Xu Hướng 2/2024 # Gãy Thân Hai Xương Cẳng Chân # Top 11 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Gãy Thân Hai Xương Cẳng Chân được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Apim.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

GÃY THÂN HAI XƯƠNG CẲNG CHÂN

Link bài giảng: https://drive.google.com/drive/folders/1rb71G1dEJx1uhiUaZMzuP3W-7SadkEUt

GÃY THÂN HAI XƯƠNG CẲNG CHÂN

Ts. bs. Lê Quang Trí

Mục tiêu học tập: Sau khi học xong bài này, sinh viên có khả năng:

1. Trình bày được định nghĩa, nguyên nhân, cơ chế, phân loại gãy thân hai xương cẳng chân.

2. Mô tả được triệu chứng lâm sàng, hình ảnh X- Quang của gãy hai xương cẳng chân.

3. Trình bày được phương pháp điều trị bảo tồn, phẫu thuật kết hợp xương và các biến chứng của gãy hai xương cẳng chân.

4. Nhận thức được gãy thân hai xương cẳng chân là một cấp cứu cần được xử trí một cách khẩn trương và đúng kỹ thuật.

I. ĐẠI CƯƠNG

1.1. Định nghĩa

– Gãy thân hai xương cẳng chân là gãy ở vị trí dưới lồi củ trước xương chày 1 cm hoặc dưới khớp gối ba khoát ngón tay hoặc dưới mặt khớp mâm chày khoảng 10 cm đến trên khớp chày sên ba khoát ngón tay hoặc trên trần chày khoảng 7 cm. (Hình 1). [1]

– Là loại gãy dưới hành xương của mâm chày và trên hành xương của trần chày.

Hình 1. Vị trí gãy thân hai xương cẳng chân. [1]

1.2. Đặc điểm giải phẫu

1.2.1. Xương

– Vùng cẳng chân có hai xương: xương chày to, xương mác nhỏ. Gãy cẳng chân thường gãy cả hai xương, cũng có thể chỉ gãy một xương.

– Xương chày là hình lăng trụ tam giác với mào chày ở phía trước nằm sát da, khi xuống 1/3 dưới thành hình trụ tròn nên đây là điểm yếu rất dễ bị gãy (hình 2).

Hình 2. Sự thay đổi giải phẫu của xương chày đoạn 1/3 giữa tiếp giáp 1/3 dưới [2].

1.2.2. Phần mềm

– Các khối cơ bố trí quanh xương không đồng đều, phía ngoài và phía sau có khối cơ chắc khoẻ, phía trước không có cơ mà ngay dưới da là xương (hình 3). Vì vậy khi gãy xương, dễ gây mở góc ra sau và ra ngoài, làm đầu xương gãy chọc thủng phần mềm phía trước trong gây gãy hở.

Hình 3. Giải phẫu sự phân bố phần mềm vùng cẳng chân [3]

– Cẳng chân có bốn khoang (hình 4). Cấu tạo các khoang hẹp, thành khoang chắc vì vậy khi có phù nề, chảy máu trong khoang dễ gây hội chứng chèn ép khoang; một biến chứng nguy hiểm, nguy cơ hoại tử và cắt cụt chân cao.

Hình 4. Cấu tạo các khoang vùng cẳng chân [3]

– Đoạn 1/3 dưới cẳng chân, các cơ cẳng chân đã chuyền thành gân, mạch nuôi xương càng xuống thấp càng nghèo nàn, khi gãy vùng này xương khó liền.

– Gãy cao dễ gây chèn ép khoang, gãy thấp dễ dẫn đến gãy hở.

1.3. Nguyên nhân- Cơ chế gãy xương (hình 5)

1.3.1. Cơ chế chấn thương trực tiếp: lực tác động trực tiếp ngay ổ gãy. Tổn thương phần mềm trong chấn thương trực tiếp thường nặng nề hơn chấn thương gián tiếp, thường gây gãy xương hở (có vết thương, qua đó ổ gãy xương thông với môi trường bên ngoài).

1.3.2. Cơ chế chấn thương gián tiếp: lực chân thương xoắn, vặn, uốn cong làm gãy xương ở vị trí xa nơi lực tác động,đường gãy thường chéo, xoắn.

Hình 5. Cơ chế gây gãy hai xương cẳng chân [2]

1.4. Phân loại có nhiều cách phân loại gãy hai xương cẳng chân: gãy đơn giản- phức tạp nhiều mảnh rời; theo vị trí gãy 1/3 trên, 1/3 giữa, 1/3 dưới…Nhưng thông thường được phân loại như sau

          1.4.1. Phân loại theo mức độ tổn thương phần mềm che phủ

          – Gãy kín: ổ gãy không thông với môi trường bên ngoài.

          – Gãy hở: ổ gãy thông với môi trường bên ngoài thông qua vết thương. Gustilo phân loại gãy hở ra 3 độ (bảng 1) [3]

          Bảng 1. Phân loại gãy hở theo Gustilo.

Độ I

+ Da bị hở ≤1 cm, xương thường từ bên trong đâm ra bên ngoài. Vết thương sạch.

+ Đường gãy thường đơn giản: gãy ngang hoặc chéo ngắn.

+ Tổn thương phần mềm rất ít.

Độ II

+ 1< Da bị xé rách≤10 cm.

+ Đường gãy ngang đơn thuần hay chéo ngắn kèm theo mảnh thứ 3.

+ Tổn thương mô mềm tương đối rộng, da bị tróc còn cuống hoặc có thể bị mất da.

Độ III

A

+ Xương bị gãy làm 2- 3 đoạn (giống có mảnh nhỏ).

+ Tổn thương xé rách mô mềm còn cuống, tổn thương phần mềm rộng nhưng vẫn đủ phần mềm để che xương.

B

+ Bóc hẳn màng xương lộ ra ngoài.

+ Mất phần mềm nhiều, bị lột màng xương và lộ xương, nguy cơ nhiểm trùng cao

C

+ Các cơ gần như bị đứt hết. Tổn thương nặng về bó mạch, thần kinh kèm theo cần phải sửa chữa (nối hoặc ghép) bất kể độ lớn của tổn thương phần mềm.

1.4.2. Phân loại theo Tscherne [3]

– C0. Ổ gãy đơn giản, không tổn thương phần mềm.

– C1. Gãy xương mức độ nhẹ đến vừa, tổn thương xây xát da.

– C2. Gãy xương từ mức độ vừa đến nặng, đụng giập sâu phần mềm còn khu trú.

– C3. Gãy xương mức độ nặng, đụng giập sâu, nghiêm trọng phần mềm.

Hình 6.  Phân loại theo Tscherne [3]

1.4.3. Phân loại theo AO/ ASIP (hình 7) [3]

Độ A: Xương chày gãy đơn giản.

A2. Gãy chéo váy <30°.

A3. Gãy ngang.

Độ B: Xương chày gãy có mảnh rời.

B1. Gãy xoắn vặn, có mảnh rời.

B2. Gãy có mảnh rời chéo vát.

B3. Gãy có nhiều mảnh rời nhỏ.

Độ C: Xương chày gãy phức tạp

C1. Gãy chéo xoắn nhiều mảnh.

C2. Gãy ba đoạn.

C3. Gãy vụn cả một đoạn xương.

– Phân loại này có giá trị trong điều trị, tuy nhiên phân loại này thường gây khó nhớ cho các phẫu thuật viên

Hình 7. Phân loại theo AO/ ASIP [3]

II. TRIỆU CHỨNG

2.1. Lâm sàng

– Đau, sưng nề, bất lực vận động chân gãy, bệnh nhân không đứng dậy được.

– Biến dạng chân gãy: nhìn thấy rõ sự di lệch với ngắn chi, bàn chân xoay ngoài, gập góc mở ra sau- ngoài. (hình 8)

Hình 8. Hình ảnh lâm sàng gãy kín hai xương cẳng chân [2]

– Có thể nhìn thấy vết thương chảy máu có váng mỡ hoặc đầu xương gãy lộ ra ngoài vết thương trong gãy hở (hình 9)

Hình 9. Hình ảnh lâm sàng gãy hở 1/ 3 giữa hai xương cẳng chân phải [1]

– Sờ thấy đầu xương gãy gồ dưới da ở mặt trong cẳng chân, điểm đau chói cố định tại ổ gãy.

– Dấu hiệu cử động bất thường và lạo xạo xương tại ổ gãy nhưng không nên cố gắng tìm vì dễ gây đau và tổn thương thứ phát.

– Chú ý đến các biến chứng chèn ép mạch khoeo hoặc chày sau, biến chứng chèn ép khoang. Do vậy cần bắt mạch ở mu chân, đánh giá mức độ phù nề cẳng chân, khám cảm giác và vận động các ngón. Có thể xuất hiện các nốt phổng nước, biểu hiện sự trầm trọng của biến chứng chèn ép khoang.

– Thăm khám cần xác định các thương tổn cổ chân, gãy cổ xương mác, tổn thương thần kinh mạch máu kèm theo.

2.2. X- Quang

– Chụp X- Quang cẳng chân thẳng và nghiêng (hình 10), lấy cả khớp gối bên trên và khớp cổ chân bên dưới để xác định tổn thương, kiểu gãy, các tổn thương kết hợp khác cũng như lựa chọn phương pháp điều trị phù hơp.

Hình 10. Hình ảnh X- Quang gãy hai xương cẳng chân [2]

III. ĐIỀU TRỊ

Việc điều trị phụ thuộc vào nhiều yếu tố do phẫu thuật viên đánh giá

– Gãy vững hay không vững.

– Các yếu tố nguy cơ, các tổn thương kèm theo.

3.1. Điều trị bảo tồn

3.1.1. Chỉ định: chỉ được sử dụng khi đánh giá gãy vững, không có yếu tố nguy cơ- biến chứng kèm theo→bó bột tròn kín ngay sau nắn kín (có thể rạch dọc bột, kê chân cao).

– Không hoặc ít di lệch.

– Gãy cành tươi ở trẻ em.

– Gãy kín hai xương cẳng chân có đường gãy ngang hoặc chéo vát <30°, gãy có mảnh cánh bướm nhỏ hơn 25% chu vi thân xương.

– Có thể áp dụng với gãy hở độ I (theo Gustilo), vết thương sạch, thời gian ≤ 6 giờ.

3.1.2. Phương pháp nắn chỉnh kín

3.1.2.1. Phương pháp I: bệnh nhân nằm ngữa, được vô cảm bằng gây mê. Hai chân để thẳng song song trên mặt bàn. Ổ gãy được kéo giãn và nắn chỉnh nhờ hai lực đối nhau của người nắn và người phụ. Bó bột đùi bàn chân ở tư thế gối gấp 7°- 10°.

3.1.2.2. Phương pháp II: bệnh nhân nằm ngữa hoặc ngồi cạnh mép bàn. Cả hai chân được thả tự do. Người nắn giữ chân gãy của bệnh nhân qua một dây vải và kéo vuông góc với mặt phẳng nằm ngang. Nắn chỉnh ổ gãy, sau đó bó bột đùi bàn chân ở tư thế gối gấp 7°- 10° (hình 11).

Hình 11. Phương pháp nắn chỉnh tư thế ngồi, và bó bột đùi bàn chân [3]

          – Có thể rạch dọc bột tránh chèn ép do giai đoạn đầu chân sưng nề nhiều.

– Để bột 5 ngày- 7 ngày hết sưng nề→quấn băng tăng cường và để bột thêm 8 tuần- 10 tuần.

– Với trường hợp gãy ngang, sau hai tuần bó bột cho tập đi có tỳ nén tăng dần lên chân tổn thương, đến bốn tuần có thể thay bột Sarmiento cho tập đi có tỳ đè

– Các di lệch trong bột chấp nhận (chồng ngắn <1,5 cm; gập góc ra ngoài hoặc vào trong <5°; gập góc ra trước hoặc sau <10°).

3.1.3. Xuyên đinh kéo tạ

– Dùng đinh Steimann hoặc đinh Kirschner lớn xuyên qua xương gót để kéo liên tục trên khung Braun. Kéo tạ được chỉ định trong các trường hợp gãy không vững, gãy di lệch nhiều. Kéo tạ sẽ nắn chỉnh được di lệch chồng ngắn, xoay ngoài và một phần nào di lệch ngang.

– Tạ kéo thường với 1/10 trọng lượng cơ thể và tăng dần sau đó. Kéo tạ cho đến khi có can xơ thì chuyển sang băng bột để thu ngắn thời gian nằm trên giường

3.2. Phẫu thuật

3.2.1. Chỉ định

3.2.1.1. Khấp cấp

– Gãy hở độ IIIB, IIIC (theo Gustilo).

– Gãy hở kèm phạm khớp.

– Gãy xương kèm phạm khớp.

– Có kết hợp các chấn thương khác (đa thương).

3.2.1.2. Sớm

– Gãy hở độ I, II, IIIA.

– Gãy xương kín nát, nhiều tầng.

– Gãy xương kín có tổn thương thần kinh- mạch máu, có các biến chứng khác như chèn ép khoang, shock chấn thương

3.2.1.3. Có trì hoãn

– Gãy kín di lệch nhiều, không biến chứng.

– Điều trị bảo tồn thất bại.

– Di lệch thứ phát sau bó bột.

3.2.2. Phương pháp kết hợp xương bên trong

3.2.2.1. Đóng đinh nội tủy Kuntscher, đinh Rush (hình 12) (áp dụng cho gãy vững)

Hình 12. Đóng đinh nội tủy xương chày [3]

3.2.2.2. Đóng đinh nội tủy có chốt (gãy không vững, gãy hở độ I, II <6 giờ) (hình 13)

Hình 13. Kết hợp xương chày bằng đinh nội tủy chốt. [2]

3.2.2.3. Kết hợp xương nẹp vít

– Sử dụng khi vị trí gãy sát gần các đầu xương, không thuận tiện cho việc bắt vít chốt hai đầu gãy, gãy nát nhiều tầng thân xương (hình 14).

Hình 14. Kết hợp xương chày bằng nẹp vít [3]

3.2.2.4. Kết hợp xương bằng khung cố định ngoài. (hình 15)

Hình 15. Kết hợp xương chày bằng khung cố định ngoài. [3]

Chỉ định

– Gãy hở độ IIIA trở đi

– Gãy hở đến muộn

– Gãy kín, tình trạng phần mềm xấu.

– Gãy hở nhiễm khuẩn

Phẫu thuật viên tiến hành cắt lọc vết thương, lấy bỏ dị vật. Sau đó ổ gãy được nắn chỉnh và cố định bằng khung cố định bên ngoài. Phương pháp cố định ổ gãy bằng các đinh ở xa ổ gãy và được liên kết với nhau bởi hệ thồng giữ bên ngoài, ngoài việc tránh được nguy cơ nhiễm trùng còn hạn chế gia tăng khối lượng vật chất trong các khoang từ đó tránh nguy cơ chèn ép khoang.

IV. BIẾN CHỨNG

          4.1. Biến chứng sớm

          4.1.1. Toàn thân

– Choáng chấn thương: ít xảy ra trong gãy kín, thường gặp trong gãy hở.

– Tắc mạch máu do mỡ: Thường gặp ở các trường hợp gãy nhiều xương, giập phần mềm nhiều, cần phát hiện sớm mới cứu được bệnh nhân.

4.1.2. Tại chổ

– Chèn ép khoang: Chiếm 65% trong các chèn ép khoang của cơ thể, thường xuất hiện đối với gãy 1/3 trên xương chày, gãy nhiều mảnh, gãy xoắn.

– Nhiễm trùng: gặp nhiều trong gãy hở.

– Gãy kín thành gãy hở do cố định ổ gãy không tốt. Liệt thần kinh mác chung trong gãy cổ xương mác.

4.2. Biến chứng muộn

4.2.1. Toàn thân

– Viêm phổi, viêm tiết niệu, loét điểm tỳ ở bệnh nhân nằm lâu do điều trị kéo liên tục lâu ngày.

4.2.2. Tại chổ

– Chậm liền xương.

– Khớp giả.

– Can xấu, can lệch.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Phác đồ điều trị gãy thân xương cẳng chân- Giáo trình Bệnh viện Chấn thương- Chỉnh hình, 2014

2. Gãy hai xương cẳng chân- Giáo trình ngoại khoa Học viên Quân Y (p.62-68)

3. John Ebnezar – Textbook of Orthopedics, Devaraj Urs Medical College Kolar, Karnataka, 2010, p: 290-294.

Bong Điểm Bám Dây Chằng Chéo Sau Kèm Gãy Thân Xương Chày

BONG ĐIỂM BÁM CHÉO SAU KÈM GÃY THÂN XƯƠNG CHÀY: ĐỪNG BỎ SÓT TỔN THƯƠNG

Bệnh nhân nam, 35 tuổi. Làm nghề xây dựng. Tai nạn ngã không rõ cơ chế

Bệnh nhân được chẩn đoán vỡ xương chày, mâm chày, bong điểm bám chéo sau

Sau khi kết hợp xương gãy mâm chày, thân xương chày khám thấy gối lỏng, ngăn kéo sau độ III

Hình ảnh Xquang và cắt lớp trước mổ

Vậy tổn thương là gì? Trả lời: Bong chéo sau

Bệnh nhân được nội soi khâu lại chéo sau, làm vững khớp gối

Video khám gối trước mổ

Video khám gối sau mổ

Phục hồi tầm vận động và chức năng khớp gối ngay sau mổ

 Câu hỏi đặt ra là có nên khâu chéo sau luôn không hay là đợi sau 1-2 tháng

Về chỉ định mổ bong điểm bám chéo sau: cứ bong có di lệch là mổ ở người có chức năng khớp gối tốt trước đó (không thoái hóa)

Khâu lại dây chằng chéo sau sẽ là liền xương với xương và các nghiên cứu đều đồng thuận là cho kết quả rất tốt.

Nếu khâu muộn thì sao? Rất khó để giải phóng xơ hình thành trong ổ gãy xương do khoang sau khớp gối chật hẹp, khó thao tác. Khi này thường phải tái tạo dây chằng chéo sau. Mà tái tạo thì không tốt bằng việc sửa chữa dây chằng cũ.

Với kĩ thuật mổ NỘI SOI ít xâm lấn, tổn thương chéo sau được phục hồi.

Thông điệp: GÃY XƯƠNG KHÔNG CHỈ TỔN THƯƠNG XƯƠNG TẠI CHỖ MÀ TỔN THƯƠNG KHỚP LÂN CẬN. ĐỪNG QUÊN ĐÁNH GIÁ KHỚP LÂN CẬN. KIẾN THỨC KINH ĐIỂN, TUY NHIÊN CHÚNG TA VẪN QUÊN.

Bài viết mang tính chất tham khảo nên không tự chẩn đoán bệnh. Hãy đến gặp Bác sĩ để khám và tư vấn đầy đủ. Liên hệ

Bs Cường 0935565678, Ths Dũng: 0827384726

Đại Cương Gãy Xương

ĐẠI CƯƠNG GÃY XƯƠNG

Link bài giảng: https://drive.google.com/drive/folders/1rb71G1dEJx1uhiUaZMzuP3W-7SadkEUt

ĐẠI CƯƠNG GÃY XƯƠNG

 Ts. bs. Lê Quang Trí

Mục tiêu học tập: Sau khi học xong bài này, sinh viên có khả năng:

1. Trình bày được định nghĩa, 7 cách phân loại, 4 giai đoạn tiến triển của gãy xương.

2. Mô tả được 6 triệu chứng lâm sàng, hình ảnh X Quang của gãy xương.

3. Nhận thức được gãy xương là một cấp cứu cần được xử trí một cách khẩn trương và đúng kỹ thuật.

I. ĐẠI CƯƠNG GÃY XƯƠNG

1.1. Định nghĩa 

Gãy xương là tình trạng thương tổn làm mất tính liên tục của xương do nguyên nhân có thể do chấn thương hoặc do bệnh lý. Mất tính liên tục hoàn toàn gọi là gãy xương hoàn toàn, mất tính liên tục không hoàn toàn gọi là gãy xương không hoàn toàn (hình 1).

Hình 1. Hình ảnh gãy xương. [3]

1.2. Phân loại gãy xương

1.2.1. Theo nguyên nhân

Gãy xương do chấn thương: gãy xương xảy ra sau tác động của 1 lực chấn thương. Có thể do tai nạn giao thông, tai nạn lao động, tai nạn sinh hoạt hoặc vết thương hoả khí.

Gãy xương do bệnh lý: một số bênh lí gây phá huỷ xương và làm gãy xương. Các bệnh hay gặp là u xương ác tính, viêm xương tuỷ xương, lao xương,…(hình 2).

Hình 2. Gãy xương bệnh lý [3]

1.2.2. Theo cơ chế gãy xương

– Chấn thương trực tiếp là gãy xương xảy ra tại vị trí lực chấn thương tác động vào. Xương thường bị gãy ngang hoặc gãy nhiều mảnh , lực chấn thương còn gây nên các thương tổn tại tổ chức phần mềm.

– Chấn thương gián tiếp là gãy xương xảy ra ở vị trí xa nơi lực chấn thương tác động. Các lực tác động vào xương có thể dưới các dạng:

+ Lực giằng dật, co kéo: thường gây bong đứt các mấu, các mỏm xương nơi bám của các gân hoặc dây chằng.

+ Lực gập góc: làm tăng độ cong của xương, xương gãy ở điểm yếu với mảnh gãy chéo vát, có thể có mảnh rời hình cánh bướm.

+ Lực xoay: xảy ra khi bệnh nhân bị ngã chân tỳ giữ trên mặt đất trong khi người bị xoay. Xương thường bị gãy chéo vát hoặc xoắn vặn.

+ Lực đè ép: thường gây gãy lún ở các vùng xương xốp. Điển hình là ngã từ cao đập gót xuống đất gây sập đồi gót, lún mâm chày, gãy cổ xương đùi, gãy xẹp thân đốt sống.

1.2.3. Theo tính chất gãy

Gãy xương không hoàn toàn xương chỉ bị tổn thương 1 phần không mất hoàn toàn tính liên tục.

Gãy dưới cốt mạc: đường gãy nằm dưới cốt mạc, cốt mạc không bị rách ổ gãy thường không di lệch. Loại gãy này thường xảy ra ở trẻ em do lớp cốt mạc dày dai khó bị rách.

Gãy rạn hoặc nứt xương: vết nứt chỉ ở 1 phía của vỏ xương.

Gãy cành xanh: là kiểu gãy toác giống như bẻ 1 cành cây xanh, ở loại gãy này 1 bên vỏ xương bị gãy toác còn bên kia bị cong lõm vào gây ra di lệch gập góc.

Gãy lún: là loại gãy xảy ra ở các vùng xương xốp, các bè xương xốp bị lún ép lại dưới tác động của 1 lực nén ép. Ví dụ: gãy lún thân đốt sống, gãy lún mâm chày (hình 3)

Hình 3. A. Gãy lún thân đốt sống B. Gãy cành xanh [3]

Gãy xương hoàn toàn: xương gãy và mất hoàn toàn tính liên tục.

1.2.4. Theo vị trí gãy:

Gãy đầu xương: vị trí gãy ở vùng đầu xương. Đây là vùng xương xốp, xương thường dễ liền. Nếu đường gãy thông vào khớp thì gọi là gãy xương phạm khớp. Nếu đưỡng gãy không thông vào khớp thì gọi là gãy xương không phạm khớp. Loại gãy này nắn chỉnh bảo tồn khó đạt kết quả và thường để lại di chứng hạn chế vận động khớp do bất động quá lâu, thường phải chỉ định phẫu thuật để khôi phục hình thể mặt khớp, cố định vững chắc ổ gãy và cho bệnh nhân vận động sớm để phục hồi chức năng khớp kế cận.

Gãy ở chỗ tiếp giáp giữa đầu xương và thân xương: đầu gãy thân xương cứng có thể cắm gắn vào đầu xương xốp, do đó thường dễ liền xương. Tuy nhiên loại gãy này cũng thường ảnh hưởng tới biên độ vận động khớp nếu bệnh nhân không tập vận động tích cực

Ở trẻ em còn sụn tiếp hợp thì gãy xương có thể xảy ra ở vùng sụn tiếp hợp còn được gọi là bong sụn tiếp hợp. Loại gãy này xương rất nhanh liền, đòi hỏi phải được nắn chỉnh sớm.

Gãy vùng thân xương: đây là vùng xương cứng có ống tuỷ, thường được chia ra gãy 1/3T.1/3G/1/3D. Trong trường hợp xương gãy hoàn toàn thường có di lệch điển hình tuỳ theo vị trí gãy do các cơ co kéo.

1.2.5. Theo đặc điểm của đường gãy (hình 4)

Gãy ngang: là các gãy xương với đường gãy nằm ngang, tạo với trục của thân xương 1 góc 90°. Loại gãy này thường gặp do lực chấn thương tác động trực tiếp vào xương tạo nên 1 lực bẻ hoặc gặp trong các gãy xương bệnh lý. Đặc điểm của loại gãy này là gãy vững, khó nắn chỉnh, nhưng khi nắn chỉnh được thì ít bị di lệch thứ phát.

Gãy chéo vát: đường gãy xương nằm chếch, tạo với trục thân xương 1 góc nhọn. Loại gãy này thường gặp do cơ chế gián tiếp với lực xoay. Đặc điểm gãy không vững, các đầu gãy có xu hướng bị trượt đi. Nắn chỉnh dễ nhưng khó giữ cố định, dễ di lệch thứ phát.

Gãy xoắn: đường gãy xoắn vặn như vỏ đỗ thường gặp do cơ chế gián tiếp với lực xoắn vặn. Các đầu gãy thường sắc nhọn, dài rất khó nắn chỉnh, khó giữ được cố định, dễ di lệch thứ phát.

Gãy xương có mảnh rời: xương bị gãy kèm theo có mảnh vỡ rời.

Gãy xương thành nhiều đoạn: xương có thể bị gãy thành 2 hoặc 3 đoạn, …

Hình 4. Đặc điểm đường gãy A. Gãy ngang B. Gãy xoắn C. Gãy chéo vát

D. Gãy nhiều mảnh rời E Gãy nhiều đoạn. [3]

Ngoài ra còn có các kiểu đường gãy đặc biệt khác như:

Gãy cắm gắn là loại gãy xương ở vị trí tiếp giáp giữa đầu xương và thân xương, do lực chấn thương gián tiếp. Đầu xương cứng cắm vào xương xốp. Gãy xương vững và liền xương nhanh.

Gãy bong dứt điểm bám: do các co kéo đột ngột của các cơ làm bong đứt 1 mẩu xương tại chỗ bám của gân cơ và dây chằng. Ví dụ bong mấu đông lớn xương cánh tay, bong lồi củ trước xương chày, bong gai chày, …

1.2.6. Theo di lệch của các đầu xương gãy

Gãy xương không di lệch: xương bị gãy nhưng các đầu gãy không bị di lệch. Thường gặp trong các loại gãy xương không hoàn toàn.

Gãy xương có di lệch: các đầu xương gãy bị lệch khỏi vị trí.

Cơ chế di lệch: di lệch ổ gãy xương do các yếu tố sau: lực co kéo của các cơ, tác động của lực chấn thương, tác động của trọng lượng chi. Lực co kéo của các nhóm cơ và trọng lượng chi gây ra những di lệch điển hình, di lệch do chấn thương là các di lệch không điển hình nó phụ thuộc vào hướng tác động và độ mạnh của lực chấn thương.

Các loại di lệch: khi xác định di lệch phải lấy đầu gãy trung tâm làm chuẩn và đánh giá mức độ di lệch của đầu gãy ngoại vi so với đầu gãy trung tâm. Di lệch bao gồm 5 loại :

+Di lệch sang bên: đầu xương gãy ngoại vi có thể ra trước, ra sau, vào trong hoặc ra ngoài so với đầu xương gãy trung tâm. Mức độ di lệch sang bên được đánh giá theo các mức: 1 vỏ xương, nửa thân xương, 1 thân xương hoặc trên 1 thân xương.

+Di lệch chồng hoặc di lệch gây ngắn chi: là loại di lệch làm các đầu xương gãy di lệch chồng lên nhau. Làm cho chiều dài chi bị ngắn đi so với bình thường. Mức độ di lệch được tính bằng cm

+Di lệch gập góc: trục của đoạn gãy trung tâm và đoạn gãy ngoại vi di lệch tạo thành góc. Có 2 cách tính góc: góc di lệch là góc tạo bởi vị trí bị lệch đi của đoạn ngoại vi với vị trí ban đầu của nó, góc mở là góc tạo bởi trục của đoạn gãy ngoại vi so với trục đoạn gãy trung tâm (hình 5).

+Di lệch xoay: đoạn ngoại vi di lệch xoay quanh trục. Di lệch này có thể nhận biết trên phim X Quang bằng cách so sánh tư thế của đầu gãy trung tâm và đầu gãy ngoại vi.

Hình 5. Di lệch ổ gãy A. Mở góc ra ngoài B. mở góc vào trong B. Mở góc ra sau C. Mở góc ra trước [3]

1.2.7. Phân loại theo đặc điểm thương tổn ở tổ chức phần mềm (hình 6)

Gãy xương kín: là loại gãy xương không kèm theo vết thương ở tổ chức phần mềm làm thông ổ gãy với môi trường bên ngoài.

Gãy xương hở: là loại gãy xương thông qua môi trường bên ngoài qua vết thương ở tổ chức phần mềm.

Hình 6. Theo đặc điểm tổn thương phần mềm A. Gãy kín  B. Gãy hỡ. [3]

1.3. Tiến triển tại xương gãy: 4 giai đoạn (hình 7 )[1]

Giai đoạn máu tụ: ngay sau gãy xương tại ổ gãy máu từ màng xương, tủy xương, phần mềm,… sẽ chảy ra, tụ lại giữa hai đầu xương và tổ chức xung quanh. Máu tụ này sẽ phát triển thành can liên kết.

Giai đoạn can liên kết: từ màng xương, ống xương, tủy xương các tế bào liên kết xâm nhập vào khối máu tụ tạo dần thành một màng lưới tổ chức liên kết thay dần khối máu tụ.

Giai đoạn can nguyên phát (can non): sau 3-4 tuần, muối canxi lắng đọng dần trên can xương liên kết tạo thành can xương non.

Giai đoạn can xương vĩnh viễn: màng xương, ống tủy được hình thành lập lại tạo thành can xương vĩnh viễn. Ổ gãy được liền tốt sau 8-10 tháng.

Hình 7. Quá trình liền xương

a. giai đoạn máu tu

b. giai đoạn can liên kết

c. giai đoạn can nguyên phát

d. giai đoạn can xương vĩnh viễn [1]

II. TRIỆU CHỨNG GÃY XƯƠNG [1]

2.1. Triệu chứng lâm sàng: một bệnh nhân bị gãy xương kín có thể có các triệu chứng sau, trong đó 4,5,6 là ba triệu chứng chắc chắn

2.1.1. Đau: đau nhiều, giảm đau nhanh khi bất động tốt, đây là triệu chứng chính, thường gặp đầu tiên và là triệu chứng phàn nàn nhiều nhất của bệnh nhân với thầy thuốc. Triệu chứng nhẹ, vừa, nặng có thể phụ thuộc vào độ rách của màng xương (nơi có những tận cùng thần kinh), tổn thương phần mềm, mạch máu, thần kinh, …

2.1.2. Giảm hoặc mất cơ năng chi bị gãy: bất lực vận động hoàn toàn hoặc không hoàn toàn phần chi gãy, ngọn chi xoay theo trọng lực, đây cũng là triệu chứng thường được bệnh nhân phàn nàn với nhân viên y tế.

2.1.3. Sưng nề, bầm tím: triệu chứng sưng nề, bầm tím phụ thuộc vào tổn thương phần mềm, chảy máu từ tủy xương, sự điều hòa quá trình đông cầm máu. Sưng nề là triệu chứng rất thường gặp trong gãy xương.

2.1.4. Biến dạng trục chi: bệnh nhân gãy xương có di lệch thường gây ra biến dạng, lệch trục, ngắn chi ở vùng chi gãy. căng cơ nhẹ và bong gân thường không có triệu chứng biến dạng chi. Một vài biến dạng điển hình và đặc biệt có thể giúp chẩn đoán xương gãy tốt hơn (hình 8).

2.1.5. Cử động bất thường: cử động bất thường giữa hai đầu xương gãy là dấu hiệu chắc chắn của gãy xương, không được cố ý tìm dễ làm bệnh nhân sốc và tổn thương phần mềm.

2.1.6. Tiếng cọ xát hai đầu gãy, lạo xạo xương.

Hình 8. Biến dạng hình lưng nĩa trong gãy Colles[3].

2.2. Triệu chứng cận lâm sàng[3]

2.2.1. X Quang: đây là công cụ chẩn đoán quan trọng cho phép chẩn đoán xác định bệnh lý gãy xương dùng để:

          – Xác định kiểu gãy: đơn giản (gãy ngang, gãy chéo vát, gãy xoắn,…), phức tạp ( nhiều tầng, nhiều mảnh,…), xuyên khớp.

          – Xác định di lệch: có 4 loại di lệch thường gặp (di lệch chồng ngắn, di lệch sang bên, di lệch gấp góc và di lệch xoay).

          – Xác định kế hoạch điều trị.

          – Xác định những trật khớp kèm theo gãy xương, di lệch sau cố định.

          Nguyên tắc chụp X- Quang trong chấn thương chỉnh hình

          – Ổ gãy nên ở giữa phim, chụp trên một khớp và dưới một khớp, chụp lấy đủ bóng phần mềm, …

2.2.2. Một số phương pháp chụp hệ xương khớp đặc biệt

– Chụp cắt lớp vi tính (CT scanner): gãy xương sọ, xương chậu, cột sống, mảnh xương gãy trong khớp,…

          – Chụp cộng hưởng từ (MRI): hữu ích trong chẩn đoán gãy xương, trong một số trường hợp, MRI giúp xác định tổn thương phần mềm và dây chằng. Tuy đây là tiêu chuẩn vàng trong chẩn đoán hình ảnh hiện nay cho bệnh lý chấn thương nhưng giá thành của phương pháp này còn tương đối cao.

III. ĐIỀU TRỊ GÃY XƯƠNG

3.1. Điều trị toàn thân: chống shock (giảm đau, truyền bù dịch và máu, nẹp cố định, kê cao chân, phong bế gốc chi, …), theo dõi và điều trị thuyên tắc phổi, viêm đường tiểu, viêm phổi, …[2]

3.2. Điều trị tại chổ (xương gãy)

3.2.1. Mục tiêu của điều trị gãy xương[3]

+ Phục hồi về lại hình thể giải bình thường hoặc gần bình thường đến mức có thể của xương gãy.

+ Cố định vững xương gãy để đảm bảo sự lành xương.

+ Tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình liền xương.

+ Phục hồi và điều trị các biến chứng (tại chổ, toàn thân)

+ Phục hồi khả năng vận động, sinh hoạt, nghề nghiệp, …

3.2.2. Điều trị bảo tồn: áp dụng cho gãy đơn giản không di lệch, di lệch không hoàn toàn, gãy cắm gắn, hoặc gãy di lệch đã được nắn chỉnh về hình thể giải phẫu.[1]

          + Nẹp vải, đai Desault cho các xương chi trên

          + Băng dính cố đinh cho gãy xương đòn, xương sườn, ngón tay và chân, ….

          + Nẹp bột hoặc bó bột cho ổ gãy chi trên và dưới.

          + Bất động tại giường với một số gãy cắm gắn cổ xương đùi, …

          + Nghỉ ngơi và sử dụng thuốc giảm đau, giảm viêm.

3.2.3. Điều trị phẫu thuật: đây là phương pháp đươc áp dụng sau khi nắn, điều trị bảo tồn thất bại. Ngoài ra còn được sử dụng trong điều trị gãy xương hở, gãy xương phạm khớp di lệch, gãy xương bệnh lý, gãy Galeazzi, gãy Monteggia, gãy xương kèm tổn thương mạch máu, thần kinh, …

          Nguyên tắc của phẫu thuật nắn chỉnh, kết hợp xương của Lambotte[3]

+  Bộc lộ: ổ gãy được bộc lộ vừa đủ rộng qua một đường mổ chính xác và hợp lý.

+ Nắn chỉnh các mảnh gãy được tiến hành dưới sự quan sát và thao tác trực tiếp.

+ Cố định tạm thời trước các mảnh gãy bằng kim Kirschner nếu cần thiết.

+ Cố định vững chắc các mảnh gãy bằng nẹp vít, nẹp khóa, đinh nội tủy, …

Ưu điểm của phẫu thuật: cho phép nắn chỉnh xương đúng hình thể giải phẫu, bất động vững, tránh di lệch thứ phát. Người bệnh có thể tập vận động sớm, tránh teo cơ, cứng khớp, …

3.3. Phục hồi chức năng: góp phần phục hồi chức năng cho chi gãy, tránh các biến chứng do nằm lâu, do bất động chi gãy, ….

IV. BIẾN CHỨNG CỦA GÃY XƯƠNG

          4.1. Biến chứng sớm

          4.1.1. Toàn thân

          + Shock: do đau, do mất máu,…

          + Thuyên tắc phổi do mỡ: xảy ra trong 72 giờ sau chấn thương, do sự xuất hiện những hạt mỡ nhỏ trong máu (palmitin và stearine ở trẻ em, olein ở người lớn) đi vào nhu mô phổi và tuần hoàn ngoại vi khi xương dài bị gãy. Nó thường khởi phát trong 24 đến 48 giờ nhưng đôi khi có thể xuất hiện muộn sau nhiều ngày. Đây là một biến chứng đáng sợ thường gặp ở bệnh nhân gãy nhiều xương, gãy xương lớn, gãy xương chậu, tổn thương nhiều cơ quan như lồng ngực, bụng, đầu, …Thuyên tắc mỡ gặp khoảng 10 đến 45% ở bệnh nhân gãy nhiều xương và là nguyên nhân hàng đầu gây nên mức độ nguy kịch và tỷ lệ tử vong cao(11%) ở bệnh nhân gãy nhiều xương và đa chấn thương.

          4.1.2. Tại chổ:

+ Chèn ép khoang là sự tăng áp lực trong khoang kín (khoang này được tạo ra bởi xương, cân, vách gian cơ), hậu quả của những tổn thương mạch máu và có thể do tổn thương không hồi phục của những cấu trúc bên trong khoang. Hội chứng chèn ép khoang thường gặp ở cẳng chân, cẳng tay, bàn chân, …

          + Gãy kín thành gãy hở, tổn thương mạch máu và thần kinh thứ phát do cố định không vững: đầu xương gãy xé phần mềm ra môi trường bên ngoài, cắt vào mạch máu và thần kinh, …

          4.2. Biến chứng muộn

          4.2.1. Toàn thân: loét điểm tì, viêm phổi, viêm đường niệu, …

          4.2.2. Tại chổ

+ Can xương lệch do nắn chỉnh không đúng trục, di lệch thứ phát sau nắn chỉnh và cố định, …

          + Chậm liền xương: can xương chưa liền sau một thời gian đủ để liền xương (3 tháng). Tại chổ gãy vẫn còn đau, thường do bất động không tốt, hay gặp ở người già.

          + Khớp giả: quá hai lần thời gian liền xương thông thường mà ổ gãy không liền, bệnh nhân còn đau ít hoặc không đau, còn cử động bất thường tại ổ gãy. Khớp giả thường gặp ở bệnh nhân bị gãy xương phức tạp, mất nhiều xương, ổ gãy di lệch nhiều, chèn phần mềm vào giữa ổ gãy, …

          + Teo cơ, cứng khớp, loãng xương do bất động lâu, không tập luyện,…

          Tài liệu tham khảo

1. Bùi Văn Đức – Gãy xương và trật khớp. Bài giảng Bệnh học ngoại khoa. Tập V. Trường Đại học Y Dược chúng tôi trang: 101-110. 1989.

2. Sơ cứu bất động gãy xương – Giáo trình huấn luyện kỹ năng 2 ĐHYD Cần Thơ (p.59-69)

3. John Ebnezar – Textbook of Orthopedics, Devaraj Urs Medical College Kolar, Karnataka, 2010, p: 16-18.

Gãy Xương Chân Bao Lâu Thì Lành Và Tiết Lộ Mẹo Giúp Hồi Phục Nhanh

Thời gian vừa qua rất nhiều bạn đã gửi câu hỏi về cho tôi nhờ giải đáp vấn đề: “gãy xương chân bao lâu thì lành“, đây là một câu hỏi khá khó để trả lời chính xác. Tôi sẽ giải thích cho các bạn hiểu là tại sao nó khó và hướng dẫn các bạn cách tính thời gian hồi phục khi bị gãy xương chân trong bài viết này.

Những yếu tố quyết định thời gian hồi phục gãy xương chân

Có rất nhiều yếu tố tác động đến thời gian lành lại khi một người bị gãy xương chân hay bất cứ loại gãy xương nào cũng đều cần phải dựa vào:

# Tình trạng cụ thể của vết thương

Điều này rất quan trọng và là yếu tố quyết định lớn nhất thời gian hồi phục gãy xương chân nhanh hay chậm. Tình trạng cụ thể của vết gãy có phức tạp hay không, phần xương gãy có bị vụn ra không, gãy một vị trí hay nhiều vị trí, chiều dài của vết gãy như thế nào? Đó là những câu hỏi bạn cần phải trả lời được và từ đó căn chỉnh được khoảng thời gian hồi phục.

# Cơ địa của bệnh nhân

Dành cho những ai chưa biết thì cơ địa là yếu tố bẩm sinh của mỗi con người, không ai giống ai. Nó có vai trò quyết định thời gian lành lại trong hầu hết những tổn thương của cơ thể. Vậy làm thế nào để đánh giá được cơ địa của mình có tốt hay không? Đây chính là câu hỏi rất nhiều người thắc mắc và cũng có thể chính bạn cũng đang băn khoăn.

Cơ địa của một người được gọi là tốt khi đảm bảo được các yếu tố sau:

Những vết thương trầy xước nhỏ, đứt tay, chân không quá lớn có thể tự hồi phục được trong một thời gian ngắn mà không cần nhờ tới sự trợ giúp của thuốc hay bất cứ tác nhân nào khác.

Những người có cơ địa tốt thường sẽ có một sức khỏe tốt, một thân hình cân đối, da dẻ hồng hào và thần thái tươi tỉnh.

Sức đề kháng cao: người có một cơ địa tốt rất ít khi bị ốm vặt và những khi bị ốm thường sẽ tự khỏi rất nhanh mà không cần thuốc kháng sinh.

# Bệnh nhân được chữa trị bằng cách nào

Cách chữa trị của bác sĩ cho bệnh nhân gãy xương chân cũng là một yếu tố quyết định đến thời gian lành lại của vết thương. Thông thường khi bị gãy xương bác sĩ thường chọn cách bó bột truyền thống, tuy nhiên hiện nay đã có một số phương pháp hiện đại hơn và có thể rút ngắn được thời gian điều trị.

Các biện pháp cải thiện rút ngắn thời gian hồi phục gãy xương chân

Song song với những yếu tố khách quan thì người bệnh hoàn toàn có thể có những cách mang tính chất chủ quan và có thể thay đổi và cải thiện được để rút ngắn được thời gian hồi phục:

Luôn giữ cho mình một tinh thần thoải mái, một tâm trạng vui vẻ, lạc quan. Rất nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng một bệnh nhân có thái độ tích cực và có niềm tin lớn thì sẽ có thời gian hồi phục ngắn hơn so với những bệnh nhân bình thường hoặc bệnh nhân với thái độ tiêu cực.

Chế độ dinh dưỡng: Đây là một yếu tố không thể thiếu, việc cung cấp cho bệnh nhân gãy xương nhiều chất canxi cùng các vitamin, khoáng chất sẽ khiến bệnh nhân nhanh hồi phục hơn.

Áp dụng các biện pháp tập vật lý trị liệu và bài tập vận động phù hợp với tình trạng của người bệnh sẽ giúp cải thiện được tình hình.

Qua những thông tin mà tôi cung cấp trong bài viết hy vọng các bạn đã hiểu được cách tính thời gian hồi phục khi bị gãy xương. Từ những yếu tố tôi đưa ra trong bài viết bạn hãy tổng hợp lại đối với tình trạng của bạn và trả lời câu hỏi gãy xương chân bao lâu thì lành.

Các bài viết của chúng tôi chỉ có tính chất tham khảo, không thay thế cho việc chẩn đoán hoặc điều trị

Bài thuốc Đông y giảm thiểu tối đa nguy cơ gãy xương chân

Như vậy, bài viết đã trả lời câu hỏi gãy xương chân bao lâu thì lành. Tuy nhiên, một trong những yếu tố góp phần quan trọng vào việc tái tạo xương khớp là nhờ cơ địa mỗi người. Người có khung xương dẻo dai, vững chắc thì nguy cơ gãy xương thấp, những tổn thương xương khớp cũng mau lành.

Để điều trị dứt điểm những tổn thương do bệnh xương khớp làm tăng nguy cơ gãy xương cần cần tuân thủ 3 nguyên tắc ” khu phong trừ thấp – tán hàn thanh nhiệt – bồi bổ khí huyết “. Đây cũng chính là kim chỉ nam được bác sĩ Nghĩa cùng đồng nghiệp tại nhà thuốc Tâm Minh Đường, An Dược ứng dụng vào nghiên cứu, bào chế thành công bài thuốc An Cốt Nam giúp điều trị các bệnh xương khớp toàn diện, xử lý từ gốc đến ngọn bệnh một cách hoàn hảo.

Với kinh nghiệm dày dặn, lương y Tâm Minh Đường đã rất nhuần nhuyễn khi tích hợp đầy đủ các phương pháp: Thuốc uống, cao dán, vật lý trị liệu. Nếu như thuốc uống đi sâu vào bên trong cơ thể, bồi bổ xương khớp thì cao dán được dán trực tiếp lên vị trí đau nhức, giúp giảm đau hiệu quả. Ngoài ra, kết hợp vật lý trị liệu hiện đại bậc nhất để thông kinh hoạt lạc, giải phóng chèn ép rễ thần kinh.

Trong đó, thuốc uống giữ vai trò chủ chốt, quyết định công năng của bài thuốc An Cốt Nam. Thuốc uống được chiết xuất từ những vị thảo dược đứng đầu trong các bài thuốc đặc trị bệnh xương khớp gồm: Hương nhu tía, bí kỳ nam, sâm ngọc linh,… Sau đó lương y gia giảm thành phần theo TỶ LỆ VÀNG và bào chế thuốc uống ở dạng sắc sẵn giúp cô đọng tối đa lượng dược chất từ thảo mộc, thuốc dễ thẩm thấu vào thành dạ dày, đem tới hiệu quả điều trị tổn thương khớp chân đến 90% chỉ sau 20 – 30 ngày.

Tại chương trình ” Sống khỏe mỗi ngày ” – VTV2, chúng tôi Hoàng Khánh Toàn (Trưởng khoa Đông y – Bệnh viện 108) đã dành nhiều lời khen cho bài thuốc An Cốt Nam. Ông đánh giá An Cốt Nam chính là sự lựa chọn tốt nhất cho bệnh nhân xương khớp trong và ngoài nước.

Chúng tôi xin cung cấp địa chỉ theo yêu cầu của độc giả:

Miền Bắc: Phòng chẩn trị YHCT Tâm Minh Đường

Giấy phép: 595/SYT-GPHĐ

Địa chỉ: 138 Khương Đình – Thanh Xuân – Hà Nội

Hotline: 0983.34.0246

Miền Nam: Phòng chẩn trị YHCT An Dược

Giấy phép: 03876/SYT-GPHĐ

Địa chỉ: 325/19 đường Bạch Đằng – Phường 15 – Q.Bình Thạnh – TP. Hồ Chí Minh

Hotline: 0903.876.437

Tìm Hiểu Về Phẫu Thuật Khx Gãy Mâm Chày + Thân Xương Chày Tại Bệnh Viện Hữu Nghị

Gây mê mask thanh quản là kỹ thuật gây mê toàn thân có đặt mask thanh quản với mục đích kiểm soát hô hấp trong suốt cuộc phẫu thuật I. ĐẠI CƯƠNG

Gây mê mask thanh quản là kỹ thuật gây mê toàn thân có đặt mask thanh quản với mục đích kiểm soát hô hấp trong suốt cuộc phẫu thuật

II. CHỈ ĐỊNH

– Lựa chọn khi đặt nội khí quản khó, đặc biệt khó thông khí hoặc không thông khí được. – Kiểm soát đường thở và hô hấp trong gây mê toàn thân cho một số phẫu thuật – Kiểm soát đường thở và hô hấp tạm thời trong cấp cứu.

III.CHỐNG CHỈ ĐỊNH

– Dạ dầy đầy – Tổn thương hàm mặt phức tạp do chấn thương hoặc nhiễm trùng – Không đủ phương tiện gây mê, hồi sức

IV. CHUẨN BỊ

1. Người thực hiện kỹ thuật – Bác sĩ, điều dưỡng viên chuyên khoa gây mê hồi sức. . Phương tiện: – Hệ thống máy gây mê kèm thở, nguồn oxy bóp tay, máy theo dõi chức năng sống (ECG, huyết áp động mạch, SpO2, EtCO2, nhịp thở, nhiệt độ) máy phá rung tim, máy hút… – Mask thanh quản các cỡ, ống hút, mặt nạ (mask), bóng bóp, canul miệng hầu. – Lidocain 10% dạng xịt. – Salbutamol dạng xịt. – Các phương tiện dự phòng đặt nội khí quản: ống nội khí quản và đèn soi thanh 132

quản. 3. Người bệnh – Thăm khám gây mê trước mổ phát hiện và phòng ngừa các nguy cơ, giải thích cho người bệnh cùng hợp tác. – Đánh giá đặt mask thanh quản khó. – Sử dụng thuốc an thần tối hôm trước mổ (nếu cần). 4. Hồ sơ bệnh án – Theo qui định của Bộ y tế

V. CÁC BƯỚC TIẾN HÀNH

1. Kiểm tra hồ sơ 2. Kiểm tra người bệnh 3. Thực hiện kỹ thuật Các bước tiến hành chung: – Tư thế: nằm ngửa, thở oxy 100% 3-6 l/phút trước khởi mê ít nhất 5 phút. – Lắp máy theo dõi – Thiết lập đường truyền có hiệu quả. – Tiền mê (nếu cần) Khởi mê: – Thuốc ngủ: thuốc mê tĩnh mạch (propofol, etomidat, thiopental, ketamin…), thuốc mê bốc hơi (sevofluran…). – Thuốc giảm đau: fentanyl, sufentanil, morphin… – Thuốc giãn cơ (nếu cần): (succinylcholin, rocuronium, vecuronium…). – Điều kiện đặt mask thanh quản: người bệnh ngủ sâu, đủ độ giãn cơ (nếu cần). Kĩ thuật đặt mask thanh quản – Đặt đầu người bệnh ở tư thế trung gian hoặc hơi ngửa – Cầm mask thanh quản như cầm bút, ngón tay trỏ đặt vào chỗ nối giữa mask thanh 133

quản và phần ống – Một tay mở miệng người bệnh – Tay kia đưa mask thanh quản qua các cung răng vào gốc lưỡi, tỳ mặt sau mask vào khẩu cái cứng, đẩy mask trượt dọc theo khẩu cái cứng để vào vùng hạ hầu – Dừng lại khi gặp lực cản – Bơm cuff theo đúng thể tích được hướng dẫn trên mask thanh quản. – Kiểm tra độ kín của mask thanh quản (không có dò khí, thông khí dễ dàng) – Kiểm tra vị trí đúng của mask thanh quản bằng nghe phổi và kết quả EtCO2

– Cố định bằng băng dính. Duy trì mê: – Duy trì mê bằng thuốc mê tĩnh mạch hoặc thuốc mê bốc hơi, thuốc giảm đau thuốc giãn cơ (nếu cần). – Kiểm soát hô hấp bằng máy hoặc bóp tay.

VI. THEO DÕI VII. TAI BIẾN

VÀ XỬ TRÍ 1. Trào ngược dịch dạ dày vào đường thở 134

– Có dịch tiêu hóa trong khoang miệng và đường thở. – Hút sạch ngay dịch, nằm đầu thấp, nghiêng đầu sang bên – Đặt nhanh ống nội khí quản và hút sạch dịch trong đường thở – Theo dõi và đề phòng nhiễm trùng phổi sau mổ 2. Rối loạn huyết động – Hạ hoặc tăng huyết áp, rối loạn nhịp tim (nhịp chậm, nhịp nhanh, loạn nhịp) – Xử trí tùy theo triệu chứng và nguyên nhân 3. Tai biến do đặt mask thanh quản Không đặt được mask thanh quản – Do nhiều nguyên nhân – Thay đổi mask, người đặt hoặc chuyển đặt nội khí quản Co thắt thanh – khí – phế quản + Khó hoặc không thể thông khí, nghe phổi có ran rít hoặc phổi câm. + Cung cấp oxy đầy đủ, thêm thuốc ngủ và giãn cơ, đảm bảo thông khí và cho các thuốc giãn phế quản và corticoid. + Nếu không kiểm soát được hô hấp: áp dụng qui trình đặt ống nội khí quản khó. Chấn thương khi đặt mask thanh quản Chảy máu, gãy răng, tổn thương dây thanh âm, rơi dị vật vào đường thở… Xử trí tùy theo tổn thương. 4. Các biến chứng về hô hấp – Gập, tuột mask thanh quản, hoặc hở hệ thống hô hấp, hết nguồn oxy, soda hết tác dụng dẫn tới thiếu oxy và ưu thán. – Xử trí: đảm bảo ngay thông khí và cung cấp oxy 100%, tìm và giải quyết nguyên nhân.

5. Biến chứng sau rút mask thanh quản – Suy hô hấp do nhiều nguyên nhân 135

– Đau họng khàn tiếng – Co thắt thanh – khí – phế quản – Viêm đường hô hấp trên Xử trí triệu chứng và nguyên nhân

136

Nguyên Tắc Điều Trị Gãy Xương Ao

Published on

1. 1 NGUYÊN TẮC ĐIỀU TRỊ GÃY XƯƠNG AO 1 Nguyên tắc đầu tiên của AO: ➢ Nắn hoàn hảo ➢ Cố định vững chắc ➢ Bảo tồn mạch máu nuôi ➢ Vận động chủ động sớm – Nắn chỉnh đúng giải phẫu, không chồng ngắn, cố định tuyệt đối hoàn toàn không có sự di lệch các mảnh gãy giúp liền xương trực tiếp. a. Cố định bằng vít: Vít gồm có hai phần: + Thân vít có ren, đầu vít có lỗ lục giác chìm + Lõi thân vít quy định cỡ khoan phải dùng, ren vít được răng bằng dụng cụ taro + Lõi vít có một cỡ, nhưng ren vít có nhiều loại: loại cho xương xốp, xương đặc, loại vít ép. + Bước ren là khoảng cách giữa ren này với ren kế đó. Thực tế, khi vặn vít 1 vòng thì tiến hoặc lùi 1mm, 1,25mm, 2.00mm và 2,75mm thì người ta gọi bước ren 1mm, 1,25mm, 1.75mm và 2,75mm. – Vít xương đặc vít 2,7mm có lõi 2mm thì bước ren 1mm. – Vít xương đặc vít 3,5 mm có lõi 2,5mm thì bước ren 1,25mm. – Vít xương đặc vít 4,5mm có lõi 3,5mm thì bước ren 2,00mm. – Vít xương đặc vít 6,5mm có lõi 4,5mm thì bước ren 2,75mm. + Đầu vít: Lỗ của nẹp vít thích ứng với cỡ thân vít(răng vít). Đầu vít phải ứng với dạng khuyết của lỗ – đầu vít bằng (xưa rồi, không còn dùng nữa). Thường những đầu vít bằng có khía ngang hoặc chữ thập để vặn vít. Loại vít ưa chuộng hiện nay là vít Muiller (A.O). Đầu dạng tròn ½ hoặc 2/3 hình cầu, có lõm lục giác để vặn vít. Cỡ đầu vít tùy theo cỡ vít. – Vít cỡ 2,7mm có đầu vít 5mm – Vít cỡ 3,5mm có đầu vít 6mm – Vít cỡ 4,5mm có đầu vít 8mm + Kỹ thuật: nắn đúng giải phẫu, nén ép bằng vis, vis nén ép hỗ trợ với nẹp, ví nén ép qua lỗ nẹp.

2. 2 + Vít nén qua nẹp: + Chọn cỡ vít: chuẩn 4.5/6.5 xương chày,xương cánh tay nhỏ 3.5 cẳng tay mini 2.7,2.0,1.5 bàn tay, bàn chân – Vít xốp dùng như vít rút ép: có ren một phần thân vít gần mũi vít, có rong-đền, thường dùng với nẹp nâng đỡ, – Vít giữ vị trí: giữ các phần xương với nhau theo đúng vị trí nhưng không tạo ra sức ép, chỉ có lỗ ren, không có lỗ trượt, dùng trong gãy mắt cá type C, gãy phạm khớp type C đầu dưới xương cánh tay. b. Cố định bằng nẹp: + Nẹp chống đỡ hay nẹp trung hòa: Khi cố định trong của một thân xương mà có một vít ép (Lag screw), hoặc có vít với nẹp chống đỡ hoặc với nhiều vít trượt, chúng ta cần những loại nẹp chống đỡ hay trung hòa. Cố định chỉ với những vít ép đươn thuần thì không chịu lực tải. Cho phép bệnh nhân vận động sớm sau cố định bên trong tốt nhất là chịu lực từ từ tăng dần. Điều cần thiết để

3. 3 chống đỡ tốt nhất ở vùng gãy xương cố định bằng vít ép và nẹp chống đỡ. Phải cố định có ép của những mảnh rời bởi vít ép là điều quan trọng cần nhấn mạnh trước khi đặt nẹp chống đỡ hay trung hòa. Một nẹp, ngay cả khi được đạt đúng trục ép, cũng không có thể đạt được sự vững chắc các mảnh rời như một vít ép. Khi gãy hình nêm, bước đầu tiên là nắn và cố định với vít . Nẹp trung hòa được uốn cẩn thận, rồi cố định 2 mảnh chính tối thiểu với 6 vít. Số vít sẽ phụ thuộc vào việc cố định xương gãy. Vít ép cũng có thể đặt xuyên qua nẹp. Kết hợp vít ép với nẹp thường được áp dụng trong gãy nhiều mảnh thân xương. + Nẹp chống đỡ hay nẹp trung hòa đặc biệt: Người ta nhận định rằng một nẹp trong thời điểm nào đó được dùng thích hợp hơn khi theo chức năng của xương. Nẹp trung hòa hay nẹp chống đỡ cũng vậy, nếu ổ gãy cho phép thì được xem như nẹp nén ép (Hình 3), khi đó nẹp được xem như một cốt thép, xương chịu lực ép , tăng sự vững chắc của việc cố định, nếu việc chống đỡ quá lớn nẹp sẽ cong, gãy nẹp. Kế hoạch cố định rất quan trọng: Khi ổ gãy được nắn, nẹp nén ép rất có hiệu quả trong việc nén dọc trục với những vít được đặt vị trí bìa xa lỗ nẹp. Nẹp không những uốn theo hình dạng của xương mà còn phải vặn xoắn thích hợp theo hình dạng của xương, như ở hành xương. + Uốn nẹp: Những dụng cụ uốn nẹp đặc biệt, cho phép điều chỉnh chính xác hình dạng của nẹp. Hình dạng mới của nẹp là kết quả của việc uốn nẹp. Trong thực hành việc xoắn nẹp cũng được thực hiện lúc uốn nẹp. Những vùng đặc biệt của xương như khung chậu, đầu xương… có hình dạng giải phẫu phức tạp mà dùng những nẹp thẳng bình thường, như nẹp nén ép(DCP) thì rất khó khăn. Nhằm vượt qua những khó khăn này, AO đã phát minh nẹp tạo hình (Recontruction). Nẹp bình thường có thể được uốn cong, xoắn trục tiếp theo dọc trục dài nhưng rất khó khăn trong trục xoắn hoặc chiều rộng. Thiết kế nẹp tạo hình cho phép uốn cong hoặc xoắn 3 chiều. Nẹp tạo hình rất dễ uốn bẻ bằng kềm hoặc thanh kim loại(khóa). Việc uốn bẻ được thực hiện một cách dễ dàng vì nẹp tạo hình mỏng, bằng hợp kim thích hợp nhưng chúng khó kéo dài; chúng có nhiều màu sắc khác nhau theo mã số nhằm dễ nhận biết. Vì nẹp tạo hình mỏng nên dễ uốn theo hình dạng của xương một các phù hợp và chính xác sau khi nắn xương và ướm thử dụng cụ mẫu bằng nhựa dẻo. Cuối cùng nẹp tạo hình được kiểm tra lại trên xương và sửa lại cho hoàn hảo rồi mới bắt dính vào xương (đặt nẹp)

4. 4 Trong việc uốn nẹp, chú ý không bẻ phần lưng hoặc trước của nẹp sẽ làm yếu nẹp và chỉ uốn không quá 150 ở 1 vị trí, khi đã uốn cong theo 1 hướng thì không được bẻ cong ngược lại nếu không nẹp sẽ bị gãy nơi bẻ cong ngược lại. + Nẹp nấng đỡ: Nẹp nâng đỡ được áp dụng chung trong việc cố định vít ép ở những gãy đầu xương. Hành xương và đầu xương có số lượng lớn xương xốp và phần vỏ xương mỏng. Khi chịu tải trọng chúng cũng là phần chính của lực tì nén. Nếu gãy hành xương có phần vỏ xương thì lực ép sẽ tách dọc và làm bẻ cong xương (gập góc). Những vít ép không thể nào chịu nổi lực nén và lực bẻ. Nhằm đề phòng sự biến dạng này, cần thiết cung cấp việc cố định đủ sức chống đỡ hay nẹp nâng đỡ. Chức năng của nẹp nâng đỡ đơn giản là ngăn ngừa sự biến dạng dọc trục là hậu quả của lực nén và lực bẻ. Những nẹp được thiết kế đặc biệt: Những nẹp được thiết kế đặc biệt được dùng chủ yếu vùng hành Xương như hai đầu của xương dài có hình dáng đặc biệt. AO đã tạo một số nẹp đặc biệt nhằm đáp ứng đòi hỏi cơ sinh học và cấu trúc giải phẫu vùng này. Bất kỳ loại nẹp nào được uốn bẻ cẩn thận để tương ứng hình dạng của xương cũng được xem như nẹp nâng đỡ. + Nẹp chữ T,chữ L: được dùng nâng đỡ mâm chày trong, đầu xa xương chày, lồi cầu xương đùi, đầu trên xương cánh tay và đầu dưới xương quay. Nó ương đối mỏng 2.7- 3.5mm, nên không được chắc chắn. Nó được thiết kế để nâng đỡ một vỏ xương mỏng hoặc ngăn ngừa sự xẹp xương xốp lún, đôi khi nó được dùng như một nẹp chịu lực nhẹ. Nếu áp dụng trong những cùng thích hợp thì nó cũng thật sự đủ chắc chắn. + Nẹp nâng đỡ chữ T. Xuất phát từ nẹp nâng đỡ chữ L, dành riêng cho bên phải và trái. Có sự uốn cong cả hai bên cho vừa vặn mâm chày ngoài hoặc trong. Cả hai loại nẹp chữ L hay chữ T đều có 1 lỗ hình bầu dục dài. Điều này cho phép cố định nẹp với xương tạm thời mà vẫn chỉnh nẹp lên xuống được. Khi nào việc cố định hoàn tất, vít tạm thời đó có thể đổi bằng 1 vít ép chép nhằm ép ổ gãy hay những mảnh xương rời dính nhau. Nẹp đầu mâm chày trong được thiết kế như nẹp nâng đỡ mâm chày ngoài. + Nẹp muỗng Được thiết kế ban đầu cho những gày trần chày với tổn thương nát phần trước nhưng không có tổn thương phần vỏ sau. Những nghiên cứu cho rằng nó quá lớn nằm dưới da ở phần cựa trước xương chày, rất cộm và dễ nhiễm trùng. Ngày nay những chỉ định của nó đã giảm nhiều + Nẹp 3 lá Khác với nẹp nâng đỡ dầu xa xương chày. Tất cả những lỗ của nó chỉ được dùng đặt vít nhỏ. Gãy đầu trên xương cánh tay. Nôm na nó được các phẫu thuật viên Việt Nam gọi là nẹp đầu rắn.

5. 5 + Nẹp nâng đỡ lồi cầu Dùng trong loại gãy C3 (AO) của đầu xa xương đùi. Chúng dùng riêng cho mặt phải và mặt trái. Chúng nặng hơn và cứng chắc hơn các loại nẹp nâng đỡ khác do đó chúng có thể chịu lực lớn. Cũng có một số nẹp được dùng với những vít mảnh nhỏ, như nẹp đầu dưới xương quay và nhiều loại nẹp nhỏ chữ T,L. cho gãy đầu dưới xương quay, đặt biệt cho các xương bàn, ngón chân, ngón tay. Phải cân nhắc kỹ khi đặt nẹp nâng đỡ ở vùng dưới da. Những rắc rối khi vết thương có nguy cơ nhiễm trùng vùng mặt trong đầu dưới xương chày. Do đó phẫu thuật viên phải tránh đặt dưới những vùng da bầm dập xấu và tất cả đường mổ phải lên kế hoạch và không đi qua vùng da đó. + Nẹp nén ép Những đường gãy chéo ngắn và ngang có thể không vững với những vít ép, nhưng có thể nén ép với 1 nẹp. Nẹp đóng vai trò nẹp nén ép tĩnh. Sự nén ép tiến hành dọc trục của xương. Chúng ta có thể đạt được việc nén ép chỉ với những lỗ bầu dục đặt biệt của DCP hoặc tăng cường bởi dụng cụ ép. Nhưng phải chú ý rằng việc nén ép vững chắc giữa các mảnh xương nhờ các vít ép trong lỗ bầu dục. Do đó khi cố định xương nên phối hợp nẹp nén ép trục và các đầu vít ép lên bìa xa lỗ bầu dục. + Kỹ thuật nén ép dọc trục bằng dụng cụ ngoài. Ví dụ với một gãy ngang ở phần thẳng của thân xương sẽ giúp để hiểu nén ép dọc trục xương gãy. Một nẹp thẳng được đính với 1 đầu gãy và nắn đầu kia. Việc nắn xương sẽ nhờ với 1 kềm nắn. Dụng cụ ép ngoài được đặt vào đầu gãy thứ 2 mà có lỗ kéo trên nẹp sẽ được nối với dụng cụ nén và rồi căn dần, nẹp chịu 1 lực ép và xương ở dưới chịu lực nén. Lúc này xương phải được xem xét cẩn thận, 2 điều phải được chú ý: – Không được có một khe hở ở đường gãy đối diện với nẹp – Đầu xương gãy xa có sự chèn mảnh phụ làm biến mất khe gãy.

6. 6 Kiểu có định bên trong này được thực hiện bởi Schenk và Willenegger (1964) trên những tổn thương xương nguyên phát. Sự tiếp xúc vỏ xương gần nẹp và khe hở ở đường gãy đói diện nẹp trong báo cáo của họ là tài liệu lịch sử chứng minh định luật thứ 3 của Wolf. + Uốn nẹp giúp nén ép: nhằm xóa khe hở trong vỏ xương đối diện để tăng sự vững chắc, thực hiện ở ổ gãy đơn giản, 2 mảnh + Nẹp bắt cầu: Cho phép sử dụng một nẹp dài phù hợp trong các loại gãy nát xương là nẹp bắt cầu. Nẹp dùng trong trường hợp này khi các vít ép cố định các mảnh rời hoàn toàn không vững hay quá nát. Việc sử dụng loại nẹp này trong cố định xương thuộc loại không vững, và chỉ có thể làm ổn định các mô tổn thương chung quanh nhờ vậy sự cung cấp máu được liên tục. Do đó sự liền xương phụ thuộc vào cal bắt cầu hơn là liền xương nguyên phát. Trong những trường hợp này kỹ thuật nắn gián tiếp rất quan trọng. Hai đầu xương phải được cố định chắc chắn với 3 hoặc 4 vít. + Nẹp tự nắn ép: Nẹp tự nắn ép là những nẹp mà có thể đạt được sự nén ép dọc trục do sự kết hợp hình thái của lỗ nẹp với việc đặt vít nén ép mặt gãy. Nẹp tự nén ép đầu tiên được AO giới thiệu là nẹp nửa ống (1/2), những lỗ nẹp hình bầu dục, Việc đặt vít lệch tâm lỗ sẽ làm cho nó tự nén ép thích hợp. Việc nén ép dọc trục sẽ đạt được sau khi nén tốt ổ gãy và đặt các vít về phía xa của lỗ bầu dục lực ép dọc trục còn tăng cường bởi hình ống của nẹp. Vít vỏ xương 4.5mm thì được dùng với nẹp nửa ống. Cũng tương tự như vậy, việc nén ép dọc trục ở các xương nhỏ với các loại nẹp1/3 ống với các vít vỏ xương 3.5mm hoặc 2,7mm. Bề dày của nẹp ống dùng vít 4.5mm phải 1,5 – 2mm. Còn với vít 3.5 và 2.7mm bề dày nẹp ống chỉ cần 1,2 – 1,5mm. Nẹp ½ ống thì chỉ dày 1 – 1,2mm và rất dễ bị cong, gãy. Nó thích hợp cho các di lệch xoay nhưng nó chiếm bề mặt xương lớn khi các vít được xiết chặt. Nó chỉ định chủ yếu cho các gãy xương quay, phần tư dưới của xương trụ, mắt cá ngoài nhưng ngày nay loại nẹp này ít được sử dụng. Nẹp 1/3 ống dùng trong gãy mắt cá ngoài , xương đốt bàn và ngón chân. Nẹp ¼ ống nhỏ với hình dạng chưc L, T dùng trong các gãy xương bàn tay cũng dày 1- 1,2mm , nhưng được làm bằng hợp kim cứng (42-48HCR). Nẹp nén ép cơ học giới thiệu với cải tiến của đường viền lỗ nẹp. Nó tự nén ép do cấu tạo hình học đặt biệt của lỗ nẹp mà không cần đến dụng cụ nén ép tĩnh và các loại vít

7. 7 có hướng góc thế nào cũng được. Loại nẹp này phù hợp với nhiều vị trí cố định bên trong khác nhau và được dùng như nẹp nén ép tự động. Cả loại DCPs vỏ và tủy cũng mạnh hơn, cứng hơn những nẹp ½ ống và sự suy yếu nẹp thì hiếm khi xảy ra. + Nẹp nén ép cơ học ít tiếp xúc: Việc toàn bộ nẹp tiếp xúc với bề mặt xương làm giới hạn việc cung cấp máu nuôi xương vùng này, ảnh hưởng đến việc lành xương. Do đó AO đưa ra loại nẹp cũng nén ép nhưng giảm đi bề mặt tiếp xúc với xương (hinh 19). Titanium: đây là chất liệu không phải sinh học nhưng được dung nạp tốt. Mục đích chính của titanium là tránh việc tập trung các thành phần độc của kim loại. Những hạn chế về cỏ học của titanium ít hơn. Với kỹ thuật mới áp dụng trong y học nẹp titanium mạnh, chắc khoảng 90% so với thép không rỉ. Vì titanium được dung nạp tốt với mô cơ thể người nên tránh được biến chứng miễn dịch. + Nẹp gập góc Nguyên gốc AO sản xuất nẹp gấp góc 1300 cho đầu gần xương đùi và 950 lồi cầu xương đùi.Theo thời gian, nẹp lưỡi lồi cầu cũng có thể dùng điều trị cho các loại gãy liên mấu chuyển thấp và dưới mấu chuyển xương đùi. Sau đó AO bổ sung và cải tiến tốt hơn là DHS và DCS, cả hai loại này hầu như thay thế nẹp kiểu chữ U trước đó trong điều trị gãy xương. Nẹp 4 – 6 lỗ dùng cho gãy liên mấu chuyển, loại 9 – 12 lỗ dùng cho gãy dưới mấu chuyển. Nẹp lồi cầu đùi có độ gập góc 95o giữa phần lưỡi và nẹp, ngắn nhất có 5 lỗ, loại dài dùng cho kiểu gãy thân xương đùi kèm gãy lồi cầu. + Nẹp ép có khóa(LCP):

8. 8 Lỗ kết hợp cho phép vít có mũ thông thường và vít với mũ khóa có thể cùng đặt vào trong một nẹp, góc giữa vít và nẹp vững vàng ngăn ngừa tập trung lực ở một giao diện xương. LCP có thể giúp nén dọc trục. + Chỉ định cho các trường hợp xương loãng, gãy vùng đầu – hành xương. c. Cố định dãi băng: + Đặt nẹp phía mặt căng của xương để lực kéo căng của xương ở phía đặt nẹp chuyển thành lực nén ép trên vỏ xương đối diện.

9. 9 + Gãy mỏm khuỷu, gãy xương bánh chè, mấu chuyển, mắt cá…. 2 Những thay đổi về nguyên tắc AO (1990) ➢ Nắn đảm bảo chức năng ➢ Kết hợp xương vững ➢ Đảm bảo máu nuôi ➢ Tập vận động chủ động sớm + Nắn chỉnh chấp nhận được, bảo tồn mạch máu, phương pháp nắn gián tiếp tốt hơn cho mô mềm. + Gãy thân xương chỉ cần phục hồi chiều dài, trục chi, di lệch xoay là đủ để có chức năng sau lành xương bình thường. + Kết hợp xương vững tương đối: còn khả năng dịch chuyển ít tại ổ gãy để kích thích biệt hóa mô, tạo ra liền xương gián tiếp, tạo can xù. + Chỉ nắn hoàn hảo cho trường hợp gãy phạm đến mặt khớp. + Nắn đạt chức năng, cố định vững tương đối, kết hợp với đường mổ tối thiểu bảo tồn máu nuôi: chỉ định cho gãy không phạm khớp, gãy nhiều mảnh vùng thân xương, hành xương..

10. 10 KẾT LUẬN Quan điểm trước đây: + Nắn hoàn hảo + Cố định vững chắc + Bảo tồn mạch máu nuôi + Vận động chủ động sớm Quan điểm hiện nay: + Sinh học cực kỳ quan trọng + Phẫu thuật với đường vào tối thiểu + Kết hợp xương với nẹp theo kiểu tàn phá tối thiểu + Phẫu thuật với phương tiện chẩn đoán hình ảnh hỗ trợ + Phẫu thuật với phương tiện nội soi hỗ trợ → Nhiều giải pháp để chọn lựa khi điều trị: ❖ Nắn hoàn hảo kèm kết hợp xương cứng nhắc ❖ Nắn đạt chức năng kèm kết hợp xương vững ❖ Mổ hở nắn xương ❖ Nắn xương kín ❖ Phẫu thuật với đường vào tối thiểu ❖ Phẫu thuật với sự trợ giúp: nội soi, máy tính.. Mỗi cách điều trị đều có một vai trò riêng BSCKI NGUYỄN TAM THĂNG

Cập nhật thông tin chi tiết về Gãy Thân Hai Xương Cẳng Chân trên website Apim.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!