài : Là Cung Công Đồng nhưng chỉ phối thờ tượng Quan Hoàng Bơ, Quan Hoàng Bảy, Quan Hoàng Mười trong Tứ Phủ Quan Hoàng. + Cung giữa: là Cung Cô Bé Thượng Ngàn (tức Cô Bé Chí Mìu). Cung của cô có ngôi tượng nhỏ của Cô có từ năm 1995. Bên phải cung của Cô là cung Trần Triều, Còn bên phải cung của Cô là Cung Sơn Trang + Cung Cấm: Thờ Tam Tòa Thánh Mẫu

Cô Bé Chí Mùi là Cô Bé Thượng Ngàn.

Cô bé Chí Mìu là Cô bé Thượng Ngàn nên tại cung Cô bé Thượng Ngàn thờ tượng của cô. Cô bé Thượng Ngàn được coi là cô út trong Tứ Phủ Thánh Cô.

Còn các ngôi đền khác các cô bé thường đươc thờ ở cung cô bé. Các cô bé này được coi là cô bé bản đền, luôn hầu cận Thánh Mẫu hoặc các Thánh Chầu tại bản đền các cô ngự.

Sự mến khách của Ban Quan Lý đền Cô bé Chí Mìu Bắc Giang

Có lẽ ít có đền nào như đền Cô bé Chí Mìu Ban Quản lý Nhà đền không thu vé gửi xe ô tô, không thu tiền cung, tiền đền với các cung hầu. Đền cũng khá văn minh: Không cho các dịch vụ xóc thẻ, lấy thẻ có đất phát triển. Có dịch vụ viết sớ do nhà đền quản lý nhưng để gia chủ trả tiền viết sớ trên cơ sở tùy tâm. Tuy nhiên, vấn đề đêm 30 hay đêm 14 đền rất đông, chen lấn lẫn nhau nên nhà đền khuyên rằng vào các ngày đó khi vào đền không nên mang ví, điện thoại…để tránh bọn móc túi lợi dụng

Siêu Cây “Mâm Xôi Con Gà” Lên Trang Nhất Tạp Chí Mỹ

Siêu cây “Mâm xôi con gà” của đại gia đất Việt Trì vừa được tạp chí về cây cảnh của Mỹ đăng tải trên trang bìa.

Tạp chí về nghệ thuật chơi cây cảnh, bonsai của Mỹ – BCI vừa có một bài viết về siêu cây đình đám “Mâm xôi con gà” của đại gia Thành “vàng” đất Việt Trì – Phú Thọ.

Chủ nhân của cây “Mâm xôi con gà”-Ông Nguyễn Nam Thành (được gọi là Thành “vàng”) đã rất vui mừng khi nhận được cuốn tạp chí đăng tải hình ảnh cây cảnh của mình.

“Mâm xôi con gà” được đăng tải trên trang nhất của tạp chí về nghệ thuật bonsai, cây cảnh BCI của Mỹ.

Ông Thành cho biết, tháng 9/2011 ông BuDi (hội đồng quản trị tổ chức Bon Sai Quốc tế Đông Nam châu Á Thái Bình Dương) sang thành phố Hồ Chí Minh dự hội thảo Bon Sai Vạn Niên Tùng. Ông đã liên hệ với nghệ nhân đá và tiểu cảnh Lâm Ngọc Vinh cùng một số nghệ nhân khác của TP Hồ Chí Minh để gửi ý kiến xin phép hội sinh vật cảnh Thành phố Việt trì, Phú Thọ và chủ nhân của cây cho tạp chí BCI đăng tải thông tin và đưa hình ảnh tác phẩm “Mâm Xôi con gà” lên trang bìa và được đồng ý .

“Mâm xôi con gà” chính thức được công chúng và giới chơi cây Việt Nam biết đến vào thời điểm tháng 10/2010 khi nó tham dự triển lãm sinh vật cảnh chào mừng Đại lễ 1.000 năm Thăng Long – Hà Nội. Đã rất nhiều tờ báo của Việt Nam viết bài về cây cảnh Mâm xôi con gà, trong đó có thông tin về siêu cây Mâm xôi con gà có giá tới… 6 triệu USD (tương đương 120 tỷ VNĐ).

Với mức giá như thế này, Mâm xôi con gà là cây có giá “khủng nhất” cho đến thời điểm hiện tại trong làng cây cảnh Việt Nam.

“Mâm xôi con gà” là một cây sanh có tuổi đời rất cao, và có giá trị mỹ thuật rất lớn trong làng cây cảnh Việt Nam. Giới chơi cây Việt Trì đánh giá, đó là tác phẩm “thương hiệu” để ghi điểm trong làng cây của đất ngã ba sông.

BCI là tạp chí về thú chơi và nghệ thuật chơi cây cảnh, bonsai được ấn bản tại Mỹ. Những tác phẩm cây cảnh, bonsai nghệ thuật được đăng tải trên tạp chí này được đánh giá là những hình ảnh nghệ thuật đạt tới tầm quốc tế trong giới chơi cây cảnh nghệ thuật.

Cập nhật thông tin chi tiết về Kiệt Tác Thiên Nhiên Của Kiên Giang – Tạp Chí Thủy Sản Việt Nam trên website Apim.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!