Xu Hướng 2/2023 # Đại Đức Thích Minh Thành: ‘Có Chùa Lợi Dụng Vào Việc Dâng Sao Giải Hạn Để Ra Giá’ # Top 7 View | Apim.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Đại Đức Thích Minh Thành: ‘Có Chùa Lợi Dụng Vào Việc Dâng Sao Giải Hạn Để Ra Giá’ # Top 7 View

Bạn đang xem bài viết Đại Đức Thích Minh Thành: ‘Có Chùa Lợi Dụng Vào Việc Dâng Sao Giải Hạn Để Ra Giá’ được cập nhật mới nhất trên website Apim.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Mỗi năm đều đặn cứ sau dịp Tết Nguyên đán, nhiều ngôi chùa nổi tiếng ở Hà Nội lại tấp nập người đến cúng sao giải hạn, cầu an.

Với tâm lý lo sợ sao xấu chiếu mệnh, hàng nghìn người đội mưa, kê ghế ngồi lòng đường vái vọng vào một số ngôi chùa đã trở thành hình ảnh quen thuộc mỗi mùa dâng sao giải hạn.

Trao đổi với PV, nhà nghiên cứu văn hóa Nguyễn Ngọc Tiến cho biết, tín ngưỡng dâng sao giải hạn đã tồn tại từ lâu đời trong dân gian.

Tín ngưỡng này nằm trong nghi lễ của Lão giáo, tức là Lão tử của Trung Quốc. Hay nói cách khác, nó thuộc về Tam giáo đồng nguyên (xuất hiện từ thời Lý), theo Lão giáo nó dung nạp vào trong nhiều ngôi chùa, đồng thời, tín ngưỡng này đã đi sâu vào tiềm thức của nhiều người Việt.

Họ tin rằng, mỗi một năm có một vì sao chiếu mệnh. Cụ thể, có 9 sao, trong đó có: Thái dương, Thái âm, Mộc đức, Vân hán, Thổ tú, Thủy diệu, La hầu, Kế đô, Thái bạch. Trong 9 ngôi sao có sao tốt, sao xấu. Năm nào sao xấu chiếu mạng, con người sẽ gặp phải chuyện không may, ốm đau, bệnh tật… gọi là vận hạn. Do đó, phải thực hiện việc cúng dâng sao, giải hạn.

Theo ông Tiến, ông đã tìm kiếm các tài liệu từ trước năm 1954 miền Bắc đã có chuyện người dân đến các đền, phủ để dâng sao, giải hạn nhưng thời điểm đó, đây chỉ là một tín ngưỡng và thực hiện rất đơn giản chứ không như hiện nay.

“Người dân tin rằng, mỗi con người sinh ra thì trời an bài cho một số phận và cho năm này như thế này, năm sau như thế kia…, vì thế, mọi người đều chấp nhận.

Riêng những năm mà tử vi chỉ ra chịu sao xấu phải dâng sao giải hạn nhưng chỉ mua sắm một số thứ cần thiết, rồi làm một cái lễ nhỏ tại đền, miếu… chứ không phải làm rầm rộ, to lớn, đi hàng đoàn như hiện nay”, ông Tiến nói.

Nhà nghiên cứu này chỉ rõ, rất nhiều nhà khoa học, nhà sư đã khẳng định, dâng sao giải hạn không thể giúp xóa đi những tai ách, hạn của con người có thể gặp trong năm đó mà chỉ an ủi về tinh thần, liều thuốc ru ngủ, xoa dịu nỗi lo lắng của con người.

Tuy nhiên, theo ông, đúng là “sự lạ lùng” khi hiện nay, dân trí cao hơn, sự hiểu biết rộng lớn nhưng rất nhiều người lại đi biến một hoạt động tín ngưỡng dân gian là dâng sao, giải hạn trở thành “mê tín, cuồng tín”.

“Về cơ bản, nguyên nhân chính là do niềm tin với xã hội trong người dân giảm đi nhiều, cộng vào đó sự bất an ở xã hội ngày càng tăng lên.

Bởi không biết trông cậy vào đâu để bảo vệ, giải quyết nỗi bất an, làm cho mình an toàn nên người ta đành dựa vào dâng sao giải hạn để giải quyết nỗi lo lắng đó. Họ tin rằng, khi làm sẽ giảm, trừ bỏ, khiến cái hạn không ảnh hưởng đến cuộc sống trong năm đó.

Cũng từ đây, rất nhiều lễ to, đàn lớn với chi phí không hề nhỏ được thực hiện”, ông Tiến bày tỏ.

Một số nhà tu hành đang “lạm dụng vào cửa Phật” trong việc dâng sao giải hạn?

Nhà nghiên cứu Nguyễn Đức Tiến nhấn mạnh thêm, trước đây, việc dâng sao giải hạn thường được tổ chức ở các đền, miếu chứ không hề thực hiện ở các chùa.

Tuy nhiên, hiện nay, rất nhiều chùa từ thành phố đến làng quê, các nhà sư trụ trì đều thực hiện việc này.

“Việc tổ chức cúng dâng sao giải hạn ở các chùa là trái với giáo lý của Phật giáo. Tôi đã trực tiếp đến một số chùa và thấy, một số nhà sư trụ trì khi làm có giải thích rất rõ cho người dân là làm việc này chỉ để giúp yên tâm chứ không giải quyết, xóa bỏ được sao xấu, hạn…

Nhưng một số trụ trì khác lại lờ đi việc giải thích rõ mà chỉ lợi dụng vào nắm bắt tâm lý bất an của người dân khi có sao xấu trong năm để nhằm mục đích thương mại hóa, biến thành thương vụ làm ăn… Đây là điều hoàn toàn sai trái”, ông Tiến chia sẻ.

Ông cũng dẫn thêm ví dụ, về việc một ngôi chùa có tiếng ở Hà Nội đã thu mỗi người đến dâng sao từ 200.000 – 300.000 đồng để làm lễ dâng sao, nhưng khi cúng, nhiều người dân dù đã nộp tiền đầy đủ lại không thấy tên của gia đình được xướng lên.

“Nguyên nhân về sau được xác định là do nhà chùa nhận quá nhiều người đến dâng sao dẫn đến bị thiếu, sót không ít tên các gia đình. Như vậy, rõ ràng mất tiền rồi nhưng cũng chẳng được gì cả”, ông Tiến bày tỏ.

Đại đức Thích Minh Thành (trụ trì chùa Linh Quang, thôn Chương Nghĩa, Nghĩa Châu, Nghĩa Hưng, Nam Định) nhìn nhận, thực chất dâng sao giải hạn trong giáo lý nhà Phật không có.

Nhưng với tâm từ bi của tăng ni thời xưa đã chuyển hóa đưa lễ này vào chùa với mong muốn người dân biết về kính lễ Phật, được nghe giảng giải, bỏ điều xấu, ác, năng làm việc thiện và không làm các khóa lễ lớn, tốn kém bên ngoài.

“Lễ cúng dâng sao giải hạn hay cầu an ở chùa làm đúng thường tùy hỷ của Phật tử tức, ai góp bao nhiêu tiền, vật phẩm thì tùy tâm chứ nhà chùa không bắt buộc phải đóng thế này, thế kia.

Sau khi Phật tử tùy tâm đóng góp, nhà chùa sẽ dùng tiền đó mua các con vật để phóng sinh và mua hoa, quả, bánh kẹo dâng Tam bảo, làm cơm chay để mời bà con hưởng lộc sau lễ cúng.

Lễ cúng thực hiện đơn giản nhưng quan trọng hơn là sau đó, cần giảng giải cho Phật tử hiểu về nhân quả, về những đạo lý, chân lý. Từ đó để họ tránh xa những điều xấu, đừng có mê tín, mù mờ mà hãy chăm làm việc thiện đức, theo chánh tín để tìm đường thoát khổ”, Đại đức Thích Minh Thành nói.

Tuy nhiên, theo Đại đức Thích Minh Thành, thực tế, một số nhà tu hành ở không ít chùa lại không thực hiện theo cách trên mà đang “lạm dụng vào cửa Phật” trong việc dâng sao giải hạn.

“Tôi biết có chùa lợi dụng vào việc dâng sao giải hạn này để ra giá, mỗi người tùy theo sao xấu phải nộp từ 200.000 – 300.000 đồng, gia đình mà 5 người nộp 1 – 1,5 triệu…

Chưa kể, có chùa còn bày ra, khi dâng sao giải hạn, mỗi người phải có 12 quả trứng và sau lễ, họ gom lại hàng nghìn quả trứng đế bán cho các đại lý, nhà hàng. Hay khi cắt sao giải hạn thay vì 36 đồng tiền xu lại dùng 36 đồng tiền giấy với mệnh giá 10, 20, thậm chí 50.000 đồng.

Việc này rõ ràng là có những chùa đang lạm dụng vào đức tin của người dân và làm khổ cho người dân”, Đại đức Minh Thành bày tỏ.

Nhà sư này nêu rõ, nhân dân, Phật tử là những người thân bằng, quyến thuộc, cả đời kính Phật, mang cơm, gạo đến cúng dường cho các quý thầy ăn, tu hành nhưng một số sư lại không hiểu.

“Mình sống trên miếng cơm, manh áo của nhân dân, Phật tử nhưng lại đi tạo ra những đau khổ cho họ thì thực sự tôi rất đau lòng”, Đại đức Thích Minh Thành nói thêm.

Đại Đức Thích Trúc Thái Minh Hướng Dẫn Cách Cúng Tất Niên, Cúng Ông Công Ông Táo Đúng Phật Pháp

Quý Phật tử kết hợp cả khấn cúng Tất niên, ông Công ông Táo hoặc cúng riêng hai lễ (Ông Táo, Tất niên). Có hai cách khấn cúng, một là dành cho trường hợp cúng lễ nhưng không có thời gian tụng kinh; cách cúng thứ hai dành cho trường hợp cúng lễ, có thời gian tụng kinh.

Đồ lễ và cách sắp lễ cúng Tất niên, cúng ông Công ông Táo

Bàn thờ Phật.

Đồ lễ gồm hương, hoa, nước trà, quả, thực.

– Hương: Các loại hương đốt có hương thơm.

– Hoa: Các loài hoa có hương thơm (không kiêng về tên hoa và số lượng)

– Trà: Nước trà toả hương của sáu vị là đắng, cay, chua, chát, mặn, ngọt là sáu vị nuôi sống tất cả chúng sinh.

– Quả: Số lượng tuỳ ý không kiêng kị 2 quả hay 4 quả. Nên cúng quả đã chín vì có hương từ vị để hương linh thọ hưởng, quả xanh chưa có hương thơm của vị (tránh tình trạng biến ban thờ thành chỗ cất đồ)

– Thực: Hiến cúng Phật bày lễ một bát cơm và một cốc nước. Hiến cúng Chư Thiên, Chư Thần bày lễ một bát cơm và một cốc nước chè. Hiến cúng gia tiên có cơm chay, không cần nhiều món chỉ cần đơn giản cơm, rau, đậu, lạc, canh rau.

Mâm cơm chay cúng gia tiên và các Hương linh có duyên của gia đình (có thể thêm bát canh).

Lễ cúng chúng sinh.

1. Nghi Lễ Không Tụng Kinh

(Cắm hương chắp tay đọc) LỄ TÁN PHẬT

Đại Từ đại bi thương chúng sinh,

Đại hỷ đại xả cứu hàm thức,

Tướng đẹp sáng ngời tựa trang nghiêm.

Chúng con chí tâm thành đảnh lễ.

Chí tâm đảnh lễ: Tất cả Chư Phật ba đời, tột hư không khắp pháp giới (1 lễ).

Chí tâm đảnh lễ: Tất cả Chính Pháp ba đời, tột hư không khắp pháp giới (1 lễ).

Chí tâm đảnh lễ: Tất cả Tăng bậc Hiền Thánh ba đời, tột hư không khắp pháp giới (1 lễ).

Đệ tử con tên là: ……… Pháp danh: ……… Hiện đang ở tại: ………

Hôm nay nhân ngày 23 tháng chạp năm ……… là phong tục tập quán của dân tộc Việt Nam hướng tới các Chư vị Thần linh, với quan niệm các vị Thần linh một năm qua đã trợ giúp cho các công việc thiện lành trong gia đình. Chúng con cũng theo phong tục này mà tu hành để tăng trưởng tâm kính trọng và biết ơn.

( Nếu cúng tất niên thì đọc tiếp: Gia đình chúng con, xin kết hợp cúng lễ tất niên)

Hôm nay gia đình chúng con thành tâm sắm sửa vật thực, dâng lên cúng dường:

Thượng: Chúng con xin dâng lên cúng dường thập phương Chư Phật

Trung: Chúng con xin cúng phụng Chư Bồ Tát, Chư Hiền Thánh Tăng

Hạ: Chúng con xin cúng dường cho Chư Thiên, Chư Thần, Chư vị Linh thần, Thổ địa tại nơi đây.

Sau: Chúng con xin được nương oai lực Phật, chúng con xin thỉnh mời và hiến cúng cho tất cả các Hương linh Gia tiên họ: … các hương linh (đọc tên)……., các hương linh thai nhi của…. hương linh trên đất ở của gia đình và cùng các hương linh có duyên với gia đình chúng con.Nguyện cho các hương linh, được nương sự bố thí, trong đàn lễ hiến cúng này, mà được thọ thực no đủ.

(Đọc Biến thủy, Biến thực)

Chú biến thực: Nam mô tát phạ đá tha, nga đá phả rô chỉ đế, ám tam bạt ra, tam bạt ra hồng (7 lần).

Chú biến thủy: Nam mô tô rô bà ra, đát tha nga đá ra, đát điệt tha, án tô rô tô rô, bát ra tô rô, bát ra tô rô sa bà ha (7 lần).

Phổ cúng dường: Án nga nga nẵng tam bà phạ phiệt nhật ra hồng (7 lần).

(Nếu Phát tâm cúng dường Tam Bảo về chùa thì đọc tiếp, nếu không cúng dường thì không đọc)

Nhân duyên ngày này, chúng con xin thực hành pháp cúng dường Tam Bảo, hộ trì Tam Bảo, hộ độ cho Tăng chúng tu hành tại chùa…… ( nếu tại Chùa Ba Vàng thì đọc: Chùa Ba Vàng, Phường Quang Trung, Tp Uông Bí, Tỉnh Quảng Ninh), với tâm nguyện cho Chư Tăng được tứ sự như ý, phù hợp với việc tu tập.

Chúng con mong muốn cho gia tiên tiền tổ, các hương linh mà chúng con đã thỉnh mời, sớm được siêu thoát khỏi cảnh khổ, trong cõi hương linh ngạ quỷ, nên chúng con thành tâm cúng dường Tam Bảo với số tịnh tài (tiền) là: …… để hồi hướng phúc báu đến cho các hương linh.

Nhân ngày lễ cúng hướng tâm tới Chư Thiên, Chư Thần linh, chúng con thành tâm cúng dường Tam Bảo với số tịnh tài (tiền) là: …… để hồi hướng phúc báu đến cho các vị Chư Thiên, Chư Thần, Chư Thần linh, nguyện cho các vị được tăng phúc, luôn giúp cho chúng con làm mọi sự tốt lành.

Chúng con cũng nguyện cầu cho tất cả các chúng Chư Thiên, Chư Thần, Thần linh, gia tiên tiền tổ, hương linh ngạ quỷ mà chúng con hướng tâm cúng dường hồi hướng, được kết duyên pháp lữ trong Pháp Bố thí mà Chư Phật dạy cho chúng con, để đời đời kiếp kiếp cùng nhau tu hành, trợ duyên cho nhau tu hành cho tới ngày thành Phật.)

TAM TỰ QUY Y

Tự quy y Phật, xin nguyện chúng sinh hiểu rõ đạo lớn, phát tâm Bồ Đề (1 lễ).

Tự quy y Pháp, xin nguyện chúng sinh vào sâu kinh tạng, trí tuệ như biển (1 lễ).

Tự quy y Tăng, xin nguyện chúng sinh thống lý đại chúng, hết thảy không ngại (1 lễ).

HỒI HƯỚNG

Nguyện đem công đức này

Hướng về khắp tất cả

Đệ tử và chúng sinh

Đều trọn thành Phật đạo.

HƯỚNG DẪN NGHI THỨC THẢ PHÓNG SINH 1. Hướng Dẫn:

Mua con vật phóng sinh ngay, hoặc mang về nhà khấn ở nhà, khi mang thả phóng sinh cũng làm chung cách này.Để con vật dưới đất, phía trước mặt, không cần thắp hương. Chắp tay hướng lên hư không khấn bạch.

2. Văn Khấn:

Nam Mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni! Con kính bạch chư Phật chứng minh cho con, đệ tử con tên là…. ở tại…. con một lòng tôn kính chư Phật, tôn kính giáo Pháp thoát khổ, tôn kính chư Tăng tu hành phạm hạnh, hôm nay là ngày….. tháng…. năm…. con mua mạng những chúng (kể tên loài)…. này, cứu chúng thoát khỏi sự giam cầm trói buộc, cứu chúng thoát khỏi nghiệp bị sát mạng, con xin hướng nguyện cho chúng, được tiêu trừ nghiệp chướng, sớm thoát được nghiệp làm súc sinh, sớm được tái sinh về cõi người, được như duyên lành của con, gặp được Tam Bảo, tu hành theo giáo Pháp của Phật, làm lợi ích cho mình, đem giáo Pháp của Phật, làm lợi ích cho chúng sinh. Con cũng xin hồi hướng công đức lành này, để sám hối tất cả các tội nghiệp mà con đã giam cầm trói buộc, cũng như sát mạng chúng hữu tình, tiêu trừ được quả báo bị giam cầm, bị tổn hại đến thân thể tính mạng.

Con xin hồi hướng cho gia đình chúng con, không gặp các ác duyên, để không làm các việc ác khiến bị giam cầm, khiến bị tổn hại đến thân thể và tính mạng.

Con xin hướng nguyện, đời đời kiếp kiếp, cùng với tất cả chúng (kể tên loài)…. này, sinh ra nơi đâu cũng được gặp Chính Pháp của Phật, tinh tấn tu hành cho tới ngày nữa thoát luân hồi sinh tử.

Con xin chư Phật chứng minh cho con, gia hộ cho con cùng các chúng (kể tên loài)…. đây, được như nguyện hồi hướng của con.

Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni! (3 lần) HẾT

2. Nghi Lễ Có Tụng Kinh

Đệ tử con tên là: ……… Pháp danh: ……… Hiện đang ở tại: ………

Hôm nay nhân ngày 23 tháng Chạp năm ……… là phong tục tập quán của dân tộc Việt Nam hướng tới các Chư vị Thần Linh, với quan niệm các vị Thần Linh một năm qua đã trợ giúp cho các công việc thiện lành trong gia đình. Chúng con cũng theo phong tục này, mà tu hành hiến cúng tụng kinh, để tăng trưởng tâm kính trọng và biết ơn.

(Nếu cúng tất niên thì đọc tiếp: Gia đình chúng con, xin kết hợp cúng lễ tất niên)

Chúng con xin được nương oai lực Phật, chúng con xin thỉnh mời tất cả các hương linh gia tiên họ: …, các hương linh (đọc tên)….., các hương linh thai nhi của…. hương linh trên đất ở của gia đình và cùng các hương linh có duyên với gia đình chúng con, được về đây dự pháp nghe kinh thọ tài ẩm thực hiến cúng của chúng con.

Nam Mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni! (xá)

LỄ TÁN PHẬT

Đại Từ đại bi thương chúng sinh,

Đại hỷ đại xả cứu hàm thức,

Tướng đẹp sáng ngời tựa trang nghiêm.

Chúng con chí tâm thành đảnh lễ.

Chí tâm đảnh lễ: Tất cả Chư Phật ba đời, tột hư không khắp pháp giới (1 lễ).

Chí tâm đảnh lễ: Tất cả Chính Pháp ba đời, tột hư không khắp pháp giới (1 lễ).

Chí tâm đảnh lễ: Tất cả Tăng bậc Hiền Thánh ba đời, tột hư không khắp pháp giới (1 lễ).

TÁN PHÁP

Pháp Phật sâu mầu chẳng gì hơn,

Trăm ngàn muôn kiếp khó được gặp.

Nay con nghe thấy vâng gìn giữ,

Nguyện hiểu nghĩa chân đức Thế Tôn.

Nam Mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni! (3 lần)

(Ngồi đọc kinh) BÀI KINH: NHÂN DUYÊN PHƯỚC BÁO LÀM THIÊN CHỦ

Một thời Thế Tôn trú ở Vesàli, tại Trùng Các giảng đường. Rồi Mahàli, người Licchavi đi đến đảnh lễ và bạch Thế Tôn:

Bạch Thế Tôn, Thế Tôn có biết Thiên chủ Sakka không?

Này Mahàli, ta biết Sakka và các Pháp tác thành Sakka. Chính do chấp trì các Pháp ấy, Sakka được địa vị Thiên chủ.

Này Mahàli, thuở xưa, khi thiên chủ Sakka còn là người, vị này chấp trì và thực hành bảy cấm giới túc. Thế nào là bảy cấm giới túc? Cho đến trọn đời, tôi hiếu dưỡng với cha mẹ. Cho đến trọn đời, tôi kính trọng các bậc gia trưởng. Cho đến trọn đời, tôi nói lời nhu hòa. Cho đến trọn đời, tôi không nói hai lưỡi. Cho đến trọn đời, với tâm xa lìa cấu uế và xan tham, tôi sống với tâm bố thí; hoan hỷ thí xả, nhiệt tình đáp ứng các nhu cầu, sung sướng phân phối vật bố thí. Cho đến trọn đời, tôi nói lời chân thật. Cho đến trọn đời, tôi không phẫn nộ; nếu tôi phẫn nộ, sẽ mau chóng sẽ dẹp trừ.

Nhờ chấp trì bảy cấm giới túc này, Sakka được địa vị Thiên chủ.

BÀI KINH: KHÔNG CHẾ NGỰ

Một thời, rất nhiều Tỷ-kheo trú giữa dân chúng Kosala, tại khu rừng nọ, cống cao, ngạo mạn, ồn ào, lắm miệng, lắm lời, thất niệm, không tỉnh giác, không định tĩnh, tâm tán loạn, các căn không chế ngự.

Rồi một vị thiên trú ở khu rừng ấy, vì lòng thương xót, muốn hạnh phúc, muốn cảnh giác, liền đi đến các Tỷ kheo nói lên bài kệ sau:

Xưa sống thật an lạc,

Chúng đệ tử Cù-Đàm,

Không tham tìm món ăn,

Không tham tìm chỗ trú,

Biết đời là vô thường,

Họ chấm dứt khổ đau,

Nay tự làm ác hạnh,

Như thôn trưởng trong làng,

Họ ăn, ăn ngã gục

Thèm khát vật nhà người,

Con vái chào chúng Tăng,

Đảnh lễ một vài vị,

Vất vưởng, không hướng dẫn,

Họ sống như ngạ quỷ,

Những ai sống phóng dật,

Vì họ, con nói lên,

Những ai không phóng dật,

Chân thành con đảnh lễ.

Các vị Tỷ kheo ấy được vị Thiên cảnh tỉnh, tâm hết sức xúc động.

Hôm nay gia đình chúng con thực hành pháp bố thí cúng dường, thành tâm sắm sửa vật thực, dâng lên cúng dường:

Thượng: Chúng con xin dâng lên cúng dường thập phương Chư Phật

Trung: Chúng con xin cúng phụng Chư Bồ Tát, Chư Hiền Thánh Tăng

Hạ: Chúng con xin cúng dường cho Chư Thiên, Chư Thần, Chư vị Linh thần, Thổ địa tại nơi đây.

Sau: Chúng con xin được nương oai lực Phật, chúng con xin thỉnh mời và hiến cúng cho tất cả các Hương linh Gia tiên họ: …, các hương linh (đọc tên)……, các hương linh thai nhi của…., hương linh trên đất ở của gia đình và cùng các hương linh có duyên với gia đình chúng con.

Nguyện cho các Hương linh, được nương sự bố thí, trong đàn lễ hiến cúng này, mà được thọ thực no đủ.

(Đọc Biến thủy, Biến thực)

Chú biến thực: Nam mô tát phạ đát tha, nga đá phả rô chỉ đế, ám tam bạt ra, tam bạt ra hồng (7 lần)

Chú biến thủy: Nam mô tô rô bà ra, đát tha nga đá ra, đát điệt tha, án tô rô tô rô, bát ra tô rô, bát ra tô rô sa bà ha (7 lần)

Phổ cúng dường: Án nga nga nẵng tam bà phạ phiệt nhật ra hồng (7 lần)

(Nếu Phát tâm cúng dường Tam Bảo về chùa thì đọc tiếp, nếu không cúng dường thì không đọc:

Nhân duyên ngày này, chúng con xin thực hành pháp cúng dường Tam Bảo, hộ trì Tam Bảo, hộ độ cho Tăng chúng tu hành tại chùa…… (nếu tại Chùa Ba Vàng thì đọc: Chùa Ba Vàng, Phường Quang Trung, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh), với tâm nguyện cho Chư Tăng được tứ sự như ý, phù hợp với việc tu tập.

Chúng con mong muốn cho gia tiên tiền tổ, các hương linh mà chúng con đã thỉnh mời, sớm được siêu thoát khỏi cảnh khổ, trong cõi hương linh ngạ quỷ, nên chúng con thành tâm cúng dường Tam Bảo với số tịnh tài (tiền) là: …… để hồi hướng phúc báu đến cho các hương linh.

Nhân ngày lễ cúng hướng tâm tới Chư Thiên, Chư Thần Linh, chúng con thành tâm cúng dường Tam Bảo với số tịnh tài (tiền) là: …… để hồi hướng phúc báu đến cho các vị Chư Thiên, Chư Thần, Chư Thần Linh, nguyện cho các vị được tăng phúc, luôn giúp cho chúng con làm mọi sự tốt lành.

Chúng con cũng nguyện cầu cho tất cả các chúng Chư Thiên, Chư Thần, Thần Linh, gia tiên tiền tổ, hương linh ngạ quỷ mà chúng con hướng tâm cúng dường hồi hướng, được kết duyên pháp lữ trong Pháp Bố Thí mà Chư Phật dạy cho chúng con, để đời đời kiếp kiếp cùng nhau tu hành, trợ duyên cho nhau tu hành cho tới ngày thành Phật).

TAM TỰ QUY Y

Tự quy y Phật, xin nguyện chúng sinh hiểu rõ đạo lớn, phát tâm Bồ Đề (1 lễ).

Tự quy y Pháp, xin nguyện chúng sinh vào sâu kinh tạng, trí tuệ như biển (1 lễ).

Tự quy y Tăng, xin nguyện chúng sinh thống lý đại chúng, hết thảy không ngại (1 lễ).

HỒI HƯỚNG

Nguyện đem công đức này

Hướng về khắp tất cả

Đệ tử và chúng sinh

Đều trọn thành Phật đạo.

HƯỚNG DẪN NGHI THỨC THẢ PHÓNG SINH 1. Hướng Dẫn:

Mua con vật phóng sinh ngay, hoặc mang về nhà khấn ở nhà, khi mang thả phóng sinh cũng làm chung cách này.

Để con vật dưới đất, phía trước mặt, không cần thắp hương. Chắp tay hướng lên hư không khấn bạch.

2. Văn Khấn:

Nam Mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni! Con kính bạch chư Phật chứng minh cho con, đệ tử con tên là…. ở tại…. con một lòng tôn kính chư Phật, tôn kính giáo Pháp thoát khổ, tôn kính chư Tăng tu hành phạm hạnh, hôm nay là ngày….. tháng…. năm…. con mua mạng những chúng (kể tên loài)…. này, cứu chúng thoát khỏi sự giam cầm trói buộc, cứu chúng thoát khỏi nghiệp bị sát mạng, con xin hướng nguyện cho chúng, được tiêu trừ nghiệp chướng, sớm thoát được nghiệp làm súc sinh, sớm được tái sinh về cõi người, được như duyên lành của con, gặp được Tam Bảo, tu hành theo giáo Pháp của Phật, làm lợi ích cho mình, đem giáo Pháp của Phật, làm lợi ích cho chúng sinh. Con cũng xin hồi hướng công đức lành này, để sám hối tất cả các tội nghiệp mà con đã giam cầm trói buộc, cũng như sát mạng chúng hữu tình, tiêu trừ được quả báo bị giam cầm, bị tổn hại đến thân thể tính mạng. Con xin hồi hướng cho gia đình chúng con, không gặp các ác duyên, để không làm các việc ác khiến bị giam cầm, khiến bị tổn hại đến thân thể và tính mạng.

Con xin hướng nguyện, đời đời kiếp kiếp, cùng với tất cả chúng (kể tên loài)…. này, sinh ra nơi đâu cũng được gặp Chính Pháp của Phật, tinh tấn tu hành cho tới ngày nữa thoát luân hồi sinh tử.

Con xin chư Phật chứng minh cho con, gia hộ cho con cùng các chúng (kể tên loài)…. đây, được như nguyện hồi hướng của chúng tôi mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni! (3 lần)

Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni! (3 lần) HẾT

Minh Tuệ

Lược Sử Đức Phật Thích Ca Mâu Ni

Lịch sử của đức Phật từ trước đến này vốn không có sự đồng nhất. Có nơi lạm dụng văn chương hoa mỹ, có phần quá đáng. Vì vậy đối với vấn đề chân tướng của ngài ngày nay chúng ra cũng rất khó để xác định rõ về hình trạng. Nay chúng tôi chỉ lấy phần tương đối thuật lại đôi nét cơ bản cuộc đời của đức Phật.

Ngày Phật Đản hay ngày Giáng sinh của đức Phật, tiếng Pali gọi là Vesak. Vesak là tên của một tháng, thường trùng vào tháng Năm Dương lịch. Vesak cũng là tên của một ngày có ý nghĩa trọng đại nhất đối với hàng phật tử khắp thế giới. Đức Phật sinh vào ngày trăng tròn tháng Vesak, vào buổi sáng, trong thành Kapilavastu (Ca-ty-la-vệ) gần biên thùy giữa đông bắc Ấn Độ và Népal. Đó là Thái tử Siddatha Gotama. Cha của ngài là Hoàng đế Tịnh Phạn (Cuddhodana) họ Cù Đàm (Gotama) và mẹ của Ngài là Hoàng hậu Ma Gia (Mayadevi) Ngài tên là Siddhartha Gotama.

Mẹ của ngài, là hoàng hậu Ma Da, trong một kiếp quá khứ khi còn là một thiên nữ ở cung trời Đâu Suất, đã cầu nguyện tha thiết rằng: “sau này bà sẽ được tái sinh nơi cõi người và trở thành người mẹ sinh hạ ra một vị Phật”.

Hoàng hậu Ma Da là người mẹ vĩ đại nhất với lời nguyện cầu tha thiết trong tiền kiếp đã sinh ra thái tử Tất Đạt Đa. Bà là người phụ nữ cao quý nhất đã có công sinh ra một bậc vĩ nhân kiệt xuất của nhân loại, để chúng ta có được đạo Phật mà nương theo, có được Chính pháp mà tu tập, hướng đến sự giác ngộ và giải thoát ra khỏi luân hồi sinh tử.

Trong dòng tộc Thích Ca, vua Tịnh Phạn là người đứng đầu gia tộc và cũng là người đứng đầu trị vì đất nước, nơi ấy ngày xưa gọi là nước Ca Tỳ La Vệ thuộc phía Nam. Vua Tịnh Phạn kết hôn cùng với công chúa Ma Da là người em gái của Vua Thiện Giác dòng tộc Câu Lợi ở phương bắc. Hoàng hậu Ma Da là bậc mẫu nghi của nước Ca Tỳ La Vệ, dung mạo tuy không phải là tuyệt thế, nhưng tâm hồn bà trong sáng như hoa sen. Bản thân hoàng hậu cũng thường làm việc bố thí và cứu giúp những người nghèo khổ ở khắp nơi, khiến cho người dân trong nước ai ai cũng đều mến phục đức hạnh của bà.

Từ khi kết hôn cùng với vua Tịnh Phạn đã trải qua hơn hai mươi năm vẫn chưa có thái tử để nối ngôi. Vì thế hoàng hậu thường khuyên vua Tịnh Phạn làm nhiều điều hiền thiện, tạo phúc cho dân. Thế rồi, cho đến vào một đêm vắng lặng, lúc thiếp đi, trong một giấc mơ, bà thấy có con voi trắng sáu ngà từ không trung bay đến, đi vào hông bên phải của bà. Hoàng hậu giật mình tỉnh giấc, kể lại giấc mộng. Các quan đại thần đều đoán rằng đây là điềm lành, chắc chắn hoàng tộc sắp có tin vui. Quả nhiên, từ đó hoàng hậu mang thai Thái tử. Vua Tịnh Phạn rất vui mừng cùng thần dân mơ tiệc ăn mừng.

Hoàng hậu mang thai đã được mười tháng, sắp đến ngày hạ sinh, bà xin phép vua cho Hoàng hậu về nhà mẹ đẻ để hạ sinh theo đúng phong tục thời bấy giờ. Vua Tịnh Phạn đã đích thân dẫn đoàn tùy tùng đi hộ tống Hoàng hậu về quê hương. Hôm đó là ngày trăng tròn theo lịch Ấn Độ, gió tháng Tư hiu hiu thổi, khí trời ấm áp. Khi đoàn người đi ngang qua vườn Lâm Tỳ Ni tại vươn quốc Ca Tỳ La Vệ, ngày nay thuộc nước Nepal (thuộc thành kapilavastu) cảnh vật nơi đây rất tuyệt đẹp, mọi người ai cũng thấy dễ chịu. Hoàng hậu cho dừng kiệu để vào vườn nghỉ ngơi một chút. Lúc này là mùa xuân, hạ giao mùa, trong vườn Lâm Tỳ Ni hoa đang nở rộ, muôn chim đua hót. Hoàng hậu ngồi cạnh hồ nước chiêm ngưỡng cảnh vật thiên nhiên, rồi bà đứng dậy dạo quanh vườn hoa, đến cây hoa vô ưu có cành lá sum suê nở rộ. Hoàng hậu đưa tay lên định ngắt lấy một nhành hoa, bỗng ngay lúc ấy Thái tử chào đời. Lúc ấy nhằm ngày mồng 8 tháng 4 (ÂL).

Ngay sau đó có một cơn mưa nhẹ sau đó đã gội rửa cho cả người mẹ và hoàng tử. Cùng ngày đó, bảy sinh mệnh khác cũng được xuất sinh, lần lượt là cây bồ đề, công chúa Da Du Đà La (Yashodhara), con ngựa Kiền Trắc (Kantaka), người đánh xe ngựa Sa Nặc (Channa), con voi Kaludayi (người bạn thời thơ ấu của hoàng tử), và bảy kho báu vô chủ.

Hoàng tử được đưa trở về kinh thành ngay đêm hôm đó. Năm ngày sau, hoàng tử được đặt tên là Tất Đạt Đa (Siddhartha), nghĩa là “người mà sẽ đạt được mục đích của mình”. Rất nhiều nhà thông thái đã đến để gặp mặt và cầu chúc cho vị hoàng tử mới sinh, trong số đó có đạo sĩ A Tư Đà, vốn là thầy dạy học cũ của nhà vua và là một người tu hành khổ hạnh đã đạt được nhiều thành tựu.

Nhà vua cảm thấy rất vinh dự bởi chuyến thăm của đạo sĩ A Tư Đà (Asita), nên cho người mang đứa trẻ đến bên vị đạo sĩ để đứa bé tỏ lòng tôn kính với ông. Ngay lập tức, đạo sĩ A Tư Đà đứng dậy và nhận ra ngay những đường nét trên cơ thể hoàng tử báo hiệu một khuynh hướng tâm linh và tôn giáo. Với năng lực siêu thường, ông nhìn thấy sự vĩ đại trong tương lai của vị hoàng tử mới sinh và chào đón với những cái siết tay thật chặt.

Nghe thấy như vậy đức Vua Tịnh Phạn vô cùng sung sướng với ý tưởng con trai mình sẽ trở thành một thủ lĩnh vĩ đại. Do đó, nhà vua vô cùng chiều chuộng con trai, để ngăn ngừa Thái tử nhìn thấy những điều khiến cậu chuyển sang khuynh hướng tôn giáo. Mọi người biết về dấu hiệu này đều biết rằng Tất Đạt Đa rất xuất chúng, đặc biệt là Tịnh Phạn Vương. Nhưng nhà vua quan sát sự trưởng thành của đứa con trai nhỏ tuổi ham hiểu biết và lo lắng về những lời tiên tri. Ông lo ngại, một ngày nào đó, Thái tử sẽ rời bỏ Hoàng cung và trở thành một nhà lãnh đạo tôn giáo, chứ không trở thành một thủ lĩnh của bộ tộc Thích Ca.

Sau khi hạ sinh được bảy ngày thì Hoàng hậu Ma Da qua đời, để lại vị trí của bà cho người em gái tên là Kiều Đàm Di (Mahaprajapati), thay thế hoàng hậu san sóc nuôi dưỡng hoàng tử với sự yêu thương, chăm sóc hết mực. Tuy tuổi còn nhỏ nhưng trí tuệ của hoàng tử đã vượt người tầm thường, tất cả các học thuyết của thế gian như: kỹ nghệ, điển tích, văn chương, thiên văn, lịch số, và các môn võ nghệ như bắn cung, đua ngựa…sức khỏe hơn người, không có bất kỳ môn nào mà hoàng tử không thông suốt, khiến mọi người đều kính nể không ai là không hàng phục. Trên từ đức vua Tịnh Phạn dưới đến dân thường, tất cả mọi người đều yêu mến và cho rằng sau này hoàng tử sẽ là người chinh phục bốn phương, thống nhất bờ cõi. Khi đó nhà vua đã cho gọi các nhà hiền triết đến để dự đoán tương lai của hoàng tử. Họ đều nói rằng hoàng tử Tất Đạt Đa sẽ quyết định theo lối tu hành khổ hạnh nếu hoàng tử nhìn thấy các dấu hiệu của sinh, lão, bệnh, tử hoặc gặp một nhà tu hành khổ hạnh.

Đến năm 19 tuổi Hoàng tử kết hôn với công chúa Da Du Đà La và hạ sinh được một người con đặt tên là La Hầu La. Tuy thân ở tại trần gian nhưng tâm hoàng tử không nhiễm dục lạc, mọi quan niệm và cảm tính đều hoàn toàn khác với thế tục. Sau những lần hoàng tử dạo chơi bốn của thành nhìn thấy cảnh tượng giữa người và vật tranh giành với nhau, tang tóc, rên rỉ, khổ đau…Hoàng tử suốt đêm không ngủ ngồi tư duy, đem lòng thương chúng sinh phát khởi mạnh mẽ, luôn nghỉ đến nỗi khổ đau của chúng sinh những nơi Ngài đi qua. Đây là động lực chính khiến Ngài phát sinh tu đạo.

II. NGÀY XUẤT GIA VÀ THÀNH ĐẠO

Ngài trưởng thành trong một cung điện xa hoa. Khi còn thơ ấu, đặc quyền đã cho phép ngài hưởng thụ mọi sự nuông chiều. Nhưng, một ngày, Ngài đã từ bỏ tất cả để có được trí tuệ tận cùng. Khi Ngài giác ngộ được rằng vạn vật là vô thường, có rồi không, thành rồi bại, có sinh có tử, có già, có bệnh. Có bao nhiêu vinh hoa, phú quý, khoái lạc vật chất dẫy đầy trước mắt chẳng qua là một bã hư vô, Ngài mới nhất định xuất gia, bỏ hẳn thế sự, để đi tìm đâu là sự thật, đâu là tịnh lạc. Sau khi quan sát và cảm thông về nổi khổ đau cùng cực của chúng sinh. Vào nửa đêm mồng 7 tháng 2 lúc mọi người an giấc nồng bốn bề yên tỉnh, hoàng tử bèn sai người giữ ngựa tên là Xa Nặc đánh ngựa kiền trắc vượt khỏi cung thành đến phía đông nước Lamma vào rạng sáng mùng 8 tháng 2, ngài đã cởi bỏ mũ báu cùng áo cẩm bào cạo bỏ râu tóc trở thành vị Sa môn. Năm ấy Ngài 29 tuổi, từ biệt ra đi đã dũ sạch nợ trần, để đi tìm một con đường giải thoát cho nhân loại.

Suốt sáu năm khổ hạnh, hy sinh, chịu đựng muôn ngàn đau khổ với một tấm lòng sắt đá, kiên trì, với một niềm tin vô biên và luôn luôn xả thân để phụng sự. Đây là cuộc đời phấn đấu mà sức phàm khó lòng chịu nổi. Ngài ngày đêm siêng năng chiến đấu ma quân nhưng chỉ nhọc nhằn không đạt được kết quả. Ngài nhận thấy pháp tu khổ hạnh chỉ là nhọc công vô ích, bèn xuống sông Ni Liên Thiền tắm gội thọ bát sữa của nàng Tu Xà Đề dâng cúng khi thọ dụng bát sữa xong sức khỏe lần hồi phục, Ngài đã thấu suốt các pháp thế gian và đã dứt trừ các pháp đó, rồi một mình thẳng tiến đến cây Tất Bát La kết tòa ngồi kiết già và phát nguyện rằng: “tôi không chứng quả vị vô thượng bồ đề thì dù có tan thân mất mạng quyết không rời khỏi chỗ này”. Sau khi phát nguyện xong Ngài nhập vào kim cang định, dùng lực kim cang tam muội chặt đứt vô minh của chi đầu tiên trong 12 nhân duyên, tức là ngài đã giải quyết xong vô minh đoạn trừ sinh tử ưu bi khổ não không còn nữa.

Vào ngày 8 tháng 12, sao mai vừa ló dạng thì Ngài đã dứt sạch sinh tử, nhập vào trạng thái an tĩnh chứng đắc quả vị Chính Đẳng, Chính Giác. Quả này là kết tinh cuối cùng của một lòng tự tin, tự lực, tự giác, chớ không phải nhờ ở một quyền lực siêu nhiên nào giúp đỡ. Ngài đã diệt được bao điều chi phối của ngoại cảnh đối với thân tâm để trở thành thanh tịnh chứng pháp, lĩnh hội rõ ràng chân tính của một sự vật: Ngài đã là Toàn Giác, thành Phật. Lúc bấy giờ Ngài 35 tuổi. Từ đó người ta gọi Ngài là đức Phật Cồ Đàm (Gotama), một vị Phật trong trường chi vô lượng Phật quá khứ và vị lai. Như vậy vị trí của đức Phật Thích Ca Mâu Ni thật là độc nhất vô nhị, ngay trong tiền kiếp của thời hiện đại của chúng ta, và ở trong thế giới mà hiện chúng ta đang sống. Từ nơi vị trí Phật độc nhất vô nhị này, trong Tăng Chi Bộ Kinh tập I trang 29 nói rõ thêm rằng:

“Một người, này các Tỳ kheo, khi xuất hiện ở đời, là xuất hiện một người không hai, không có đồng bạn, không có so sánh, không có tương tợ, không có đối phần, không có người ngang hàng, không có đặt ngang hàng, bậc tối thượng giữa các loài hai chân. Một người ấy là ai? Chính là Như Lai, bậc A La Hán, Chính Đẳng giác; một người này khi xuất hiện ở đời, là xuất hiện một người không hai, không có đồng bạn, không có so sánh, không có tương tự, không có đối phần, không có người ngang hàng, không có ngang bằng, không có đặt ngang bằng bậc Tối thắng giữa các loài hai chân”.

Trước tiên, chúng ta cần nhấn mạnh đến vị trí có một không hai của đức Phật, vị trí này cho chúng ta thấy không thể có một đức Phật thứ hai trong suốt hiền kiếp đức Phật tại thế, vị trí này còn giúp chúng ta nhận rõ những đóng góp của đức Phật Thích Ca Mâu Ni cho nhân loại, cho thế giới này thật là đặc biệt vô song, có vậy, chúng ta mới đánh giá đúng đắn sự xuất hiện rất đặc biệt của vị Bổn sư của chúng ta.

Cho nên trong Tăng Chi Bộ Kinh tập I, trang 37 ghi chép: “Sự kiện này không xảy ra, này các Tỳ kheo, không có được trong một thế giới có hai vị A La Hán Chính đẳng giác, không trước không sau, xuất hiện một lần. Sự kiện này không xảy ra. Và sự kiên này có xảy ra, này các Tỳ kheo. Trong một thế giới, chỉ có một vị A La Hán Chính đẳng giác, xuất hiện, sự kiện này có xảy ra”.

Trong kinh Hoa Nghiêm có đoạn viết: “Sau khi thành đạo ngài cảm thán nói rằng: Lạ thay! Lạ thay! Nào hay tất cả chúng sinh đều có đầy đủ đức tính trí huệ Như Lai, bởi do ngu si mê hoặc mà không thấy không biết… Ta nay sẽ đem thánh đạo giáo hóa khiến cho chúng sinh dứt hẳn vọng tưởng, một khi vọng tưởng dứt trừ tất sẽ chứng được vô lượng trí tuệ của Như Lai.”

Như vậy thì lễ Vesak không những là kỷ niệm ngày Giáng sinh mà cũng là ngày đắc đạo của đức Phật. Khi đã được hoàn toàn sáng suốt và đắc quả Chính Đảng, Chính Giác rồi, Ngài gia tâm đi hoằng hoá pháp mầu để rọi sáng dẫn dắt kẻ khác. Được hoàn toàn giải thoát, Ngài gia tâm giải thoát chúng sinh bằng một lối đường Trung Đạo.”Mở rộng cửa chân lý cho những ai muốn tìm chân lý; rót thẳng niềm tin tưởng vào tai những ai muốn tìm niềm tin tưởng.” Đó là câu bất hủ mà ngài đã thốt lên lần đầu tiên, khi bắt đầu xứ mạng hoằng dương đạo pháp của Ngài.

Sau khi thành đạo, ngài liền đi đến vườn lọc uyển xứ Ba La Nai tìm các vị đồng tu với ngài trước đây để thuyết pháp. Đức Phật vì năm anh em Kiều Trần Như (1- Kiều Trần Như; 2- Kiều Trần Na; 3- Kiều Trần Nhi; 4- Kiều Trần Thi; 5- Kiều Trần Nga) nói bài pháp đầu tiên là Tứ Diệu Đế. Ngài dạy người xuất gia có hai thứ chướng ngại là sinh tâm đắm trước cảnh dục lạc không vượt thoát đó là nguyên nhân không thể giải thoát, và không suy nghỉ chín chắn cội nguồn khổ đau của bản để cầu giải thoát, cho nên không thể đạt được sự giải thoát. Vì vậy người xuất gia cần phải xa lìa hai món chấp trước đó mới là trung đạo, rồi siêng năng tu tập có thể đạt đến đạo quả Niết bàn. Năm vị này đều được khai ngộ, và trở thành năm vị đầu tiên của Phật. Đây là móc son lịch sử khởi đầu cho công cuộc hoằng dương chính pháp của ngài và cho mãi về sau những đệ tử chân chính của ngài luôn ghi nhớ bài pháp này và cũng là nền tảng cho hệ thống giáo lý của đức Phật. Trong Tương Ưng bộ kinh V, chương 12, phẩm II, kinh chuyển pháp luân, trang 611… “Sau khi nghe đức Phật thuyết pháp Tứ diệu đế, thành kiến me lầm tan vỡ, trí tuệ siêu thoát xuất hiện, năm vị này được giác ngộ, chứng nhập quả vị A La Hán. Đó là năm vị đầu tiên của đức Phật thích Ca.” Như vậy Tam bảo được hình thành từ đây. Phật bảo là đức Phật thích Ca; Pháp bảo là bài pháp Tứ Diệu Đế; Tăng bảo là năm anh em Kiều Trần Như.

Vậy chúng ta có thể nói rằng Tăng đoàn Phật giáo đã được thành lập ngay vào năm thứ nhất kể từ lúc đức Phật chứng đạo. Sau đó, Ngài tiếp tục hóa độ và thâu nhiếp tôn giả Yasa cùng 54 người khác gia nhập Tăng đoàn tại thành phố Ba La Nại. Khi Tăng đoàn lên đến 60 vị, đều là A La Hán, đức Phật khuyên họ chia nhau đi khắp nơi để hoằng pháp lợi sinh. Đây là hạt giống đầu tiên hết sức nhỏ bé mà Ngài đã gieo, để rồi về sau này nở muôn ngàn bốn phương: Là Giáo hội Tăng già. Đó cũng chính là giai đoạn Ngài khai sinh và xây dựng Tăng đoàn, từng người một, từng ngày một, để đặt nền móng nhưng đồng thời cũng thiết kế và hoàn thiện một công cụ thiện xảo với chức năng, thay Ngài sau này, duy trì bánh xe Chính pháp được quay đều, và quay bền vững, trong không gian vô tận và thời gian vô cùng.

Trải qua 45 năm, đức Phật đã đi khắp xứ Ấn Độ rộng lớn bao la, hết nước này đến nước khác. Hễ chỗ nào có chân Ngài giẫm đến là ánh đạo vàng bừng tỏa huy hoàng.

Mỗi ngày Ngài theo một thời dụng biểu, một chương trình nhất định, không bao giờ xao lãng, giải đãi, từ khi trẻ cho đến già, từ mùa mưa cho đến mùa nắng. Trong năm có mười hai tháng, thì hết tám tháng Ngài giãi dầu phong sương khắp chốn, không quản gì thân. Ngài tế độ chúng sanh như vậy suốt bốn mươi lăm năm trường.

Một hôm, khi cảm thấy sức đã kiệt, ngày lâm chung sắp đến, Ngài gọi tất cả đệ tử về và nói rằng: “Kiếp sống thật là ngắn ngủi; Thầy nay tuổi đã già. Thầy sắp xa lìa các con! Từ lâu vẫn nương tựa nơi Thầy. Các con hãy cố gắng chuyên cần tinh tấn, hãy kỹ càng thận trọng và luôn luôn giữ một lòng đạo đức cao cả, với những tư tưởng trong sạch siêu mẫn, các con hãy giữ gìn bản tâm cho chu đáo. Nhờ tôn chỉ và kỷ luật này, với một đời sống tích cực hoạt động đạo đức, các con sẽ được thoát khỏi vòng sinh tử, tử sinh và chấm dứt được phiền não, đau khổ. Vạn vật cấu tạo là vô thường. Các con hãy cố gắng lên !.

Năm ấy đức Phật thọ 80 tuổi. Ngài trở về Kusinara, là một làng nhỏ bé xa xôi, nơi đây êm ái và an tịnh. Ngài tịch diệt, thân nằm giữa hai cây long thọ (Sala), hôm ấy đúng ngày Rằm vào tháng Vesak. Như thế Vesak là ngày kỷ niệm gồm ba: Giáng sinh, Thành Đạo, và Tịch Diệt (Niết bàn) của đức Phật. Ngày nay phật tử khắp hoàn cầu cử hành cuộc lễ gồm ba phần đã nêu ở trên với một niềm tin tuyệt vời và một đạo tâm chơn thành.

Để kỷ niệm ngày đức Phật giáng trần và cũng là ngày đắc Đạo sau sáu năm khổ hạnh và 49 ngày tịnh toạ trên mớ cỏ khô dưới cội Bồ Đề tại Bồ Đề Đạo Tràng (Buddagaya). Hàng năm cứ gần đến ngày Rằm tháng Tư Âm lịch là toàn thể các tín đồ Phật giáo thuộc các giáo hội trên khắp thế giới nao nức tổ chức kỷ niệm ngày Đản sinh. Tại Việt Nam các chùa, viện thuộc Bắc tông, Nam tông hay Đại thừa và Tiểu thừa, Mật tông, hay Thiền tông đều tổ chức trọng thể và trang nghiêm. Để nhắc nhở người con Phật ôn lại những lời vàng ngọc răn dạy tinh hoa của đức Thế Tôn, làm kim chỉ nam cho đời sống hiện tại cho mỗi người trên trần gian này. Đây là thông điệp của đức Phật đi vào cuộc đời, làm cho con người hiểu được bản chất của kiếp sống là vô thường, là đau khổ, từ đó thúc giục con người sớm theo lời dạy của Ngài tu hành để được giác ngộ và giải thoát.

Thích Thiện Hạnh

Sự kiện nổi bật

Tìm kiếm

Bài Khấn Nguyện Ngày Lễ Đức Phật Thích Ca Đản Sanh

Kính lạy Đức Thế Tôn: nhân loại chúng con đang hướng về ngài với lòng thành kính và niềm tri ân vô hạn. Ánh sáng chánh pháp của Ngài đã hướng chúng con biết trở về đúng hướng, đã soi sáng tâm hồn chúng con trên mọi nẻo đường tăm tối khổ đau.

NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT

Tình thương mà Ngài đã đánh thức chúng con trên mọi nẻo tăm tối khổ đau. Tình thương mà Ngài đã đánh thức chúng con thật cần thiết để giữ yên cho thế giới khỏi biến thành biển lửa chiến tranh thù hận. Kính lạy Đức Thế Tôn: đã đến lúc ánh sáng của ngọn đèn chánh pháp phải được vận dụng một cách trịnh trọng để xua tan bóng đêm tà kiến đang bao phủ nhân loại. Đã đến lúc tiếng chuông từ bi phải được lắng nghe một cách tha thiết để mọi trái tim cùng nhịp đập yêu thương,xây dựng tình người để thế giới mãi xanh màu hạnh phúc. Kính lạy Đức Thế Tôn: sức mạnh mà ngài đã khơi dậy trong chúng con thật có hiệu lực và hiệu lực mãi trước một thế giới quá nhiều bạo động và mâu thuẫn. Từ trong đại bi tâm Ngài xuất hiện như một sứ giả hòa bình,mang thông điệp tình thương đến cho cuộc đời thông qua con đường hóa giải. sức mạnh nội tâm đã giúp chúng con vượt qua mọi thử thách để tự chủ. Những lời dạy của Ngài thật thiết thực và hữu ích đã có giá trị suốt 2641 năm và sẽ còn giá trị mãi mãi. “Hận thù không dập tắt được hận thù, chỉ có tình thương mới dập tắt được hận thù” ” Chiến thắng ngàn quân giữa bãi chiến trường chưa gọi là thắng. Tự chiến thắng mình mới là chiến công oanh liệt nhất.” ” chính ngươi là hải đảo vững chắc cho tự thân ngươi. Không một người nào khác,không một nơi nào khác là nơi nương tựa. Hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi.” Kính lạy Đức Thế Tôn: Nhân mùa đản sanh của Ngài,chúng con thành kính hái đóa Vô Ưu thanh khiết dâng lên cúng dường dường bậc vô thượng giác, Đấng Thiên Nhơn Sư như là tặng phẩm cao quý nhất xin dâng tặng cho cuộc đời với cầu nguyện chân thành tha thiết:” Mong cho cuộc đời mãi mãi được an vui, hạnh phúc. Người người gặp nhau nhìn nhau với tất cả tấm lòng thương yêu trọn vẹn.

Xin cho khói trầm thơm, kết thành mây năm sắc, dâng lên khắp mười phương, cúng dường vô lượng Phật, vô lượng chư Bồ-tát, cùng các thánh hiền tăng, trên pháp giới dung thông, kết đài sen rực rỡ, nguyện làm kẻ đồng hành, trên con đường giác ngộ, xin mọi loài chúng sanh, từ bỏ cõi lãng quên, theo đường giới định tuê, quay về trong tĩnh thức.

Ngân Ngân / Phật học đời sống

Cập nhật thông tin chi tiết về Đại Đức Thích Minh Thành: ‘Có Chùa Lợi Dụng Vào Việc Dâng Sao Giải Hạn Để Ra Giá’ trên website Apim.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!