Xu Hướng 1/2023 # Gia Đình Người Quảng Cúng Quảy Hằng Năm # Top 4 View | Apim.edu.vn

Xu Hướng 1/2023 # Gia Đình Người Quảng Cúng Quảy Hằng Năm # Top 4 View

Bạn đang xem bài viết Gia Đình Người Quảng Cúng Quảy Hằng Năm được cập nhật mới nhất trên website Apim.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

1. Thờ cúng tổ tiên là một nét đẹp văn hóa của gia đình người Việt nói chung, gia đình người Quảng nói riêng. Hằng năm các gia đình người Việt/người Quảng luôn có đám giỗ để tưởng nhớ những người thân quá cố. Thường người mới từ trần thì được con cháu cúng quảy riêng theo lệ giỗ ngày sống chứ không giỗ ngày chết.

Nhưng trải qua vài đời thì những người mất ở thời điểm gần nhau trong tháng/trong quý được giỗ chung một ngày – gọi là giỗ hội. Tuy nhiên việc cúng quảy hằng năm trong gia đình người Việt/người Quảng không thu hẹp trong các đám giỗ người thân quá cố mà còn mở rộng theo tín ngưỡng dân gian – chứ không chỉ theo tín ngưỡng Phật giáo, nổi bật là việc cúng rằm và mồng một hằng tháng, thường là vào trước đó một ngày – tức là vào mười bốn và hăm chín/ba mươi âm lịch.

Như vậy mười hai ngày rằm trong năm các gia đình người Quảng đều cúng, nhưng rằm tháng giêng, rằm tháng bảy và rằm tháng mười được coi trọng hơn, cúng quảy bài bản hơn. Theo quan sát của người viết bài này thì ngày nay các gia đình người Quảng đang có đôi chút thay đổi:

Rằm tháng mười dường như không còn mười người mười quảy nữa – theo nghĩa không còn được coi trọng hơn các ngày rằm khác nữa, trong khi đó rằm tháng bảy gắn liền với mùa Vu Lan báo hiếu thì ngày càng được các gia đình người Quảng đặc biệt quan tâm. Cũng do quan niệm rằm tháng bảy là ngày của cô hồn thập loại chúng sinh nên khi cúng rằm tháng bảy, các gia đình người Quảng đều không quên một tô cháo trắng…

Minh họa: HOÀNG ĐẶNG

2. Việc cúng mồng một cũng có điểm nhấn như vậy. Mười hai ngày mồng một trong năm đều cúng, nhưng mồng một tháng giêng mới là ngày quan trọng nhất đối với gia đình người Việt nói chung, gia đình người Quảng nói riêng. Trong chữ Hán, nguyên thuộc bộ nhân nghĩa là đứng đầu – trạng nguyên là người đỗ đầu khoa thi đình; đêm rằm tháng giêng được gọi là nguyên tiêu – nguyên là tháng đầu năm, tiêu thuộc bộ thủ là đêm; còn sáng mồng một tháng giêng được gọi là nguyên đán – lúc trời mới sáng gọi là đán thuộc bộ nhật.

Các gia đình người Quảng thường rước ông bà vào ngày ba mươi tháng chạp và cúng năm mới vào sáng mồng một tháng giêng. Tuy nhiên thật sự thiêng liêng trong tâm thức người Quảng là lễ cúng giao thừa khuya ba mươi rạng mồng một tết, với cảm xúc “giã từ năm cũ bâng khuâng/ đã nghe xuân mới lâng lâng lạ thường” (thơ Tố Hữu).

Đây là thời điểm đoàn tụ gia đình không chỉ với người đang sống mà với cả người đã khuất. Cũng chính vì lẽ đó mà người Việt nói chung, người Quảng nói riêng khó nói lời chia tay với Tết ta để chỉ ăn Tết tây như một số người từng đề xuất.

Nói đến chuyện ăn Tết, nhiều người cho rằng ngày nay chủ yếu là chơi Tết chứ ăn Tết thì không còn cảm giác háo hức như xưa. Nhưng đó là nói chung chứ với không ít gia đình người Quảng đang đầu tắt mặt tối chật vật mưu sinh kiếm sống, ba ngày Tết cũng là dịp trước cúng sau cấp để được ăn tươi hơn một chút. Điều đáng chú ý là các gia đình người Quảng đã khá giả hay còn cơ cực đều dâng cúng tổ tiên một số món ăn đậm đà chất Quảng, trong đó có bánh tét – chứ không phải bánh chưng, và bánh tổ – còn gọi là bánh ổ.

3. Nói đến món ăn đậm đà chất Quảng còn có thể kể đến bánh ú tro thường không có nhân và được chấm với đường cát trắng – là loại bánh có khối hình tam giác được các gia đình người Quảng dâng cúng tổ tiên hằng năm vào dịp Tết đoan ngọ mồng năm tháng năm âm lịch – cho nên còn gọi là tết đoan ngũ.

Người Quảng cúng mồng năm tháng năm vào buổi trưa, bởi đoan thuộc bộ lập có nghĩa là đầu mối, còn ngọ thuộc bộ thập là giữa trưa. Nếu gọi là cả nhà ăn Tết thì Tết đoan ngọ cũng là dịp để gia đình đoàn tụ và vào thời điểm này dương khí lên cao nhất nên cùng nhau  ăn bánh ú tro – tro vốn dĩ có nhiều tính âm – sẽ giúp cân bằng âm dương rất có lợi cho sức khỏe con người.

Trước đây còn có tục nấu lá mồng năm, hái đúng dịp trưa (chính ngọ) – thực chất là một số dược liệu – để tắm cho trẻ con, nhưng ngày nay hầu như không còn nhiều gia đình người Quảng giữ được tục tắm nước lá này.

Nhưng dùng lá mồng năm để uống thay chè, thì rất nhiều gia đình vùng quê còn lưu giữ. Dân gian tin rằng, lá mùng năm có tác dụng chữa bệnh. Và theo Đông y, đó không phải là niềm tin mù quáng, bởi  hầu hết đó là những loại cây thuốc Nam như  mã đề, râu bắp, gương sen, mơ, cỏ ống, lá sả, bạc hà, é, tía tô, gừng, dủ dẻ, ổi, tim sen, vông… dùng để chữa nhiều loại bệnh thường gặp.

4. Tháng chạp âm lịch của gia đình người Việt nói chung, gia đình người Quảng nói riêng có một thời điểm vô cùng độc đáo và hết sức nhân văn: đêm hăm hai rạng sáng hăm ba – cúng đưa ông Táo về trời. Theo truyền thuyết, đó là lúc ông Táo-chồng-sau của bà Táo hối hả cưỡi cá chép về chầu trời, và chính trong suốt một tuần lễ mà người-thứ-ba tạm thời vắng mặt, ông Táo-chồng-trước của bà Táo mới có cơ hội bày tỏ sự ăn năn về lỗi lầm “chết người” mang hơi hướng bạo lực gia đình mà ông từng mắc phải năm xưa. Dường như bảy ngày đêm là quá ít để người đàn ông này có thể bộc bạch nỗi niềm cho đến đầu đến đũa, nên đêm hăm hai rạng sáng hăm ba năm nào ông Táo-chồng-sau của bà Táo cũng phải bấm bụng một mình đi xa – cả ngàn năm nay rồi và không chừng cả ngàn năm nữa…

Có thể cúng ông Táo vào sáng hăm ba nhưng không được cúng sau trưa, và dẫu gia đình khá giả hay cơ cực thì lễ vật dâng cúng không thể thiếu là ba bát đường đen với ba cái bánh tráng nướng. Người Quảng cũng không có lệ cúng cá chép để rồi phóng sinh, thay vào đó chỉ là con cá chép… bằng giấy làm phương tiện đi lại cho ông Táo lên thiên đình – lễ tuy bất túc tâm thành hữu dư.

Xin nói thêm làng gốm Thanh Hà ở Hội An có lò nặn tượng Táo quân đã hơn một trăm năm đỏ lửa, chứng tỏ ít nhất một thế kỷ qua, lễ đưa ông Táo về trời vẫn luôn đồng hành cùng người Quảng đương đại.

5. Thật ra cúng rằm hay cúng mồng một, cúng Tết nguyên đán, cúng Tết nguyên tiêu hay cúng Tết đoan ngọ, hay cúng ông Táo… là câu chuyện cúng quảy chung của người Việt chứ không riêng gì người Quảng – đương nhiên cũng có một chút khác biệt trong lễ vật dâng cúng giữa người Việt Đàng Ngoài và người Việt Đàng Trong.

Người viết bài này xin được dừng câu chuyện cúng quảy hằng năm của gia đình người Quảng bằng một lễ cúng riêng có của người Việt từ Quảng Bình trở vào: cúng tá thổ hay còn gọi là cúng đất – mỗi năm một lần trong tháng hai âm lịch, chủ yếu từ mồng mười đến cuối tháng, lễ vật dâng cúng gồm toàn món ăn đặc trưng Chiêm Thành như cua luộc nguyên con, mắm cái, khoai lang, rau lang luộc, đậu phụng, mía cây róc vỏ cắt từng đốt… thể hiện cách ứng xử khôn ngoan nhạy cảm và sự khiêm nhường của người Quảng xưa tự nhận mình chỉ là người tá thổ/thuê đất – tá thuộc bộ nhân nghĩa là thuê/mượn, tức không hề quên đây nguyên là đất Champa. Ngày trước trong lễ cúng đất còn có màn “kịch câm”: hai vợ chồng đóng vai hai người Chăm, cầm một cây sào, làm động tác đi đo đất…

Có thể nói đây là một tập tục độc đáo của người Quảng xưa trong quá trình quảng-nam-mở-cõi, vừa đậm đà màu sắc tâm linh thành kính và thấm đẫm chất chính trị vừa mang đậm dấu ấn tâm lý của những người mới xa quê, buổi đầu mọi thứ đều thấy lạ, “tới đây sông nước lạ lùng/ con chim kêu phải sợ con cá vùng phải kiêng” (ca dao đất Quảng).

BÙI VĂN TIẾNG

Mâm Cúng Đất Giống Người Xứ Quảng

Vào tháng hai âm lịch cỡ này là đi chợ cúng đất. Đi chợ mua đồ cúng thì tôi thích mua sắm cúng đất nhất. Bởi mua sắm cúng đất có gì đó mang hồn vía người đất Quảng, đúng kiểu “chặt to kho mặn” của người đất Quảng.

Mâm cúng đất có thể chia thành các nhóm sau:

* Hoa quả áo giấy: Món này thì chỉ mua sắm, không phải làm gì. Chọn trái cây tươi màu. Đu đủ, xoài, mãng cầu, sapuche, quýt, thanh long, mỗi thứ một vài quả. Mâm cúng đẹp nhờ hoa quả xanh tươi. Hoa cúng đất thường gồm những hoa đơn giản như hoa phượng, hoa cúc, hoa vạn thọ,… Có hoa vạn thọ để cúng là thích nhất, hoa cho mùi thơm khắp nhà, cái mùi thơm vạn thọ, thiệt thích, thơm cả lá, cả hoa.

Thương, khi nhìn trái đậu nhà người vừa lớn, vừa xanh, xanh từ trong từng hạt đậu nảy ra đến vỏ.

Nhớ, hạt đậu quê mình nhỏ tẻo teo, vàng từ vỏ vàng vô. Thương đất quê mình sao khó nghiệt khó ngã vậy ta, hạt đậu cũng không đủ chuẩn.

Các món sắn, khoai, đậu, bắp… đó thiếu bớt một thứ cũng không sao, cốt ở lòng thành.

* Tiếp tới các món luôn phải có của mâm cúng đất: Đĩa rau luộc, chén mắm cái, tợ thịt luộc, trứng, tôm, cua, dĩa xôi, chén chè. Đây là phần lễ, miếng thịt heo luộc phải cắt ngay ngắn trên đĩa, vài hạt muối sống, kèm con dao nhỏ.

Phần lễ mỗi ngày một nhiều hơn, phong phú hơn, thêm con gà trống rồi ngoài thịt heo luộc còn có thịt heo nướng, cá nướng… Thời bao cấp, mâm lễ có tợ thịt heo là đã đầy đủ ý nghĩa.

* Đến mâm cơm thì tha hồ biến tấu với mâm cơm cúng đất. Cơm trắng, đĩa thịt luộc xắt, thịt rang, cá chiên, cá kho, ram chiên, món xào rau đậu, món canh,.. Canh thì có canh khổ qua nhồi thịt, canh khoai sọ hầm xương. Đặc biệt thường là món canh khoai môn hầm xương do củ khoai được đào lên từ đất phải có để cúng thần đất.

Có thời các bà các chị kiêng canh khổ qua do để trại qua chữ “khổ quá”. Không đúng lắm, tôi thấy giỗ quảy nhà tôi hay quê tôi món canh khổ qua lúc nào cũng đầu bảng.

Vậy là mâm cúng đã đủ lễ. Sản vật từ trên đất dưới sông đã đủ. Bày cúng thôi, càng nhiều thì càng đúng với câu “mâm cao cỗ đầy” kính dâng thổ công, thần hoàng, bổn xứ. Cầu một năm mưa thuận, gió hoà, mua may, bán đắt (đông người mua chớ không phải giá đắt).

Ấy, vì mâm cúng đất phong phú vậy mà không phải cầu kỳ tỉa tót. Có cả món dân dã nhà nghèo, khoai sắn luộc tới rau lang, đến các món được chặt to kho mặn nên tôi nói mâm cúng đất giống tính cách người xứ Quảng là vậy.

Một Gia Đình 40 Năm Cúng Giỗ Bác Hồ

Người con trai út của ông Sáu Tòng bên bàn thờ Bác Hồ.

Ngày Bác mất, xã Vĩnh Viễn, huyện Long Mỹ, Hậu Giang còn chìm trong khói lửa chiến tranh; đây là căn cứ kháng chiến thường xuyên bị giặc bắn phá, khủng bố. Giữa mưa bom bão đạn đó, nhiều gia đình vẫn lập bàn thờ Bác, trong đó có gia đình ông Sáu Tòng. Tủ thờ đặt ảnh Bác ngày đó còn găm lại nhiền mảnh bom của giặc.

Giỗ đầu của Bác vào ngày 3/9/1970, ông Phan Văn Tòng (Sáu Tòng) làm mâm cơm đạm bạc như chính cuộc sống đạm bạc thường ngày của Bác Hồ với đĩa trái cây, đòn bánh tét, đĩa bánh ít, những đặc sản mang hương vị của miền Nam dâng lên Bác.

Ngày Bác ra đi ông sáu Tòng mới ngoài 30 tuổi. Ông nói với bà con: “Thế là ước mong đón Bác vào miền Nam không còn nữa, thương Bác quá chừng, Bác chưa vô được miền Nam nhưng đồng bào miền Nam ai cũng như thấy có Bác Hồ bên cạnh”. Ông Sáu rước ảnh Bác về lập bàn thờ trong căn nhà lá bé nhỏ với tình cảm trân trọng để cảm nhận mình luôn luôn được ở gần Bác.

Gia đình ông là cơ sở nuôi chứa cán bộ hoạt động trong lòng địch. Nhà nghèo, đông con nhưng ông từng dành hàng trăm dạ lúa, cả con trâu hiến nuôi bộ đội giải phóng. Ông có 10 người con thì có tới 5 người (cả con đẻ và con rể) là thương binh, liệt sĩ.

Kể từ mùa thu năm 1969 khi Bác qua đời tới nay đã tròn 40 năm, trong nhà ông sáu Tòng không lúc nào ngơi hương khói thờ phụng Người. Năm 1998 ông Sáu Tòng qua đời. Trước lúc về cõi vĩnh hằng, ông gọi con trai út là Phan Văn Nam đến cạnh căn dặn con cháu nhớ nối đời nhau thờ cúng Bác như thờ cúng ông bà, cha mẹ.

Làm theo di nguyện của cha, mấy năm qua, trong căn nhà tình nghĩa xã xây tặng ông Sáu Tòng, đêm đêm ngọn đèn thờ vẫn đỏ và nghi nghi ngút khói hương. Căn nhà giờ đây đã cũ kỹ, xuống cấp nhưng nơi thờ phụng Bác đặt cạnh bàn thờ ông bà, cha mẹvẫn trang nghiêm ấm cúng. Tủ thờ Bác năm xưa dính nhiều mảnh bom đã được viện bảo tàng Cần Thơ đưa về lưu giữ, thay vào đó là chiếc tủ thờ mới đẹp đẽ hơn.

Từ ngày quê hương được giải phóng, đời sống nhân dân xã Vĩnh Viễn ngày càng no ấm, gia đình ông Sáu Tòng cũng khá hơn. Sau ngày ông mất, con trai út làm được căn nhà khang trang. Căn nhà tình nghĩa năm xưa như là một kỉ niệm của gia đình làm nơi thờ cúng Bác Hồ, ông bà, cha mẹ.

Câu chuyện nhà ông Sáu Tòng 40 năm đời nối đời thờ cúng Bác Hồ như thờ cúng ông bà được bà con trong huyện, trong tỉnh và nhiều nơi coi là một việc làm có nhiều ý nghĩa sâu nặng về lòng kính yêu Bác. Nhiều người đã đến thăm, thắp hương tưởng niệm Bác Hồ tại nhà ông Sáu. Năm 1990 UBND tỉnh Cần Thơ (cũ) tặng ông Sáu Tòng một chiếc máy thu hình để mỗi lần dân làng hội tụ về đây cúng giỗ Bác Hồ cùng được xem thời sự, xem lại hình ảnh Bác.

Năm nay giỗ Bác lần thứ 40,anh Nam, con trai út của ông Sáu Tòng mong muốn tổ chức chu đáo, trạng trọng hơn để mời bà con, lối xóm tới thắp hương tưởng nhớ Bác. Anh cũng đang có ý định một, hai mùa lúa nữa tích góp được tiền sẽ sữa lại căn nhà tình nghĩa đang làm nơi thờ Bác đẹp hơn, khang trang hơn.

Hướng Dẫn Cách Cúng Giải Hạn Sao Xấu Hằng Năm

Người xưa cho rằng: Mỗi người vào mỗi năm có một ngôi sao chiếu mệnh, tất cả có 9 ngôi sao, cứ 9 năm lại luân phiên trở lại. Mỗi người vào mỗi năm có một ngôi sao chiếu mệnh. Có sao tốt có sao xấu. Nếu gặp sao xấu thì phải cúng dâng sao giải hạn.

+ Sao Chiếu mệnh: Theo nguyên lý Cửu diệu, các nhà Chiêm tinh xưa cho rằng mỗi năm mỗi người đều có 1 trong 9 sao chiếu. Trong đó có:

– 3 sao Tốt: Thái dương, Thái Âm, Mộc đức. – 3 sao Xấu: La hầu, Kế đô, Thái bạch. – 3 sao Trung: Vân hớn, Thổ tú, Thủy diệu.

Khi ở những tuổi nhất định (có Bảng tính sẵn phía dưới) mà gặp sao hạn sẽ không may, cần giải hạn. Do đó dân gian thường làm lễ Dâng sao giải hạn hằng tháng trong 12 tháng tại nhà hoặc hằng tháng tại Chùa. Khi giải hạn mỗi sao có cách bài trí nến, mầu sắc Bài vị, nội dung Bài vị khác nhau với những ngày nhất định.

Cùng một tuổi, cùng một năm đàn ông và đàn bà lại có sao chiếu mệnh khác nhau. Trong 9 ngôi sao có sao tốt, có sao xấu, năm nào sao xấu chiếu mệnh con người sẽ gặp phải chuyện không may, ốm đau, bệnh tật. . . gọi là vận hạn.

Để giảm nhẹ vận hạn người xưa thường làm lễ cúng dâng sao giải hạn hằng tháng tại nhà ở ngoài trời trong 12 tháng hoặc hằng tháng tại Chùa với mục đích cầu xin Thần Sao phù hộ cho bản thân, con cháu, gia đình đều được khoẻ mạnh, bình an, vạn sự tốt lành, may mắn, thành đạt và thịnh vượng.

Theo quan niệm dân gian thì 9 ngôi sao chiếu mệnh chỉ xuất hiện vào những ngày nhất định trong tháng, từ đó hình thành tục dâng sao giải hạn vào các ngày trong 12 tháng như sau:

Sao Thái Dương: Ngày 27 âm lịch hàng tháng

Sao Thái Âm: Ngày 26 âm lịch hàng tháng

Sao Mộc Đức: Ngày 25 âm lịch hàng tháng

Sao Vân Hớn (hoặc Văn Hán): Ngày 29 âm lịch hàng tháng

Sao Thổ Tú: Ngày 19 âm lịch hàng tháng

Sao Thái Bạch: Ngày 15 âm lịch hàng tháng

Sao Thuỷ Diệu: Ngày 21 âm lịch hàng tháng

Sao La Hầu: Ngày 8 âm lịch hàng tháng

Sao Kế Đô: Ngày 18 âm lịch hàng tháng

Sao La Hầu là khẩu thiệt tinh : sao này ảnh hưởng nặng cho nam giới về tai tiếng, thị phi, kiện thưa, bệnh tật tai nạn. Mỗi tháng hay vào tháng Kỵ là tháng 1, 7 âm lịch nên cúng giải vào ngày 08 âm lịch, là sao La Hầu giáng trần.

Khi cúng viết bài vị dùng giấy màu đỏ như sau : “Thiên Cung Thần Thủ La Hầu Tinh Quân”. Thắp 9 ngọn đèn lạy 9 lạy về hướng Chánh Bắc. Cúng làm lễ lúc 21 đến 23 giờ .

2- Sao Kế Đô : Hung tinh, kỵ tháng ba và tháng chín nhất là nữ giới. Chủ về ám muội, thị phi, đau khổ, hao tài tốn của, họa vô đơn chí; trong gia đình có việc mờ ám, đi làm ăn xa lại có tài lộc mang về.

Sao này kỵ nhất nữ giới, nhớ cúng giải hạn mỗi tháng hay vào tháng Kỵ là tháng 1, 3, 9 âm lịch nên cúng giải vào ngày 18 âm lịch ngày sao Kế Đô giáng trần. Khi cúng viết bài vị dùng giấy màu vàng như sau : “Địa cung Thần Vỉ Kế Đô tinh quân”, thắp 21 ngọn đèn, lạy 21 lạy về hướng Tây .

Cách Khấn : Cung thỉnh Thiên Đình Bắc vỉ cung Đại Thánh Thần vỉ Kế đô Tinh quân vị tiền. Cúng lễ vào lúc 21 đến 23 giờ.

3- Sao Thái Dương : Thái dương tinh (măt trời) tốt vào tháng sáu, tháng mười, nhưng không hợp nữ giới. Chủ về an khang thịnh vượng, nam giới gặp nhiều tin vui, tài lộc còn nữ giới lại thường gặp tai ách.

Sao Thái Dương: Mỗi tháng cúng ngày 27 âm lịch, khi cúng phải có bài vị màu vàng, được viết như sau : “Nhật Cung Thái Dương Thiên Tử Tinh Quân”. Thắp 12 ngọn đèn, lạy 12 lạy về hướng ĐÔNG mà cúng. Làm lễ lúc 21 tới 23 giờ.

Sao Thái Dương là tinh quân Tốt nhất trong các Sao Hạn như Rồng lên mây, chiếu mệnh tháng 6, tháng 10, lộc đến túi đầy tiền vô. Mệnh ai chịu ảnh hưởng của sao này, đi làm ăn xa gặp nhiều may mắn, tài lộc hưng vượng, phát đạt.

4- Sao Thái Âm : Chủ dương tinh (mặt trăng), tốt cho cả nam lẫn nữ vào tháng chín nhưng kỵ tháng mười. Nữ có bệnh tật, không nên sinh đẻ̉ e có nguy hiểm. Chủ về danh lợi, hỉ sự.

Sao Thái Âm: Hàng tháng vào lúc 19 tới 21 giờ tối vào ngày 26 âm lịch, dùng 07 ngọn đèn, hương hoa trà quả làm phẩm vật, cúng day mặt về hướng Tây vái lạy 7 lạy mà khấn vái. Khi cúng phải có bài vị màu vàng, được viết như sau :”Nguyệt Cung Thái Âm Hoàng Hậu Tinh Quân”. Hạp tháng 9 âl – Kỵ tháng 11 âl.

5- Sao Mộc Đức (Mộc tinh) : Triều ngươn tinh, chủ về hôn sự, nữ giới đề phòng tật bệnh phát sinh nhất là máu huyết, nam giới coi chừng bệnh về mắt. Tốt vào tháng mười và tháng chạp âm lịch.

Sao Mộc Đức tức sao Mộc Tinh. Mỗi tháng cúng ngày 25 âm lịch, sao Mộc Đức giáng trần. Khi cúng có bài vị màu vàng (hoặc xanh) được viết như sau : “Đông Phương Giáp Ất Mộc Đức Tinh Quân”. Lúc cúng thắp 20 ngọn đèn, đặt bàn day mặt về hướng chánh Đông lạy 20 lạy. Cúng lễ lúc 19 -21 giờ.

6- Sao Vân Hớn, hoặc Văn Hán (Hỏa tinh) : Tai tinh, chủ về tật ách, xấu vào tháng hai và tháng tám âm lịch. Nam gặp tai hình, phòng thương tật, bị kiện thưa bất lợi; nữ không tốt về thai sản.

Sao Vân Hớn tức Hỏa Dực Tinh. Một hung tinh, đến năm hạn gặp sao này Nữ giới sinh sản khó, vào tháng 2, tháng 8 xấu, nên đề phòng gặp chuyện quan sự, trong nhà không yên, khó nuôi súc vật.

Mỗi tháng hoặc tháng 4 và 5 âm lịch cúng ngày 29 âm lịch, viết bài vị màu đỏ : “Nam Phương Bính Đinh Hỏa Đức Tinh Quân”. Thắp 15 ngọn đèn day về hướng Chánh ĐÔNG mà cúng. Lạy 15 lạy. Cúng lúc 21 đến 23 giờ.

7- Sao Thổ Tú (Thổ tinh) : Ách Tinh, chủ về tiểu nhân, xuất hành đi xa không lợi, có kẻ ném đá giấu tay sinh ra thưa kiện, gia đạo không yên, chăn nuôi thua lỗ. Xấu tháng tư, tháng tám âm lịch.

Sao Thổ Tú tức sao Thổ Tinh. Khắc kỵ vào tháng 4 và tháng 8 âm lịch, trong nhà nhiều chuyện thị phi, chiêm bao quái lạ, không nuôi được súc vật, chẳng nên đi xa và đêm vắng. Mỗi tháng cúng ngày 19 âm lịch, lúc 21 giờ, dùng 5 ngọn đèn , hương hoa, trà quả làm phẩm vật day về hướng TÂY mà khấn vái . Lạy 5 lạy . Bài vị viết như sau :”Trung Ương Mậu Kỷ Thổ Đức Tinh Quân”.

8- Sao Thái Bạch (Kim tinh) : Triều dương tinh, sao này xấu cần giữ gìn trong công việc kinh doanh, có tiểu nhân quấy phá, hao tán tiền của, đề phòng quan sự. Xấu vào tháng năm âm lịch và kỵ màu trắng quanh năm.

Thái Bạch: Sao Kim Tinh : Lại rất vui cho những người mang mệnh Thuỷ mệnh Kim, vì có quý nhân giúp, nên gặp sao này đi làm ăn xa có tiền tài của cải, trong gia đạo thêm người. Đối với người có mệnh Hỏa hay mệnh Mộc và nữ mạng sẽ gặp bất lợi, đề phòng tiểu nhân mưu hại hay hao tài tốn của, nhất là ở tháng 5 âm lịch .

Mỗi tháng vào ngày rằm (15 âm lịch) sao Thái Bạch giáng trần, khi cúng viết bài vị màu trắng như sau : “Tây Phương Canh Tân Kim Đức Tinh Quân”. Có thể thay 2 chử Kim Đức bằng 2 chữ Thái Bạch cũng được. Làm lễ cúng lúc 19 – 21 giờ . Thắp 8 ngọn đèn , lạy 8 lạy về hướng chánh TÂY .

9- Sao Thủy Diệu (Thủy tinh) : Phước lộc tinh, tốt nhưng cũng kỵ tháng tư và tháng tám. Chủ về tài lộc hỉ. Không nên đi sông biển, giữ gìn lời nói (nhất là nữ giới) nếu không sẽ có tranh cãi, lời tiếng thị phi đàm tiếu.

Sao Thủy Diệu sao Thủy Tinh, là sao Phúc Lộc tinh. Nữ giới mang mệnh Mộc sẽ rất vui mừng , đi làm ăn xa có lợi về tiền bạc .

Mỗi tháng hay vào tháng Kỵ tuổi là tháng 4 , 8 âm lịch, nên cúng giải hạn vào ngày 21 âm lịch, sao Thủy Diệu giáng trần. Khi cúng viết bài vị dùng giấy màu đỏ như sau : “Bắc Phương Nhâm Quý Thủy Đức Tinh Quân”. Thắp 7 ngọn đèn , lạy 7 lạy về hướng Chánh Bắc. Cúng làm Lễ lúc 21 đến 23 giờ .

+ Còn về hạn mỗi người hằng năm sẽ gặp một hạn có năm tốt có năm xấu, cách xem như đã chỉ dẫn phần xem sao Cửu Diệu và hạn như bảng trên, còn về tính chất thì:

1- Huỳnh Tiền (Đại hạn) bệnh nặng, hao tài.

2- Tam Kheo (Tiểu hạn) tay chân nhức mỏi.

3- Ngũ Mô ̣ (Tiểu hạn) hao tiền tốn của.

4- Thiên Tin h (Xấu) bị thưa kiện, thị phi.

5- Tán Tận (Đại hạn) tật bệnh, hao tài.

6- Thiên La (Xấu) bị phá phách không yên.

7- Địa Võng (Xấu) tai tiếng, coi chừng tù tội.

8- Diêm Vương (Xấu) người xa mang tin buồn.

+ Cách Hóa giải Vận hạn do sao Chiếu mệnh:

Theo quan niệm dân gian thì 9 ngôi sao chiếu mệnh chỉ xuất hiện vào những ngày nhất định trong tháng, từ đó hình thành tục dâng sao giải hạn vào các ngày nhất định. Để hóa giải vận hạn, cổ nhân thường cúng hay làm Lễ Dâng sao giải hạn hằng tháng tại nhà hoặc tại chùa. Về thủ tục, mỗi tuổi khác nhau (về cách bài trí nến, mầu sắc Bài vị, nội dung Bài vị, ngày cúng nhất định) nhưng có những điểm chung và riêng như sau:

Sắm lễ: + Lễ vật cúng sao đều giống nhau:

– Lễ vật gồm: Hương, Hoa, Quả (5 loại). Trầu, rượu, nước. Vàng, Tiền (10), Gạo, Muối.

– Lễ xong hóa cả tiền, vàng, văn khấn, bài vị.

+ Màu sắc bài vị và cách bố trí nến trên bàn lễ khác nhau về chi tiết cụ thể:

Khi gặp sao hạn chiếu, tùy tuổi, nam hay nữ mà Sao khác nhau. Tùy Sao mà cúng vào các ngày khác nhau, bàn đặt và hướng lạy, màu sắc Bài vị, nội dung chữ ghi trên Bài vị, số nến và sơ đồ cắm khác nhau, nội dung khấn cũng khác nhau.

+ Cách bố trí nến (đèn cầy) trên bàn cúng theo sơ đồ từng Sao như sau (còn màu sắc là của Bài vị):

Số nến trên của từng Sao được gắn khoảng giửa trên bàn lễ, bên trong cùng của bàn lễ là Bài vị.

+ Cách viết bài vị và màu sắc Bài vị cho từng Sao như sau:

Bài vị dán trên chiếc que cắm vào ly gạo và đặt ở khoảng giửa phía trong cùng của bàn lễ.

+ Mẫu văn khấn cúng giải Sao hạn như sau:

Dùng khấn cúng giải sao hạn, lá sớ có nội dung tùy theo tên Sao Hạn hàng năm mà ghi theo mẫu sau đây, đốt ba cây nhang quỳ lạy ba lạy rồi đọc :

– Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.

– Nam mô Hiệu Thiên chí tôn Kim Quyết Ngọc Hoàng Thượng đế.

– Con kính lạy Đức Trung Thiện tinh chúa Bắc cựcTử Vi Tràng Sinh Đại đế.

– Con kính lạy ngài Tả Nam Tào Lục Ty Duyên Thọ Tinh quân.

– Con kính lạy Đức Hữu Bắc Đẩu cửu hàm Giải ách Tinh quân.

– Con kính lạy Đức Nhật cung Thái Dương Thiên tử Tinh quân.

– Con kính lạy Đức Thượng Thanh Bản mệnh Nguyên Thần Chân quân.

Tín chủ (chúng) con là:………………………………………. Tuổi:…………………………

Hôm nay là ngày…… tháng………năm….., tín chủ con thành tâm sắm lễ, hương hoa trà quả, đốt nén tâm hương,

thiết lập linh án tại (địa chỉ)……………………………………………………………để làm lễ giải hạn sao …………………….. chiếu mệnh, và hạn:………………………

Cúi mong chư vị chấp kỳ lễ bạc phù hộ độ trì giải trừ vận hạn; ban phúc,lộc, thọ cho con gặp mọi sự lành, tránh mọi sự dữ, gia nội bình yên, an khang thịnh vượng.

Tín chủ con lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ, cúi xin được phù hộ độ trì. Phục duy cẩn cáo!

(Và quỳ lạy theo số lạy của từng sao theo phần “Tính chất sao Cửu Diệu…” đã nói ở trên)

Nguồn: www.phongthuy.tv/bang-tinh-sao-han-hang-nam-va-huong-dan-cac-tinh-cach-cung-giai-sao-han-tam-tai.html

Cùng Danh Mục:

Liên Quan Khác

Cập nhật thông tin chi tiết về Gia Đình Người Quảng Cúng Quảy Hằng Năm trên website Apim.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!