Xu Hướng 2/2024 # Đđvu 17 / Tín Ngưỡng Thờ Bà Chúa Xứ / Nguyễn Thanh Lợi * # Top 5 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Đđvu 17 / Tín Ngưỡng Thờ Bà Chúa Xứ / Nguyễn Thanh Lợi * được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Apim.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Bà Chúa Xứ trong tín ngưỡng ở Nam Bộ

Hiện nay, nhiều nhà nghiên cứu vẫn cho rằng Bà Chúa Xứ ở Nam Bộ có nguồn gốc từ nữ thần Pô Nagar của người Chăm được Việt hóa qua tên gọi Thiên Y A Na Ngọc Diễn Phi với công năng là “Bà Mẹ xứ sở”. Vậy Bà Chúa Xứ xuất hiện ở Nam Bộ từ bao giờ và có nguồn gốc từ đâu? Đây quả là vấn đề còn cần được tiếp tục nghiên cứu thêm.

Tài liệu thư tịch như Gia Định Thành Thông Chí (1820) cho biết ở đất Gia Định có truyền thống kính trọng nữ thần như Bà Chúa Ngọc, Bà Chúa Động, Bà Hỏa Tinh, Bà Thủy Long, cô Hồng, cô Hạnh.(

Trong Đại Nam Quấc Âm Tự Vị (1895), Huình Tịnh Của giải thích thành ngữ Bảy bà ba cậu gồm: Bà Chúa Tiên, bà Chúa Ngọc, bà Chúa Xứ, bà Chúa Động, bà Cố Hỷ, bà Thủy, bà Hỏa; cậu Trày, cậu Quý đều là con bà Chúa Ngọc, làm bạn với một vị thái tử Trung Quốc mà đẻ ra cả thảy đều là thần quỷ hay làm họa phước; còn có cậu Lý, cậu Thông, nói theo vần kể có ba cậu. Về hai người sau không rõ sự tích”.( Rõ ràng ở đây có sự phân biệt giữa Bà Chúa Tiên, Bà Chúa Ngọc và Bà Chúa Xứ.

Uy linh của Bà Mẹ xứ sở bàng bạc trong tín ngưỡng của ngư dân Trung Bộ và Nam Bộ, tạo ra sự nhập nhằng, đa tạp trong tục thờ cá Ông, Bà Thủy Long, đồng nhất mục đích cầu ngư ở Dinh Cô. Có thể thấy điều ấy trong tên gọi các đối tượng tín ngưỡng ở nhiều nơi: Chúa Xứ Long Thần, Chúa Xứ Nương Nương ở Hòn Đỏ (Nha Trang), hay tên Bà Rịa lại tưởng như bắt nguồn từ thần sóng biển Pô Riyak.(

Về tên gọi, ta thấy công năng của Bà Pô Nagar và Bà Chúa Xứ giống nhau, đồng nhất thuần lý đều là “Mẹ xứ sở”, đều là thần bảo hộ cộng đồng. Nhưng mối liên hệ trực tiếp giữa hai bà này vẫn là vấn đề cần được truy cứu tiếp tục.

Tên gọi Bà Chúa Xứ gắn với pho tượng nam thần bị thất lạc có thể bắt nguồn từ tâm thức tín ngưỡng Mẹ xứ sở của người Chăm hoặc cũng có thể biến đổi từ tín ngưỡng thờ Ông Tà chủ xứ (Neak Tà m’cha srok) của người Khmer.

Trong khuôn viên đất nhà hay xóm ấp, người ta thường lập miếu thờ Bà Chúa Xứ. Bà Chúa Xứ cũng được thờ dạng miếu trong sân chùa hoặc đưa vào bàn thờ bên trong các chùa: Bửu Lâm, Linh Thứu (Tiền Giang), Bửu Phong (Đồng Nai), Hải Phước An tự (Sóc Trăng). Quan Âm Hộ Quốc Miếu của cộng đồng người Hoa gốc Hải Ninh (Quảng Ninh) ở Đồng Nai thờ Quan Thế Âm và phối tự Thiên Hậu Thánh Mẫu, Chúa Xứ Thánh Mẫu.( (

Ở Bến Tre, tín ngưỡng thờ Bà Chúa Xứ phổ biếnvới chức năng chính là cai quản đất đai theo từng xóm ấp. Xã Thạnh Phong (huyện Thạnh Phú, Bến Tre),có năm ấp thì có đến năm miếu thờ Bà Chúa Xứ.(

Cư dân nông nghiệp ở Tiền Giang xem Thiên Y A Na Diễn Ngọc Phi là Chúa Xứ Thánh Mẫu (Bà Chúa Xứ) tương tự như các nơi khác. Tín ngưỡng Thiên Y A Na Diễn Ngọc Phi phổ biến lâu đời ở vùng Gò Công. Còn tín ngưỡng Chúa Xứ Thánh Mẫu phổ biến ở vùng Cai Lậy, Cái Bè, Châu Thành, thuộc khu vực đồng ruộng tiếp giáp với Đồng Tháp Mười. Ở huyện Cai Lậy mỗi ấp đều có miếu Bà Chúa Xứ, thường tòng tự Thần Nông (thần dạy dân làm ruộng), Bạch Mã Thái Giám (thần đất), Sơn Quân (thần hổ), và Thổ Địa.( (

Ngoài phạm vi đình chùa, ở Đồng Tháp có đến năm mươi bảy miếu Bà Chúa Xứ: huyện Cao Lãnh (mười ba miếu), huyện Châu Thành (mười một miếu), huyện Tháp Mười (chín miếu), các huyện Tân Hồng, Lai Vung, Lấp Vò có từ một tới hai miếu. Ở các huyện Châu Thành, Cao Lãnh, Tháp Mười, mỗi xã có hai tới ba miếu, có xã có bốn miếu như xã An Hiệp (huyện Châu Thành). Quy mô to nhỏ khác nhau, miếu Bà Chúa Xứ thường là một miếu vuông, làm bằng tre hay gạch. Miếu có ảnh hưởng hẹp, trong phạm vi xóm ấp với vài mươi hộ. Riêng miếu Bà Chúa Xứ ở Gò Tháp (xã Tân Kiều, huyện Tháp Mười) là miếu có quy mô lớn, chỉ sau miếu Bà Chúa Xứ Châu Đốc, hàng năm thu hút hàng vạn người đến cúng bái từ Long An, Tiền Giang, An Giang, Đồng Tháp, TpHCM… Các miếu Bà Chúa Xứ tổ chức cúng từ tháng Giêng đến tháng 6, phổ biến nhất là tháng 3, 4. Miếu Bà Chúa Xứ Gò Tháp cúng rằm tháng 3.

Người dân địa phương vẫn xem Bà Chúa Xứ là hiện thân của bà “chủ đất”, “chúa đất” với nhiều tên gọi như Chúa Xứ Nương Nương, Chúa Xứ Nguyên Nhung, Chúa Xứ Thánh Mẫu… Bà có quyền năng của một phúc thần như Ông Địa hay lớn hơn như Thành Hoàng bổn cảnh. Bên cạnh đình làng to lớn, miếu Bà Chúa Xứ nhỏ như miếu Thổ Địa.(

Ở Cà Mau, miếu Bà Chúa Xứ thường nằm ở ngã ba sông, dẫn vào trong một xóm, ấp, khu dân cư.Chỉ riêng bốn huyện của tỉnh Cà Mau đã có đến hai mươi tám miếu Bà Chúa Xứ… Ở huyện Thới Bình, chỉ trên một đoạn Sông Trẹm khoảng mười một cây số, từ thị trấn Thới Bình về TP Cà Mau đã có mười một miếu thờ Bà Chúa Xứ. Đoạn sông Rạch Giòng dài ba cây số từ thị trấn Thới Bình qua U Minh có bốn miếu Bà Chúa Xứ.(

Miếu Bà Chúa Xứ (ấp Đường Cày, xã Phú Tân, huyện Cái Nước, Cà Mau), phía trước là bệ thờ Thần Nông, bên trái là miếu Ông Tà lợp ngói có kích thước như miếu thờ Thổ Thần. Miếu thờ Bà Chúa Xứ (ấp Ngọc Tuấn, thị trấn Cái Nước, huyện Cái Nước) dù thờ thần Bổn Cảnh nhưng lại có bài vị là Chúa Xứ Bổn Cảnh.( (

Ngôi miếu Chúa Xứ Nguyên Nhung nhưng tên chữ Hán là Chúa Xứ Cổ Miếu (phường 2, thị xã Bạc Liêu), đối tượng thờ chính là năm pho tượng thờ năm bà Ngũ Hành, phối tự bên trái và phải là hai ban thờ vong nam và vong nữ. Bên ngoài có hai miếu nhỏ thờ Thổ Thần và Thổ Địa.(

Trong tín ngưỡng dân gian của cư dân ven biển Tây Nam Bộ, đặc biệt là ở Kiên Giang, mô thức Thiên Y A Na và hai người con trai của bà biến thiên thành các dạng nữ thần khác như: Bà Cậu, Chúa Tiên, Chúa Ngọc, Chúa Ngung Man Nương, Bà Chúa Thượng Động (Bà Cố Hỷ hay Cố Hỷ Tiên Phi), Thủy Long Thánh Phi, Bà Chúa Hòn… nhưng ở mức độ cao hơn hết và phổ biến hơn hết là tín ngưỡng Bà Chúa Xứ, một dạng phúc thần cai quản đất đai, sông biển, cù lao và bảo hộ cư dân an lạc.

Sơn cũng cho rằng, Bà Chúa Xứ là vị thần có uy thế lớn ở “khu vực ấy, chốn ấy, xứ ấy”. Người Khmer thờ Ông Tà trong miếu nhỏ, bên gốc cây giữa ruộng nhưng vẫn tôn kính miếu Bà Chúa Xứ của người Việt. Dân làm nghề đốn củi, ăn ong giữa rừng U Minh thờ Bà để mong được khỏe mạnh, không bị sốt rét, rủi ro về nghề nghiệp (chặt búa nhằm chân, rắn cắn…).(

Qua những dữ kiện trên, có thể thấy Bà Chúa Xứ, Bà Chúa Ngọc, Bà Chúa Tiên tuy có mối liên hệ về nguồn gốc với Bà Pô Nagar của người Chăm nhưng không phải là hóa thân của Pô Nagar ở Nam Bộ, mà nó còn tích hợp các vị thần khác như Thành Hoàng bổn cảnh, Neak Tà, Thổ Thần, Thổ Địa của các lớp cư dân trong dòng chảy của tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt, rộng hơn là tín ngưỡng Mẹ Đất trên vùng đất mới.

Tín ngưỡng thờ Bà Chúa Xứ ở Tp Hồ Chí Minh

Điển hình của dạng thờ tự trên là trường hợp của “chùa Bà Châu Đốc 2” ở huyện Nhà Bè và “chùa Bà Châu Đốc 3” ở quận 9.

“Chùa Bà Châu Đốc 2” vốn là một ngôi miếu thờ Ngũ Hành nằm ven sông Soài Rạp, ở hẻm 908, đường Huỳnh Tấn Phát (ấp 5, xã Phú Xuân, huyện Nhà Bè). Ban đầu đó chỉ là một ngôi miếu nhỏ, xây dựng tạm bợ bằng cây dừa nước, để nhang khói cho những vong hồn trôi dạt về vùng ngã ba sông trước cửa miếu bây giờ.

Từ đó miếu Ngũ Hành này biến thành một quần thể cơ sở thờ tự quy mô với một tập hợp rất nhiều hệ thống thần linh, người dân quen gọi là “chùa Châu Đốc 2”, bao gồm Phật Giáo (Phật Tổ, Quan Thế Âm Bồ Tát, Quan Âm Nam Hải, Diêu Trì Kim Mẫu), Đạo Giáo (Ngọc Hoàng, Tề Thiên), tín ngưỡng dân gian (Bà Chúa Xứ Nguyên Nhung, Linh Sơn Thánh Mẫu, Bà Ngũ Hành, Bà Cố Hỷ, Ông Địa, Thần Tài, Ông Hổ, Thần Nông, Tiền Hiền, Hậu Hiền, Cửu Huyền Thất Tổ).

Ở đây có ngày vía Ngũ Hành vào 15-16 tháng 2, vía Bà Chúa Xứ Châu Đốc vào 22-23 tháng 4, có hát bóng rỗi. Trong ngày vía Ngũ Hành có nghi thức nghênh Bà trên sông Soài Rạp ở phía trước miếu.

Chùa Phước Long được xây vào năm 1965, đến năm 2009 được xây dựng lại thành một ngôi chùa nguy nga một trệt một lầu, rộng 800m 2. Phía trước bên phải chùa là gian thờ Thập Bát La Hán, Diêu Trì và năm Bà Ngũ Hành. Bên trái chùa là miếu thờ Bà Cố Hỷ và Bà Thủy Long, xây năm 2000, do dời tượng Bà về từ phường An Phú (quận 2).

Trong khuôn viên ngoài sân chùa, ngoài các tượng Phật Thích Ca, Di Lặc, Phật khô, Quan Âm còn có rất nhiều tượng Ông Địa, Thần Tài, Phước Lộc Thọ, thầy trò Đường Tăng, tượng rồng, cọp, voi, cóc…

“Chùa Bà Châu Đốc 3” là một tòa nhà quy mô, khang trang không kém miếu Bà Chúa Xứ ở Núi Sam (Châu Đốc, An Giang), nằm bên phải chùa Phước Long. Vào năm 1993, đây chỉ là ngôi miếu nhỏ, có diện tích 4x5m, xây bằng gạch, nằm ở vị trí bên trái của chùa. Trong năm này, Hội người Hoa ở quận 5 và quận 11 cử người về miếu Bà Chúa Xứ Châu Đốc xin thỉnh Bà về đây. Năm 2000, miếu được trùng tu, dời về bên phải chùa, chính diện quay về hướng tây, trùng với hướng của miếu Bà Chúa Xứ Châu Đốc.

Ở chính điện của miếu có hai bàn thờ: bàn thờ ngoài là tượng Bà Chúa Xứ và hai người hầu, có tấm biển ghi “Bà Chúa Xứ Thánh Mẫu Châu Đốc”; bàn thờ trong bài trí cũng như vậy, nhưng cốt tượng Bà to lớn như ở miếu Bà Chúa Xứ Châu Đốc.

Vía Bà Chúa Xứ ở chùa Phước Long diễn ra vào đêm 23 rạng ngày 24 tháng 4 âm lịch. Khách thập phương đến khá đông, từ Long Thành, Bà Rịa, TpHCM… nhiều nhất vào các ngày Thứ Bảy, Chủ Nhật, mồng 1, rằm, có khi cả ngàn người mỗi ngày. Do nằm ở giữa dòng sông với khung cảnh thơ mộng, nên khách hành hương kết hợp giữa du lịch tâm linh với vãn cảnh, có phần nào giống kiểu đi miếu Bà Chúa Xứ Châu Đốc.

Các tín đồ đến đây cúng cũng rất thuận tiện, vì vừa có chùa Phật, lại có cơ sở tín ngưỡng dân gian (Bà Chúa Xứ, Ngũ Hành, Cố Hỷ). Trong miếu Bà Chúa Xứ và ở chùa có hoạt động cúng sao, cầu an, xin xăm… sư trụ trì cũng trực tiếp tham gia. Do vậy có thể xem sự hiện diện của miếu Bà Chúa Xứ trong một ngôi chùa Phật Giáo là “cơ sở kinh tài” ở nơi đây.

Những cơ sở thờ tự khác mà chúng tôi có dịp khảo sát qua như miếu Thủy Long (miếu Sa Tân), miếu Phù Châu (miếu Nổi, quận Gò Vấp) vốn là miếu Ngũ Hành cũng đều có đưa Bà Chúa Xứ vào thờ trong thần điện, như một cách để thỏa mãn nhu cầu tâm linh của nhiều đối tượng đến các nơi này. Đến nỗi hang đá nơi đặt tượng Quan Âm Nam Hải ở chùa Hội Sơn (quận 9), trên đường xuống bến đò để sang “Chùa Bà Châu Đốc 3” cũng bị gán cho là “hang Bà Chúa Xứ”.

Người Hoa tiếp thu tín ngưỡng Bà Chúa Xứ của người Việt và trong cơ sở tín ngưỡng của người Hoa, vị trí Bà Chúa Xứ không kém nhiều so với Thiên Hậu Thánh Mẫu. Bà là vị thần của người Việt được người Hoa sùng kính nhiều nhất so với các vị thần khác. Tín ngưỡng này thâm nhập mạnh mẽ vào hệ thống thần điện của nhiều đền, miếu người Hoa. Hiện nay, ở đâu có tín ngưỡng này thì nơi đó người dân đến cúng bái rất đông. Việc thờ thêm Bà Chúa Xứ Châu Đốc nhằm thỏa mãn nhu cầu của cộng đồng người Hoa.

Miếu Thiên Hậu (đường Nguyễn Thị Minh Khai, quận 3), ở gian giữa của chính điện thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu, gian trung tâm của hậu điện dành thờ Bà Chúa Xứ, trang trọng không kém. Việc thờ Bà Chúa Xứ trong miếu Thiên Hậu ở TpHCM xuất phát từ nhu cầu của lớp người lớn tuổi, không có điều kiện đi hành hương ở Châu Đốc như trước đây. Để tăng thêm sự xác tín, người Hoa còn tạo nên truyền thuyết Bà Chúa Xứ được thờ trong miếu này là em của Bà Chúa Xứ Châu Đốc. Người Hoa dễ dàng đưa Bà Chúa Xứ vào thờ trong miếu Thiên Hậu Thánh Mẫu vì cả hai bà đều là “Thánh Mẫu”. Họ tìm thấy trong đó một hình tượng bảo vệ, che chở cộng đồng đó là Bà Chúa Xứ – một hình ảnh khác của Mẹ Xứ Sở.(

Miếu Thiên Hậu ở ấp 2 (xã Phước Kiển, huyện Nhà Bè), ngoài bà Thiên Hậu còn thờ Bà Chúa Xứ, Tổ Cô, Phật Bà Quan Âm, Ngũ Hành Nương Nương. Hàng năm, vía bà Thiên Hậu được tổ chức vào ngày 23 tháng 3 âm lịch, chung cho Bà Chúa Xứ, Bà Ngũ Hành, Bà Cố Hỷ, Phật Bà Quan Âm.

Nhiều gia đình người Hoa ở TpHCM phối tự Bà Chúa Xứ chung với thần, Phật. Họ rất tin tưởng, thường đi lễ vía Bà và thỉnh tranh kiếng Bà về thờ tại gia và xem Bà như thần độ mạng cho nữ giới trong gia đình như đối với Bà Thiên Hậu.(

Nằm trong dòng chảy của tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt, đến Nam Bộ nói chung và TpHCM nói riêng, tín ngưỡng thờ Bà Chúa Xứ đã tích hợp trong mình nhiều lớp văn hóa khác nhau với nhiều “biến thể” mà việc truy cứu lai lịch của Bà Chúa Xứ là điều không dễ dàng. Nhưng có thể nhận diện những biểu hiện hết sức đa dạng, phong phú, sự ảnh hưởng mạnh mẽ của tín ngưỡng Bà Chúa Xứ trong hệ thống thần linh ở Nam Bộ. Đó là sự giao thoa giữa yếu tố tín ngưỡng dân gian với Phật Giáo, Đạo Giáo; giữa văn hóa Việt-Hoa-Khmer; với tâm thức thờ Mẹ Đất có từ trong cội nguồn.

Sự khởi phát của hiện tượng các “Chùa Bà Châu Đốc 2”, “Chùa Bà Châu Đốc 3” cũng như ở các cơ sở thờ tự khác phản ánh uy lực của những trung tâm tín ngưỡng như chùa Bà Châu Đốc, chùa Bà Đen (Tây Ninh), mà vốn xuất phát từ những “Bà Mẹ xứ sở” của các xóm ấp, nhưng do những điều kiện lịch sử – văn hóa nó được tụ hội ở những ngọn núi thiêng. Đồng thời cho thấy được tính thực dụng trong hoạt động tín ngưỡng của nền kinh tế thị trường có điều kiện hình thành ở những đô thị lớn như Thành phố Hồ Chí Minh.

Sở Khoa Học Và Công Nghệ Thừa Thiên – Huế

#1 Cúng Bà Chúa Xứ Núi Sam: Nghi Lễ Tín Ngưỡng Tại An Giang

Từ rất lâu miếu Bà Chúa Xứ Núi Sam (An Giang) đã nổi tiếng gần xa về sự linh thiêng nên được rất nhiều du khách thập phương gần xa tìm đến. Chính vì vậy, những thông tin về Bà Chúa Xứ, đặc biệt là những nghi lễ cúng bà Chúa Xứ luôn rất được quan tâm.

Sự tích về Bà Chúa Xứ núi Sam

Không chỉ nổi tiếng là một di tích linh thiêng mà Miếu Bà Chúa Xứ còn nổi tiếng là di tích có kiến trúc độc đáo. Tọa lạc tại nơi chân núi Sam (trước kia thuộc xã Vĩnh Tế, nay thuộc phường Núi Sam, Châu Đốc), Miếu Bà Chúa Xứ là một di tích kiến trúc và tâm linh quan trọng của tỉnh An Giang và của khu vực.

Bởi thế nên địa điểm này đã trở thành nơi thu hút các khách du lịch tìm đến để hành hương, trẩy hội, nhất là vào dịp đầu năm mới.

Khi nói về sự tích Bà Chúa Xứ, truyền thuyết dân gian kể lại rằng:

Cách đây gần 200 năm, trong làng Vĩnh Tế có một cô gái bỗng dưng lên đồng. Cô tự xưng mình là Bà Chúa Xứ về núi Sam để cứu dân độ thế. Bà còn nói thêm với người dân là hiện nay, tượng Bà đang ngự ở trên núi, yêu cầu dân làng hãy lên núi thỉnh về để thờ phụng.

Dân làng Vĩnh Tế khi đó liền phái 40 chàng thanh niên lực lưỡng lên núi để khiêng tượng Bà về.

Cho đến ngày nay, Miếu Bà Chúa Xứ Núi Sam không chỉ là biểu tượng tượng trưng cho đời sống tâm linh của người dân địa phương mà còn thúc đẩy sự phát triển về du lịch vì thu hút được rất nhiều khách du lịch hàng năm đến cúng bái.

Ý nghĩa của việc thờ cúng Bà Chúa Xứ Núi Sam

Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ Núi Sam từ xưa đến nay vẫn luôn được xem là một nét hành hương tâm linh rất đặc trưng của vùng Nam bộ. Lễ này cũng là một nét văn hóa cộng đồng rất đặc sắc của dân tộc. Ý nghĩa của Lễ hội Vía Bà hiện nay không chỉ dừng lại ở văn hóa tâm linh mà còn thể hiện niềm tự hào dân tộc với những trang sử vẻ vang cũng như những đóng góp tích cực cho xã hội.

Về mặt ý nghĩa tâm linh, từ xưa ông bà ta đã có câu “Có thờ có thiêng, có kiêng có lành, có niềm tin thì sẽ nhận lại được”. Do đó, Bà Chúa Xứ sẽ phù hộ và mang bình an, phước lành trong cuộc sống và công việc cho những người tin tưởng và thành tâm cầu nguyện trong việc thờ cúng tại Miếu Bà Chúa Xứ Núi Sam.

Những nghi lễ thờ cúng Bà Chúa Xứ Núi Sam

Lễ vía Miếu Bà Chúa Xứ Núi Sam hàng năm được tổ chức lớn nhất từ 23 đến 27 tháng 4 âm lịch. Trong đó, ngày 25 tháng 4 là ngày lễ chính dâng mâm cúng Bà Chúa Xứ. Các nghi lễ trong lễ vía Bà bao gồm:

Lễ “Tắm Bà” (nghi thức tương tự như lễ mộc dục ở miền Bắc):

Được cử hành vào rạng sáng lúc 0 giờ ngày 24 tháng 4 âm lịch. Tượng Bà sẽ được các cô gái trẻ lau sạch bụi bặm bằng những chiếc khăn nhúng nước thơm vắt ráo. Nước thơm tắm Bà là hỗn hợp được nấu bằng nước mưa hứng ngoài trời với nhiều loại hoa thơm và có thêm nước hoa hàng hiệu do các tín thí dâng cúng Bà.

Sau khi lau bụi bặm xong, tượng Bà sẽ được thay xiêm y mới, hài mới, mão mới. Chỉ có những người được Ban quản trị lựa chọn mới được tham gia tắm Bà. Cả quy trình này sẽ được thực hiện trong một không gian chật hẹp là chánh điện được quây màn lại.

Lễ tắm Bà thường kéo dài trong khoảng một giờ. Sau đó, bức màn ngăn được kéo lên để cho khách thập phương tự do chiêm bái, dâng hương, hoặc xin lộc Bà. Và sau khi Lễ Tắm Bà kết thúc, phần nước tắm cho Bà còn lại sẽ được đem hoà trong 2 thùng nước lớn để phân phát cho du khách trẩy hội.

Lễ Thỉnh sắc Thoại Ngọc Hầu về miếu Bà Chúa Xứ

Lễ này được cử hành vào khoảng 16 giờ chiều ngày 25.

Trong trang phục chỉnh tề, nghiêm trang, các bô lão trong làng được cử ra cùng với Ban quản trị miếu Bà tiến từ miếu Bà sang thỉnh sắc ở lăng Thoại Ngọc Hầu. Đoàn thỉnh sắc phong được dẫn đầu bởi đội múa lân của miếu Bà, kế đến là ông chánh bái, hai vị bô lão và những vị chức sắc khác. Cuối cùng, các học trò lễ với tay cầm cờ phướn đi hầu hai bên và theo cùng là chiếc kiệu sơn son thiếp vàng gọi là long đình.

Khi đoàn đến trước điện thờ Thoại Ngọc Hầu thì các bô lão lần lượt vào dâng hương và xin phép thỉnh bài vị. Sau đó, đoàn rước lễ thỉnh bốn sắc (bài vị) lên long đình để về miếu Bà. Bốn bài vị đó bao gồm: Bài vị của ông Thoại Ngọc Hầu và 2 bài vị của các bà: bà Chánh phẩm Châu Thị Tế, bà Nhị phẩm Trương Thị Miệt cùng bài vị Hội đồng.

Lễ Túc yết và lễ Xây chầu

Lễ Túc yết được tổ chức vào lúc 0 giờ đêm 25 và rạng sáng ngày 26 tháng 4 âm lịch. Lễ gồm có hai phần: nghi thức cúng tế và phần xây chầu.

Lễ vật dâng cúng được chuẩn bị rất kỹ lưỡng, gồm có:

Một con heo trắng (đã cạo lông, mổ bụng sạch sẽ, chưa nấu chín)

Một dĩa huyết heo có kèm theo nhúm lông nhỏ (ế mao huyết)

Một mâm xôi

Một mâm trái cây

Một mâm trầu cau

Một dĩa gạo, muối

Sau khi đánh ba hồi chiêng trống và ba hồi trống gõ, nhạc lễ nổi lên thì lễ dâng hương, chúc tửu và dâng trà bắt đầu. Từng diễn biến của buổi lễ túc yết được hai người xướng lễ (một người xướng nội, một người xướng ngoại) xướng to lên. Nghi thức cúng tế kết thúc bằng động tác đốt bản văn tế và giấy vàng bạc của ông Chánh tế. Riêng heo cúng sống trên bàn được lật ngửa ra trước khi khiêng đi chế biến.

Sau lễ Túc yết là lễ Xây chầu được tiến hành ở nhà võ ca. Lễ xây chầu này mở đầu cho việc hát bộ (còn gọi là hát bội hay hát tuồng), lễ này có mặt hầu như ở tất cả các lễ hội cúng đình ở những ngôi làng Nam Bộ.

Lễ Xây chầu bắt đầu bằng ba hồi trống lệnh, sau phần cầu nguyện xin Bà Chúa Xứ ban cho quốc thái dân an, mưa thuận gió hoà, đất đai phì nhiêu, mùa màng bội thu, dân chúng khỏe mạnh, yên vui, các loài quỷ dữ bị tiêu diệt của ông Chánh bái.

Sau đó, ông Chánh ca đánh ba hồi trống và xướng “ca công tiếp giá”. Lập tức, đoàn hát bội nổi chiêng trống rộ lên, chương trình hát bội bắt đầu. Các tuồng hát đã được chuẩn bị sẵn sẽ bắt đầu nhảy vào cuộc. Trước hết là phục vụ, mua vui cho Bà Chúa Xứ, sau đó là phục vụ cho bà con tham dự lễ hội thưởng thức.

Lễ Chánh tế

Vào 4 giờ sáng ngày 27 tháng 4, lễ Chánh tế được tiến hành, nghi lễ gần giống như nghi thức cúng lễ Túc yết.

Lễ Hồi sắc

Lễ Hồi sắc là nghi thức cuối cùng kết thúc Lễ hội vía Bà Chúa Xứ Núi Sam hàng năm. Vào chiều ngày 27 tháng 4 âm lịch, lễ Hồi sắc sẽ được cử hành vào khoảng 15 giờ. Đoàn hành lễ sẽ rước bài vị ông Thoại Ngọc Hầu và nhị vị phu nhân từ miếu Bà Chúa Xứ trở về Sơn Lăng. Chương trình hát Bội cũng chấm dứt và kết thúc lễ cúng vía Bà.

Chuẩn bị lễ vật đầy đủ cúng khấn Bà Chúa Xứ núi Sam

Khi đi lễ Bà Chúa Xứ, gia chủ cần chuẩn bị đầy đủ lễ vật cúng khấn Bà. Theo đó, những món lễ vật cúng Bà sẽ cụ thể như sau:

Mâm trái cây ngũ quả

Hoa tươi

Hương (nhang thơm), đèn cầy

Hũ gạo, hũ muối

Rượu trắng, trà, bánh kẹo

Trầu, cau tươi

Bánh bao, xôi chè

Heo quay nguyên con

Trong số tất cả các món lễ vật cúng khấn Bà Chúa Xứ Núi Sam thì lễ vật trang trọng nhất chính là heo quay nguyên con. Đây là món lễ vật được đông người hành lễ dùng để dâng cúng Bà. Bên cạnh đó, theo như phong tục tập quán ở nhiều nơi cũng như quan niệm trong thờ cúng thì heo quay được dùng để cúng phải được cắm một con dao nhỏ ở ngay sống lưng.

Xin lộc và cách sử dụng lộc Bà Chúa Xứ linh nghiệm

Chỉ cần thành tâm cầu nguyện bằng sự tôn kính nhất, Bà sẽ ban cho gia chủ sự an yên, ấm no và hạnh phúc. Và sau khi làm lễ vía cúng Bà Chúa Xứ Núi Sam, gia chủ nên xin Bà một bao lì xì lộc để lấy may. Thông thường, trong bao lì xì này là tiền, hoặc đôi khi là một mảnh nhỏ của tấm áo Bà mặc.

Cách thức sử dụng lộc Bà Chúa Xứ như thế nào?

Khi rước lộc Bà về nhà, gia chủ cần phải thực hiện bước thỉnh lộc Bà lên một cái đĩa. Sau đó để 4 ly nước suối kế bên và cầm từng ly nước lên cầu khấn cung nghinh Bà về cư gia. Và cứ mỗi ly nước khấn xong, gia chủ hãy đem đổ ra 1 góc nhà, 4 ly nước tương đương với 4 góc nhà.

Sau đó, trân trọng đặt lộc Bà lên bàn thờ ở Mẹ Quan m. Không nên đặt lộc Bà ở bàn thờ thờ Ông Địa như các gia đình khác thường làm. Như vậy là khinh thường Bà, theo quan niệm thờ cúng, tâm linh. Mà ông Địa ông Thần tài năm đó cũng sẽ không về được khánh.

Đặc biệt, khi đặt lộc Bà lên bàn thờ Quan m thì gia chủ phải thực hiện đúng theo phong tục trong 9 ngày phải thay nước và thay trầu cau tươi 3 ngày 1 lần, không được để quá số ngày theo quy định này.

Sau đó, gia chủ ta có thể bỏ lộc Bà vào ví hay để bàn thờ. Tuy nhiên, gia chủ phải nhớ là thường xuyên khấn Bà để cầu xin sự phù hộ che chở cho chính gia chủ cùng các thành viên trong gia đình. Lưu ý, nếu để lộc Bà ở bàn thờ thì gia chủ nên đặt thêm xung quanh bao lì xì lộc Bà 5 loại ngũ cốc khác nhau.

Cuối năm, hãy hóa lộc Bà Chúa Xứ Châu Đốc vào ngày 23 tháng Chạp âm lịch.

Địa chỉ đặt mâm cúng Bà Chúa Xứ Núi Sam uy tín

Nếu là một người sùng đạo, có tín ngưỡng là Phật giáo thì chắc chắn rằng nhiều gia chủ sẽ không bỏ qua lễ hội linh thiêng tầm cỡ quốc gia này.

Và để giúp cho các gia chủ có thể có được những buổi lễ vía, những buổi khấn viếng trang trọng và linh thiêng nhất thì Dịch vụ Đồ Cúng Trọn Gói rất sẵn lòng hỗ trợ và cung cấp trọn gói bộ mâm lễ vật cúng vía Bà Chúa Xứ Núi Sam cho tất cả khách hàng trên toàn quốc.

Bên cạnh đó, Dịch vụ Đồ Cúng Trọn Gói còn cung cấp cho các gia chủ Mâm cúng Bà Chúa Xứ có thêm một đôi đũa hoa ( Bà Chúa Xứ thích dùng đũa này nhất) cùng một số loại hoa tươi dâng cúng như hoa cúc, hoa dơn, … và trầu cau, nhang, đèn, nước, muỗng, mâm ngũ quả, bộ tam sên (3 món luộc là trứng luộc, tôm hoặc cua, thịt vai hoặc mông).

Tín Ngưỡng Thờ Bà Cậu Ở Cần Thơ

Tín ngưỡng thờ Bà Cậu có nguồn gốc ở miền Trung, được các ngư dân mang vào Nam Bộ từ khoảng xuối thế kỷ XVII đầu thế kỷ XVIII. Có nhiều ý kiến cho rằng đây là tín ngưỡng xuất phát từ tín ngưỡng thờ Mẫu, đó là thần Nước, Mẫu Thủy, Mẫu Thoải. Trong dân gian, Mẫu Thoải là hóa thân lần thứ ba của Thánh Mẫu Liễu Hạnh, được gọi là Mẫu Đệ Tam. Mẫu Đệ Tam cai quản vùng sông nước, biển cả và luôn luôn cứu độ cho dân cư khu vực này. Binh tướng của bà là các thần dưới dạng rắn, thuồng luồng- có sức mạnh dẹp yên sóng gió, có khả năng làm mưa, chống lũ lụt, hồng thủy… Ngư dân tin rằng khi đi biển, nếu gặp bão thì Bà sẽ cứu giúp. Tín ngưỡng Mẫu Thoải rất phổ biến ở khu vực Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ và khi vào đến Nam Bộ thì việc phối thờ Thiên Y A Na Bà Chúa Ngọc cùng hai người con (Cậu Trài (Tài)- Cậu Quí) tạo thành tục thờ đặc trưng của cư dân biển đảo là thờ Bà Cậu.1

Nghi thức hạ thủy bè thủy lục tại Lễ Tống ôn ở Miếu bà Xóm Chài (Cái Răng- Cần Thơ). Ảnh: DUY KHÔI

Người đi ghe xuồng mỗi buổi sáng đều thắp nhang cầu mong Bà Cậu phù hộ những điều tốt lành. Ảnh: DUY KHÔI

Sở dĩ dân miền sông nước thường cúng Bà Cậu bằng vịt vì quan niệm, với nghề nghiệp và cuộc sống của họ, hạnh phúc và thành đạt là ghe, tàu đi đến nơi về đến chốn. Ngược lại, điều luôn làm họ lo lắng là tai họa, không may phương tiện bị rủi ro va chạm, đụng chìm… đồng nghĩa với thất bại, phá sản, giải nghệ. Chính vì vậy phương tiện nổi đi nhanh an toàn trong mọi điều kiện luôn là yêu cầu số một đối với người mưu sinh trên sông nước. Trong khi đó, con vịt luôn luôn nổi và bơi lướt nhanh trên mặt nước. Thế là họ thường dâng cúng Bà cặp vịt. Mặc dù đối với nhà Phật, đức Bồ Tát không dùng đồ mặn, nhưng người dâng cúng “lý sự” rằng, Bà không ăn vịt mà dùng vịt để cưỡi đi giúp các ghe, tàu mỗi khi gặp sóng to, gió lớn, vượt qua các chướng ngại trên luồng để đi đến nơi về đến chốn an toàn.2

Trong khi đó, Bà Cậu được Huỳnh Tịnh Paulus Của ghi nhận trong Đại Nam Quấc âm tự vị trong mục từ Bảy bà ba cậu là: Bà chúa Tiên, bà chúa Ngọc, bà chúa Xứ, bà chúa Động, bà Cố Hỉ, bà Thủy, bà Hỏa; cậu Trày, cậu Quí đều là con bà chúa Ngọc, làm bạn với một vị thái tử mà sinh ra; còn có cậu Lý, cậu Thông, nói theo vần kể có ba cậu. Về hai người sau không rõ sự tích.3

Lại có quan niệm cho rằng, đánh bắt cá vốn là nghề kiếm sống của những người hạ bạc (hiểu là nghèo khổ cùng cực nhất trong xã hội thời xưa, nên được xếp đứng đầu trong tứ nghệ khổ: ngư, tiều, canh, mục), bởi thế có câu: Cùng nghề đi tát, mạt nghề đi câu. Nói cách khác, ngư dân là những người bạc phận nhất, cực chẳng đã mới làm cái nghề đi vào ngõ cụt: Nhất phá sơn lâm nhì đâm hà bá. Chính vì vậy ngư dân phải tự tìm cho mình sự che chở của một thế lực siêu hình mà theo họ là đầy quyền năng: Bà Cậu, xem như Thủy thần- chỗ dựa tâm linh, để cầu xin được phù hộ độ trì. Thế mới được an lòng!

Thủy thần là vị thần bảo hộ cho những người sống nghề sông nước, là một đối tượng được nghĩ ra trên cơ sở phối hợp pha lẫn các truyền thuyết sẵn có từ thuở xa xưa đem từ miền ngoài vào, rồi tự tâm thức, bà con đặt định một danh hiệu rất chung chung: Bà Cậu. Không ít người đã cố gắng lý giải về nguồn gốc, danh tánh, nhưng dân gian kể cả những người sống nghề hạ bạc cũng không mấy ai quan tâm đến thần tích tuy luôn rất thành kính, sợ hãi. Với họ, có hai loại thủy thần: tốt, thân thiện thì Bà Cậu; còn xấu, gây tai họa cho người là… Hà Bá và Bà Thủy.4

Ở Cần Thơ, Bà Cậu không chỉ được thờ trong khoang ghe, tàu mà còn được xây miếu thờ. Ngôi miếu này hiện tọa lạc tại khu vực Xóm Chài, thuộc khu vực 3, phương Hưng Phú, quận Cái Răng. Đây là ngôi miếu được xây dựng từ rất lâu đời, cách đây khoảng 120 năm. Trước đây, cư dân khu vực này sống bằng nghề chài lưới, đánh cá… mà công việc này hằng ngày phải đối với diện với bao hiểm nguy của sông sâu nước chảy, sóng to gió lớn… nên cần có sự che chở của một vị thần để vững tâm trong công cuộc mưu sinh. Và Bà Cậu- với tư cách là vị thần cai quản vùng sông nước, có thể đem đến cho họ sự bình an trong tâm tưởng nên dân làng chung tay xây miếu thờ Bà, mong Bà phù hộ cho sóng yên gió lặng, mọi người được bình yên, tôm cá đầy thuyền. Miếu Bà Xóm Chài lúc đầu được xây dựng đơn giản bằng cột gỗ, lợp lá. Sau một thời gian dài, ngôi miếu xuống cấp, hư hỏng, dân làng mới góp tiền xây lại ngôi miếu khang trang như hiện nay. Trong miếu, ngoài việc thờ Bà Cậu, dân làng ở đây còn thờ Bà Chúa Xứ, Tả Ban, Hữu Ban, Thành Hoàng và Phật Di Lặc. Nhìn chung, việc thờ cúng ở miếu Bà Xóm Chài không khác mấy so với cơ cấu thờ cúng ở đình làng. Ngay cả lễ cúng Bà hằng năm cũng là mô phỏng lễ hội Kỳ Yên ở đình làng.

Hằng năm, miếu Bà có hai kỳ cúng lớn, đó là ngày 13, 14 tháng Giêng âm lịch và ngày 23, 24 tháng 4 âm lịch. Trong đó, lễ cúng vào tháng Giêng là lớn nhất, có học trò lễ, có thuyền tống ôn, thu hút hàng trăm lượt người đến tham dự. Phẩm vật cúng Bà trong các ngày này gồm có: heo trắng làm sẵn, gà, cháo ám, trái cây… Trong đó, heo gà dùng cúng Bà Cậu, còn cháo ám dùng để cúng binh.

Mặc dù người dân nơi đây không biết Bà Cậu là ai nhưng niềm tin của họ đối với Bà Cậu là tuyệt đối. Họ tin rằng, mọi bất trắc trên sông nước mà quá trình làm nghề họ gặp phải đều có Bà Cậu che chở. Vì lẽ đó, tín ngưỡng thờ Bà Cậu của người dân Cần Thơ là thể hiện sự tri ân của dân làng đối với đấng bề trên, cho họ một cuộc sống ấm no đủ đầy, bình an, hạnh phúc. Đồng thời qua đó còn thể hiện lòng ước mong mỗi cuộc hải trình ra khơi được đi đến nơi về đến chốn, sóng yên gió lặng, tôm cá đầy thuyền.

Trần Phỏng Diều

Tín Ngưỡng: Đạo Thờ Cúng Tổ Tiên (Ông/Bà

Người Việt Nam thường ngoài tôn giáo riêng của mình, còn thờ phụng tổ tiên, ông bà.

Tương tự như đạo Thờ Thần, không có tài liệu nào ghi chép rõ ràng về thời điểm phát xuất “đạo” thờ cúng Tổ tiên Ông bà ở Việt Nam. Có lẽ đạo thờ cúng Tổ tiên Ông bà bắt đầu phát triển cùng thời với đạo Thờ Thần ở Việt Nam vì tôn chỉ, nghi thức của hai “đạo” có rất nhiều điểm tương đồng.

Cây có gốc, nước có nguồn. Tổ tiên sinh ra ông bà, ông bà sinh ra cha mẹ, cha mẹ sinh ra mình. Người con hiếu thảo phải biết ơn sinh thành. Đã có hiếu với cha mẹ thì phải có hiếu với ông bà – tức là nhớ đến nguồn gốc của mình. Lúc ông bà cha mẹ còn sống thì chăm lo phụng dưỡng, Khi ông bà cha mẹ chết rồi thì phải lo việc thờ phụng để tỏ lòng thành kính biết ơn.

Thật ra, ở Việt Nam, gọi là “đạo” thờ Ông Bà Tổ tiên; nhưng không đúng nghĩa là một “đạo” (cũng tương tự như đạo thờ Thần); bởi vì không có Giáo hội, giáo chủ, giáo sĩ, giáo điều… Đây chỉ là chuyện nội bộ gia đình, con cháu thôi.

Qua việc thờ phụng tổ tiên, người Việt Nam tin là khi chết thể xác tiêu tán nhưng linh hồn thì bất diệt; và người sống và người chết luôn luôn có một sự liên lạc mật thiết. Sự thờ phụng là một cách để giữ gìn mối liên lạc này.

Ông Bà thường được chôn cất gần nhà. Vong hồn Ông Bà được coi như vẫn còn đang sống quanh quẩn nơi bàn thờ.

Phong tục của Việt Nam cho là “Dương sao thì Âm vậy.” Người sống cần gì, thì người chết sống ở “cõi Âm” cũng cần như vậy ! Nói cách khác người chết cũng cần ăn uống, tiêu pha, nhà cửa… như người sống (?). Vì tin như vậy cho nên việc thờ phụng cúng lễ là chuyện cần thiết. Tục người Việt cũng tin rằng vong hồn người chết thường ngự trên bàn thờ để gần gũi với con cháu. Nguời ta sợ tội bất hiếu với vong hồn cha mẹ phải tủi hổ, cho nên người sống phải suy tính kỹ lưỡng, xem như lúc cha mẹ còn sống thì có chấp nhận dự tinh, công việc làm của mình hay không ? Do đó con cái phải ăn ở, thờ phụng cho đứng đắn kẻo mang chữ bất hiếu. Như vậy vong hồn cha mẹ có ảnh hưởng tốt đến hành động và tư cách của con cái.

Những biến cố quan trọng của gia đình từ việc hiếu đến hỷ, gia trưởng phải có lễ cáo gia tiên để xin ông bà tổ tiên chứng giám, chia sẻ, phù hộ.

– Vợ đẻ – Con đầy tháng – Con cái bắt đầu đi học, đi thi, đỗ đạt – Gả chồng, dựng vợ cho con – Công danh thăng tiến (lên chức, đắc cử, lãnh thưởng…) – Khao vọng – Xây cất, mua nhà mới hay sửa chữa tu bổ nhà cũ – Cầu độ

– Trong nhà có người qua đời – Có người đau ốm – Phải đi xa – Gặp chuyện không may (buôn bán thua lỗ, bị kiện cáo)…

Trong nhà, bàn thờ tổ tiên kê ngay ở chính giữa nhà. Nhà giàu thì đóng bàn thờ sơn son thếp vàng. Ở vùng quê xa xôi, các gia đình nghèo không thể lập một bàn thờ qui củ để thờ đúng theo cổ tục thì họ chỉ đóng một cái trang trên tường hay thu xếp một cái tủ nhỏ làm bàn thờ để tiện việc cúng lễ.

Bàn thờ tổ tiên cũng được trang trí tùy theo mỗi gia đình. Đại cương thì có bình hương, bài vị, đèn nến, mâm bồng (để bày hoa quả bánh trái)… nhà giàu sung túc sẽ bày thêm đỉnh đồng (bộ tam sự, ngũ sự, thất sự… – số lẻ chỉ về âm), bình sứ, bảo lộ (tám thứ binh khí của quân sĩ thời xưa), hoành phi, y môn (che ngăn cách bàn thờ với khoảng không gian bên ngòai), câu đối…

Là ngày kỷ niệm người chết đã qua đời – còn gọi là ngày kỵ nhật. Con cháu dù bận rộn cũng phải nhớ ngày này để cúng giỗ. Nhiều tôn giáo chỉ làm lễ kỷ niệm ngày chết, làm giỗ nhưng không “cúng” theo cổ tục thờ cúng tổ tiên.

Trong ngày giỗ, tùy hoàn cảnh, gia đình làm cỗ bàn to hay nhỏ mời thân bằng quyên thuộc tham dự. Nhiều khi cũng tùy sự liên hệ giữa người sống và người chết mà sẽ làm giỗ to hay nhỏ: cha mẹ, ông bà thì giỗ to; chú bác, cao tằng khảo, tỷ thì chỉ cúng đơn sơ.

Trong ngày giỗ còn phân biệt giỗ đầu (một năm sau khi người chết qua đời, hay Tiêu tường). Giỗ đầu, con cháu nhiều khi phải mặc lại đồ tang như chính ngày đưa đám. Nhà khá giả rước cả phường bát âm, phường kèn, mời chẳng những bà con mà lại cả khách xá nữa; hoặc giỗ sau (giỗ cuối, hết tang, còn gọi lả giỗ hết hay Đại tường)…

Hóa vàng có nghĩa là “nấu vàng,” tức là đem đốt những đồ vàng mã, vàng giấy, tiền giấy. Sau khi hóa vàng thì con cháu đổ một chén rượu cúng vào đám lửa, cốt để biến vàng mã trên dương gian thành đồ dùng thật dưới âm phủ! Sau khi hóa vàng thì xem như giỗ đã xong.

Với văn minh tiến bộ ngày nay người ta bỏ bớt việc đốt vàng mã tức là: áo quần, nhà cửa, xe cộ, tiền bạc bằng giấy; (có khi đốt cả hình người nữa ?! Vì người Tầu cho rằng đốt hình người để dưới âm phủ Ông Bà có người hầu hạ ??)

Ngày giỗ Họ (giỗ Tổ của Họ), Nhà Thờ Tổ

Ngày giỗ Họ là ngày duy nhất trong năm để cho cả họ họp mặt, nhận ra nhau. Trong dịp này những người cao niên sẽ kể các công trạng, sự nghiệp của ông tổ cho con cháu nghe.

Người trưởng tộc lo việc tổ chức giỗ Tổ. Các gia đình các ngành đều phải đóng góp công của. Người trưởng tộc cũng được hưởng hương hỏa của tổ tiên đế lại.

Đất hương hỏa ông bà để lại là những phần đất dành để lấy hoa lợi lo việc cúng giỗ. Con cháu không được bán. Rủi có bị tịch biên, chủ nợ cũng không được lấy phần này. Thường ruộng hương hỏa còn gọi là kỵ điền – là ruộng để giỗ. Đất này do tự người có giỗ lấy tài sản của mình mà đặt, hoặc có di chúc của tổ tiên dành cho con cháu…

Do ý thức hệ luân lý gia đình, phong tục Việt Nam đặt vấn đề đất hương hỏa rất quan trọng. Ngay cả pháp luật của các triều đại, các chế độ đều nhằm bảo vệ đất hương hỏa.

Tóm lại, nước Việt đã trải qua biết bao nhiêu cuộc hưng vong phế chuyển nhưng việc Thờ Cúng Ông Bà vẫn còn tồn tại. Người Việt đã theo nhiều tôn giáo ngoại nhập khác nhau nhưng cũng không bao giờ vì tôn giáo riêng của mình mà bỏ quên tổ tiên.

Tất cả các chuyện xảy ra cho gia đình trong đời sống hàng ngày Ông Bà Tổ tiên đều được nhớ đến, và khấn vái xin phù hộ.

Theo truyền thống xưa, sau khi mời Tổ tiên về dự 3 ngày Tết với con cháu vào ngày 30 Tết (nếu tháng thiếu thì vào ngày 29 Tết), đến ngày mùng 3 Tết hoặc ngày khai hạ mồng bảy Tết, là ngày cuối cùng, tiệc xuân đã mãn, con cháu lại cáo lễ để tiễn đưa Tổ tiên trở về âm cảnh.

Lễ này, tục gọi là “đưa ông bà”, lễ hóa vàng cho Tổ tiên, hay lễ tạ năm mới.

Theo GS sử học Lê Văn Lan, mùng 3 vẫn là ngày Tết thầy, nên để tổ tiên vẫn ở lại ăn Tết với con cháu. Mùng 4 và mùng 5 mới là ngày tiễn các cụ về cõi vĩnh hằng.

GS Lan cho biết, tục hoá vàng dựa trên tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, vật hoá vàng thường gắn với đời sống thường nhật, để thấy con người ở thế giới bên kia sống gần với dương gian. Tục này nhằm cung cấp cho người đã khuất tiền, quần áo (giấy), gậy đi đường (cây mía).

“Các cụ về trời chỉ cần ít quần áo, vật dụng đi đường cùng 5-10 nghìn đồng”, ông Lan bày tỏ.

Theo một số chuyên gia văn hóa phương Đông, việc chọn ngày làm lễ hóa vàng tùy thuộc vào mỗi gia đình, chủ yếu từ mùng 3 đến khoảng mùng 10 Tết Nguyên đán. Điều quan trọng nhất là phải có lễ tạ gia tiên, gia thần và chư vị thánh thần, phật. Theo quan niệm dân gian, có lễ tạ thì tấm lòng của chủ nhà mới được người âm chứng giám.

Sau khi lễ, các gia chủ sẽ hóa vàng. Phần tiền, vàng của gia thần phải hóa trước, tiền vàng, đồ dùng của tổ tiên hóa sau. Tục xưa, tại nơi đốt vàng mã, người ta thường đặt vài cây mía dài. Dân gian cho rằng đây là đòn gánh để các linh hồn dùng làm gậy chống, hay mang hàng hóa.

Lễ vật dâng cúng trong lễ tạ năm mới gồm: Nhang, hoa, ngũ quả, trầu cau, rượu, đèn nến, bánh kẹo, mâm lễ mặn hoặc chay cùng các món ăn ngày Tết đầy đủ, tinh khiết.

Văn khấn lễ tạ năm mới (lễ hóa vàng)

Nam mô A-di-đà Phật (3 lần)

Con kính lạy chín phương trời, mười phương chư Phật, chư Phật mười phương

Con kính lạy Hoàng Thiên, Hậu Thổ, Long Mạch, Táo Quân, chư vị tôn thần

Con kính lạy Hoàng thiên Hậu thổ. Chư vị Tôn thần

Con kính lạy Ngài Đương niên hành khiển, ngài Bản cảnh Thành Hoàng, các ngài Thổ địa, Táo quân, Long mạch Tôn thần.

Con kính lạy các cụ Tổ khảo, Tổ tỷ, nội ngoại tiên linh.

Hôm nay là ngày mùng 3 tháng giêng năm …………………….

Chúng con là: ……………………………tuổi………………

Hiện cư ngụ tại ………………………………………………

Thành tâm sửa biện hương hoa phẩm vật, phù tửu lễ nghi, cung bày trước án. Kính cẩn thưa trình: tiệc xuân đã mãn, Nguyên đán đã qua, nay xin thiêu hóa kim ngân, lễ tạ Tôn thần, rước tiễn âm linh trở về âm cảnh.

Kính xin lưu phúc, lưu ân, phù hộ độ trì dương cơ âm trạch, mọi chỗ tốt lành, con cháu được bách sự như ý, vạn sự bình an, tài lộc song toàn, gia đạo hưng vượng.

Lòng thành kính cẩn, lễ bạc tiến dâng, lượng cả xét soi, cúi xin chứng giám.

Nam mô A-di-đà Phật (3 lần)

“…Trong mâm cúng lễ gia tiên, tốt nhất nên dùng những đồ ăn chay, thanh tịnh”, nhà nghiên cứu Vũ Thế Khanh chia sẻ.

Phong tục thờ cúng tổ tiên là một nét văn hóa đặc sắc của người Việt, đã được hình thành từ rất lâu đời. Phong tục ấy không chỉ thể hiện truyền thống “uống nước nhớ nguồn” mà còn mang giá trị giáo dục sâu sắc cho các thế hệ. Việc cùng nhau bày tỏ lòng thành kính trước tổ tiên, các thành viên trong gia đình càng thắt chặt thêm sợi dây huyết thống.

Tuy nhiên, sau nhiều năm nghiên cứu, Tiến sĩ Vũ Thế Khanh, Tổng Giám đốc Liên hiệp Khoa học Công nghệ UIA, gọi tắt là UIA, lại có một góc nhìn khác khi cho rằng từ bấy lâu nay người ta vẫn chưa hiểu hết về phong tục tốt đẹp này.

Phong tục bắt nguồn từ nỗi lòng muốn báo hiếu tổ tiên

Tiến sĩ Khanh cho biết, để làm rõ hơn về phong tục cúng tổ tiên, bạn đọc trước tiên cần biết về khái niệm “thần thức”. Qua 20 năm nghiên cứu với hàng vạn ca khảo nghiệm, UIA cho rằng khả năng ngoại cảm của con người là có thật. Nói cách khác, những người tham gia nghiên cứu Chương trình khảo nghiệm cho rằng người ta khi chết đi thì vẫn còn lưu lại phần “thần thức”. Điều này trùng hợp với quan điểm của đạo Phật về thuyết luân hồi, cho rằng con người phải trải qua nhiều kiếp trước khi đến với miền cực lạc.

“Và với phong tục đẹp đẽ thờ cúng tổ tiên, dù vô tình hay hữu ý, chúng ta đều đã chấp nhận phần “thần thức” ấy song hành trong thế giới đương đại. Dựa trên những cơ sở này, Chương trình khảo nghiệm đã phát triển thêm một hướng mới. Qua hàng trăm ca giao lưu điển hình, những người nghiên cứu đi sâu tìm hiểu nhu cầu, ước muốn của phần “thần thức” và đặc biệt trong phong tục cúng lễ, đã có những phát hiện rất lý thú”, tiến sĩ Khanh nói.

Theo nhà nghiên cứu này: “Con người ta sinh ra, ai mà không có ông bà cha mẹ, cao hơn nữa là tổ tiên dòng tộc. Kể từ 9 tháng 10 ngày hoài thai đến khi ra đời rồi được nuôi nấng lớn khôn, con cái đã được các bậc sinh thành dành cho biết bao là yêu thương, công sức. Gia tiên tiền tổ nuôi dưỡng cháu con nhưng không bao giờ quá cần thiết sự đền đáp trở lại.

Vậy trong đời này, với công ơn sinh thành dưỡng dục, phận làm con cháu biết trả thế nào cho đủ? Cho đến khi các đấng sinh thành khuất núi, nhiều con cháu vẫn trăn trở vì chưa thỏa được nỗi lòng muốn báo hiếu mẹ cha. Và phong tục cúng lễ chính là sự tiếp nối ước vọng ấy dâng lên tiên tổ”.

Những người nghiên cứu trong Chương trình khảo nghiệm đã đưa ra khái niệm rằng với phần “thần thức” của gia tiên, cần phải đền đáp bằng cách “vay cá trả cần câu”: Cha mẹ cho con cái sinh mệnh, nhưng con cái không thể dùng sinh mệnh để hoàn trả được. Như thế, vay cá nhưng không thể trả bằng cá. Vả lại “vay cá trả cá” là lẽ thường tình. Vay cá và trả lại bằng cần câu, mới là cách đền đáp công ơn trọn tâm vẹn ý. Họ thống nhất rằng cúng lễ bằng phương pháp “cúng tâm linh” chính là “chiếc cần câu” để phần “thần thức” của gia tiên tiền tổ tìm về được miền cực lạc.

Cúng đồ mặn hay đồ chay?

Nhiều năm nghiên cứu về vấn đề này, ông Khanh cho rằng mình đã có những trải nghiệm lạ. Vị tiến sỹ này chia sẻ rằng qua hàng vạn ca khảo nghiệm, ông đã rất ngạc nhiên khi phát hiện có tới 80% đối tượng tội phạm có xuất thân từ những gia đình có nguồn gốc làm nghề bất lương. Có thể ví dụ như buôn bán ma túy, hành nghề cờ bạc hoặc làm giàu trên thân xác phụ nữ.

Theo ông, ở những gia đình đó, phần “thần thức” của gia tiên luôn bị ảnh hưởng bởi môi trường không lành mạnh, dù có cúng bái bằng mâm cao cỗ đầy đến đâu, cũng không thể siêu thoát. “Âm không siêu thì dương không thái”, vì thế trước hay sau, những gia đình đó cũng gặp những tai họa khó lường.

Tiếp theo nhận định đó, ông Khanh cho rằng phong tục thờ cúng tổ tiên trong nhiều gia đình hiện nay chưa thực sự đúng cách. Qua tiếp xúc với nhiều gia đình, những người nghiên cứu trong chương trình này nhận thấy mâm cúng có nhiều đồ rượu, thịt sẽ khiến phần “thần thức” trở nên “nghiện” các thứ đó.

“Cần giải thích thêm rằng “thần thức” khi mới hình thành thường rất non yếu, không có khả năng tự chủ. Lúc ấy, nếu các gia đình dùng những đồ cúng có nguồn gốc tanh hôi, sẽ vô tình làm cho “thần thức” của gia tiên rời xa khỏi sự thanh tịnh”, ông Khanh nói. Ông Khanh lấy ví dụ ở những đám cúng giỗ lớn, rượu thịt ê hề nhưng vẫn hay xảy ra va chạm, cự cãi, thậm chí có thể đâm chém nhau. Là bởi đám cúng giỗ đó sẽ quy tụ các phần “thần thức” ưa thích tanh hôi, có “tác dụng ngược”, gây nên sự nóng nảy vô cớ, thiếu kiềm chế của những người tham gia bàn tiệc.

“Vậy nên trong mâm cúng lễ gia tiên, tốt nhất nên dùng những đồ ăn chay, thanh tịnh”, nhà nghiên cứu này nói. Ông Khanh diễn giải việc đó gọi là “phạm thực” chuyển thành “hỷ thực”. Nên thay thế những đồ ăn tanh hôi bằng đồ chay và một không khí thanh tịnh. Ví dụ như khi ta đang đói bụng, nếu nghe được một tin rất vui, cảm giác đói trước đó có thể dễ dàng tan biến. Phần “thần thức” cũng như vậy. Làm quen với môi trường thanh tịnh, được kính ngưỡng bằng những đồ “hỷ thực”, chính là cách tiếp thêm năng lượng tinh thần, để phần “thần thức” vượt lên một bậc mới.

Nhưng đồ cúng lễ thanh tịnh thôi chưa đủ. Những người nghiên cứu trong chương trình này đề cao nhất cách thức dùng phương pháp nhà Phật để kính ngưỡng gia tiên. Cùng với kinh chú tốt lành, con cháu tham gia cúng lễ phải thật sự chay tịnh, thả tâm hồn rời bỏ “tham, sân, si”, chỉ một lòng hướng về gia tiên tiền tổ. Nhiều cuộc khảo nghiệm đã chỉ ra rằng phần “thần thức” chỉ thực sự hoan hỷ với những người thành tâm cúng lễ là con hiền, dâu thảo, cháu ngoan.

Trải qua nhiều lần được tắm mình trong “hỷ thực” và môi trường thanh tịnh như thế, phần “thần thức” của gia tiên sẽ dần được nâng về miền cực lạc. “Trong niềm kính ngưỡng với gia tiên, việc cúng lễ một cách đúng đắn, chính là cách để đền đáp công ơn trời biển của các đấng sinh thành”, ông Khanh kết luận

Thăm Dinh Thờ Bà Chúa Xứ Trà Cốt

Ở Tây Ninh, dinh là một dạng từ đường, nơi thờ phượng các danh nhân gắn liền với lịch sử khai bờ, mở cõi ở địa phương hoặc các danh nhân khác gắn bó với đời sống tâm linh của dân gian như dinh Quan lớn Trà Vong, dinh ông Chúa Tàu (Gò Dầu)… Dinh còn là một dạng miễu thờ các vị linh thần như dinh Cậu, dinh Cô, dinh Năm Ông, dinh Bà Chúa Xứ. Cũng có cách giải thích khác cho rằng dinh từ nguyên thuỷ vốn là “dinh thự”, một dạng kiến trúc quy mô dành cho những gia đình quyền quý.

Tại ấp Bình Lương (thuộc xã Đồng Khởi, huyện Châu Thành) trước đây dân gian gọi là Trà Cốt đã hình thành một dinh thờ bà Chúa Xứ Trà Cốt. Hàng trăm năm trước đây khu vực này là rừng hoang trùng điệp, hiện nay đã hoá thành những cánh đồng xanh tít tắp. Ngôi dinh thờ nhỏ nhắn nằm giữa cánh đồng dưới bóng tràm xanh yên ả. Chẳng ai biết dinh thờ này do ai xây dựng và ra đời vào thời điểm nào? Nhiều người cho rằng dinh thờ này đã hình thành từ thời nội tổ và thân sinh của các cụ Tám Lộc, Năm Nọ, Ba Thành, Hai Cầu… – những bô lão đang tiếp nối công việc của tiền nhân.

Nghi lễ tại dinh thờ.

Trong giai đoạn chiến tranh chống Mỹ trước đây, dinh Bà bị đạn bom tàn phá liên tục chỉ còn trơ trọi vài cây cột gỗ trai. Những năm 1962-1963, người dân Trà Cốt phải đưa tượng Bà về thờ tại miễu Quan lớn Trà Vong Tua Hai. Sau ngày giải phóng miền Nam cho đến năm 1987, dinh thờ được xây dựng tại địa điểm hiện nay. Từ năm 1996, được hỗ trợ tích cực của chính quyền và các đoàn thể địa phương dinh thờ đã được trùng tu, tôn tạo khang trang và kiên cố hơn theo nguyện vọng của nhân dân.

Tục thờ Bà Chúa Xứ là một hình thức tín ngưỡng dân gian thể hiện tập quán thờ cúng các nữ thần hay tục thờ Mẫu của người Việt trong cả nước. Bà Chúa Xứ ở Tây Ninh chính là Chúa Xứ được dân gian tôn thờ tại khu vực núi Sam thuộc xã Vĩnh Tế (An Giang). Từ hơn 300 năm trước, tập tục này đã theo bước những lưu dân người Việt đến Tây Ninh và trở thành tín ngưỡng dân gian trong quá trình mở cõi của tiền nhân.

Tại Tây Ninh miếu Bà Chúa Xứ đã hình thành từ Thị xã đến các huyện Hoà Thành, Châu Thành, Tân Biên, Bến Cầu. Miếu Bà Chúa Xứ ở ấp Thanh Phước, xã Thanh Điền (Châu Thành) là ngôi miếu thờ lớn nhất trong tỉnh gắn liền với truyền thống yêu nước của nhân dân Thanh Điền. Hằng năm cứ vào ngày mùng 9 và 10 tháng 3 âm lịch, lễ hội kỳ yên lại diễn ra tại dinh thờ này. Người dân nhiều nơi kéo về dự lễ hội với ước mong một năm mưa thuận gió hoà, sản xuất thuận lợi và bình yên trong cuộc sống. Trong nén hương thành kính, người dân Bình Lương còn dành trọn tấm lòng tưởng nhớ, tri ân các anh hùng, liệt sĩ đã đóng góp máu xương để làm nên truyền thống của quê hương chiến thắng Tua Hai anh hùng.

PHAN KỶ SỬU

Tục Thờ Bà Chúa Xứ Ở Cà Mau

Tuy là vùng đất mới được khai phá nhưng Cà Mau là nơi hội tụ nhiều hình thức tín ngưỡng dân gian độc đáo và phong phú, trong đó có tục thờ Bà Chúa xứ.

Tục thờ Bà Chúa xứ là hình thức tín ngưỡng dân gian phổ biến ở Nam Bộ, một số miếu thờ nổi tiếng gắn với những lễ hội truyền thống được nhiều người biết đến như: miếu Bà Chúa xứ núi Sam (Châu Ðốc), miếu Bà Chúa xứ núi Bà Ðen (Tây Ninh), miếu Bà Chúa xứ Tháp Mười (Ðồng Tháp)… Những miếu thờ này từ lâu đã trở thành địa chỉ hành hương quen thuộc của đông đảo người dân Nam Bộ. Ðây cũng là những điểm đến tham quan của khách du lịch trong và ngoài nước.

Tại Cà Mau, theo kết quả kiểm kê vào đầu năm 2024, trên toàn tỉnh còn lại hàng chục miếu thờ Bà Chúa xứ được xây dựng quy mô, trở thành nơi sinh hoạt tín ngưỡng của cộng đồng. Riêng địa bàn TP Cà Mau đã có 14 miếu thờ. Tại các huyện trong tỉnh vẫn còn một số miếu thờ dưới hình thức cộng đồng, nhiều miếu thờ đã có hàng trăm năm, gắn liền với lịch sử khai phá, dựng làng, lập ấp của cư dân địa phương.

Miếu thờ Bà Chúa xứ ở ấp Rau Dừa, xã Hưng Mỹ, huyện Cái Nước.

Theo các nhà nghiên cứu, tục thờ Bà Chúa xứ ở Nam Bộ nói chung, ở Cà Mau nói riêng có nguồn gốc từ tín ngưỡng thờ mẫu, sâu xa hơn là tín ngưỡng “cha trời – mẹ đất” cổ truyền của người Việt. Theo chân những lớp người đi khai hoang, mở cõi, hình thức tín ngưỡng này đã được các lưu dân mang theo trong tâm thức, như một “hành trang tinh thần” từ quê cha, đất tổ.

Khi vào đến dãy đất miền Trung lại được giao lưu, tiếp biến văn hoá với tín ngưỡng thờ Mẹ xứ sở (vốn là nữ thần Pô Inư Nagar) của người Chăm, quá trình “Nam tiến” lại tiếp tục diễn ra cùng với sự gặp gỡ giữa các nền văn hoá Việt – Chăm – Khmer – Hoa… Trên vùng đất mới đã làm biến đổi nhiều yếu tố gốc của tín ngưỡng thờ mẫu truyền thống.

Hệ thống miếu thờ Bà Chúa xứ thường có 2 loại, loại miếu thờ của gia đình thường được lập với quy mô nhỏ, trong sân hoặc vườn nhà để các thành viên trong gia đình thờ cúng; loại miếu thờ cộng đồng do dân cư trong xóm góp công góp của xây dựng, ban đầu có thể làm bằng cây lá, khi có điều kiện thì xây dựng bằng bê-tông, cao và rộng để người có thể đi vào sắp lễ cúng kiếng thường xuyên.

Bên trong các miếu thờ thường có tượng Bà Chúa xứ bằng bê-tông ở tư thế ngồi, đặt trang nghiêm chính giữa bệ thờ, đầu đội mão trang trí sặc sỡ, mặc áo hoàng bào hoặc áo lụa thêu rồng phụng, trên cổ đeo nhiều chuỗi hạt, hai bên có lộng che, có khi thêm đôi hạc đứng chầu. Trong khuôn viên một số miếu thờ còn có bàn thờ Thông thiên, bệ thờ thần Nông, thần Hổ…

Bài vị trong các miếu thờ Bà Chúa xứ thường được viết bằng chữ Hán với các danh xưng của Bà: “Chúa xứ nương nương”, hoặc “Chúa xứ thánh mẫu”, có khi là “Chúa xứ bổn cảnh”. Thời Nguyễn, dưới triều vua Gia Long, bà còn được sắc phong là “Linh Sơn thánh mẫu” ghi nhận sự có mặt của tín ngưỡng thờ Bà Chúa xứ trong lịch sử dân tộc. Bà Chúa xứ vừa là một “phúc thần” với chức năng phù hộ sức khoẻ, tiền tài, danh vọng, công việc… nhưng có lúc lại đóng vai một “ác thần” trong những thề thốt, nguyền rũa, trù ếm lẫn nhau của nhân gian.

Tại các miếu Bà Chúa xứ, vào các ngày rằm và mùng 1 âm lịch hằng tháng (ngày Sóc, ngày Vọng) người dân địa phương thường sắp mâm lễ đến thắp nhang khấn vái cầu bình an, sức khoẻ, việc làm ăn thuận lợi, mùa màng bội thu… Lễ cúng thường là trái cây và bánh ngọt, những gia đình có điều kiện cũng cúng lễ mặn như thịt heo, gà, vịt.

Trong sách “Văn hoá và cư dân đồng bằng sông Cửu Long”, các tác giả Nguyễn Công Bình, Lê Xuân Diệm, Mạc Ðường đã mô tả hiện tượng thờ Bà Chúa xứ phổ biến ở Nam Bộ trước năm 1990: “Ở Nam Bộ, nhà nào cũng có miếu thờ Bà Chúa xứ, đặt ở góc nhà hoặc góc vườn. Trong rừng U Minh, người dân đốn củi, lấy mật ong cũng thờ Bà Chúa xứ để cầu mong được mạnh khoẻ, tránh được sốt rét, tránh rủi ro trong nghề nghiệp…”.

Ðặc điểm chung của các miếu thờ Bà Chúa xứ ở Cà Mau là hầu hết được xây dựng dọc theo các tuyến sông rạch, thuận lợi cho người dân đi lại để thực hành tín ngưỡng. Nhiều miếu thờ được lập ở ngã ba sông, nơi xuồng ghe thường qua lại, người trong xóm có công có việc đi ngang miếu như được nhắc nhớ vào thắp nén nhang “đi thưa, về trình” với thần linh. Những miếu thờ này không chỉ dành cho người dân địa phương, mà khách thương hồ có dịp đi ngang qua muốn cầu nguyện chuyện gì cũng có thể vào khấn vái để xin Bà phù hộ.

Hoàn cảnh hình thành các miếu thờ ở các địa phương cũng khác nhau, có gia đình do đã lập miếu từ nơi khác, khi di cư đến Cà Mau thì lập lại để thờ; có người do ốm đau, bệnh tật nên người nhà khấn vái cầu xin Bà Chúa xứ phù hộ, đến khi khỏi bệnh liền lập miếu thờ; có người nằm mộng thấy bà hiện về báo điềm lành hoặc điềm dữ đối với gia đình, làng xóm, để thể hiện lòng thành kính nên lập miếu thờ để Bà phù hộ, độ trì…

Có thể nói, tục thờ Bà Chúa xứ là sản phẩm văn hoá tâm linh được hình thành qua quá trình giao lưu, tiếp biến và hội tụ của nhiều làn sóng văn hoá trên vùng đất mới. Ðây là hình thức tín ngưỡng phổ biến trong đời sống dân gian Cà Mau qua nhiều thế hệ, gắn liền với công cuộc khai phá, định cư của người Việt ở vùng đất tận cùng đất nước./.

Bài và ảnh: Huỳnh Thăng

Cập nhật thông tin chi tiết về Đđvu 17 / Tín Ngưỡng Thờ Bà Chúa Xứ / Nguyễn Thanh Lợi * trên website Apim.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!