Xu Hướng 3/2024 # Công Đức Dâng Hoa Cúng Dường Phật # Top 11 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Công Đức Dâng Hoa Cúng Dường Phật được cập nhật mới nhất tháng 3 năm 2024 trên website Apim.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Phật Thích Ca Mâu Ni đang thuyết pháp tại núi Linh Thứu, Đại Phạm Thiên Vương dâng lên cành hoa Kim Sắc Ba La Mật, Phật liền nâng cành hoa lên để thị ý đại chúng, đại chúng đều ngơ ngác, chỉ có Ngài Ma Ha Ca Diếp “Phá nhan vi tiếu – mĩm miệng cười”. Ngài nói: “Đây là pháp môn không lập văn tự, truyền ngoài giáo điển, hiện tại giao cho Ma Ha Ca Diếp”. Nhân thế mà Thiền Tông tôn Ngài Ma Ha Ca Diếp làm Sơ Tổ. Thành ngữ “Phá nhan vi tiếu – miệng mỉm cười” nầy cũng nói rỏ việc dâng hoa cúng Phật, đã có từ thời Ngài còn tại thế.

Hoa dùng để cúng dường chư Phật Bồ Tát là chỉ cho các loại hoa thực vật, tiếng Phạn dịch là “Bổ Thệ Ba”, kinh Phật thường gọi là “Hoa”. Phật giáo Ấn Độ, hoa cúng dường là một trong sáu món dùng để dâng cúng Phật Bồ Tát, các món cúng dường nầy đều có sự biểu trưng.

Theo Du Già Diệm Khẩu (Bản khắc gỗ tại chùa Dũng Tuyền, Cổ Sơn):

– Hoa tiêu biểu cho bố thí, vì bố thí thì khiến người sanh hoan hỷ.

– Hương tiêu biểu cho trì giới, vì trì giới thì hạnh nghiệp thơm lừng.

– Đèn tiêu biểu cho nhẫn nhục, vì nhẫn nhục thì chuyển lửa sân hận thành ánh sáng lớn (đại quang minh).

– Đồ (Nước) là tiêu biểu cho tinh tấn, vì tinh tấn thì sẽ đượm nhuần pháp thân.

– Quả tiêu biểu cho thiền định, vì thiền định thì hay thành tựu được quả vị Phật.

– Nhạc tiêu biểu cho trí tuệ, vì trí tuệ thì hay sanh ra các pháp.

Đem hoa dâng lên chư Phật Bồ Tát còn gọi là hiến hoa, đem hoa rãi lên Phật đài, đạo tràng,… gọi là tán hoa.

Trong kinh điển Phật giáo thường đề cập đến hoa báu từ trên trời rơi xuống như phẩm Thí Dụ kinh Pháp Hoa: “Nếu lúc muốn đi thì có hoa báu đỡ chân”. Hoa báu là chỉ cho các loại trân bảo hợp thành.

– Hoa cúng: Hao là một trong sáu loại cúng dường trong Phật giáo. Tập tục Ấn Độ truyền thống khi xưa thường dùng vòng hoa, rải hoa để cúng dường Phật. Vòng hoa là dùng chỉ kết lại thành, rồi đem đeo lên trên cổ của Thánh tượng để trang sức cúng dường. Tỳ-kheo không được dùng hoa để trang sức trên thân, chỉ được treo trong thất, hoặc dùng để cúng dường Phật. Kinh Phật chép: Ở trước Phật khen ngợi, thường có trời người rải hoa năm màu để cúng dường Phật.

Kinh Vô Lượng Thọ chép: “Tất cả chư Thiên, đều dâng trăm ngàn hoa hương ở cõi trời, muôn thứ kỹ nhạc để cúng dường Đức Phật”.

Kinh Pháp Hoa chép: “Có đến 10 thứ cúng dường. Lại đem hoa để ở đầu tiên, nhân vì hoa rất thơm, đẹp dùng để trang nghiêm”.

Cho nên đem hương thơm thanh khiết của hoa dâng lên trang nghiêm cúng dường Phật. Ngoài ra, hoa còn là một biểu pháp, nhân vì những khí vật trong nhà Phật đều có hàm ý tiêu biểu. Trước Phật cúng hoa tiêu biểu cho nhân, sau khi hoa nở thì kết trái, hoa tiêu biểu cho 6 độ muôn hạnh. Hoa tiêu biểu cho thiền định, đem công đức tu thiền định để cúng dường Phật. Tất cả công đức đều là từ trong thiền định mà khơi mở, chỉ có công đức thiền định mới hay đoạn trừ phiền não, sạch hết sanh tử, cuối cùng chứng được quả Phật. Đem hoa cúng Phật sẽ được nhiều công đức phước báu thù thắng.

Soạn Tập Bách Dụ Kinh chép: “Có một người hái hoa, gom những bông hoa lại rồi kết thành tràng hoa cúng dường tháp Phật, sau khi chết đi được phước báu sanh về cõi trời”.

Kinh Phật Vị Thủ Ca Trưởng Giả Thuyết Nghiệp Báo Sai Biệt Kinh chép: “Đâng hoa cúng Phật được 10 thứ công đức:

1. Ở thế gian thường tốt đẹp như hoa.

2. Trên thân không có mùi hôi dơ.

3. Phước đức và giới hạnh lan tỏa khắp nơi.

4. Sanh ở chỗ nào lỗ mũi không hư hoại hay phân biệt được mùi của các loài hương.

5. Ở thế gian mà vượt hơn thế gian được mọi người kính ngưỡng.

6. Thân thường giữ được mùi hương thơm sạch.

7. Ưa thích nghe chánh pháp, thọ trì đọc tụng.

8. Có phước báu rộng lớn.

9. Mạng chung sanh về cõi trời.

10. Mau chứng được đạo Niết Bàn.

Hoa cúng dường Phật trong kinh điển ghi rằng: Thường thấy có hoa Ưu Bát La (hoa sen xanh), Bát đầu Đặc Ma Hoa (hoa sen hồng), Câu Vật Đầu Hoa (hoa sen trắng), Phân Đà Lợi Hoa (hoa sen trắng lớn) có 4 loại như thế. Hoặc Mạn Đà La Hoa, Ma Ha Mạn Đà La Hoa, Mạn Thù Sa và Ma Ha Mạn Thù Sa hoa, có 4 loại như thế.

Theo kinh Vô Lượng Thọ chép: “Bốn loại hoa trước được trang nghiêm ở cõi Cực Lạc”.

Theo kinh Pháp Hoa chép: “Bốn loại hoa sau từ trên cõi trời rơi xuống, là thứ 3 trong sáu tướng lành. dùng hao cúng Phật trong kinh cũng xác định rỏ ràng, không phải hoa gì cũng cúng được”.

Đà La Ni Tập Kinh, quyển 6 chép: “Hoa cây cúng dường thì có cành liễu, bá diệp, trúc, hoa tạp, quả chi,… hoa có mùi hôi, cây gai sanh hoa hoa có vị đắng cay, hoa không có tên,… đều không nên đem cúng.

Hiện tại trong chùa, ngoài việc dùng hoa tươi cúng Phật, còn có dùng giấy, lụa, vàng để chế thành hoa cúng ở trước Phật. Việc cúng hoa trong Phật giáo biểu đạt được tấm lòng kiền thành, lại cũng là việc gieo trồng công đức phước báu, trí huệ tốt đẹp trong cuộc sống hiện tại và tương lai, từ đó cũng tự trang sức cho hoàn cảnh tự viện tốt đẹp.

(Nguồn chuahoiphuoc.net)

Công Đức Dâng Hoa Cúng Dường Phật.

Hoa có đặc tính thơm tho trang nghiêm, nhân đó mà được Phật giáo dùng để tượng trưng cho ý nghĩa cao đẹp.

Phật tổ Thích Ca Mâu Ni đang thuyết pháp ở núi Linh Thứu, Đại Phạm Thiên Vương dâng lên cành hoa Kim Sắc Ba La Mật, Phật liền nâng cành hoa lên để thị ý đại chúng, đại chúng đều ngơ ngác, chỉ có ngài Ma Ha Ca Diếp “Phá nhan vi tiếu – mỉm miệng cười”. Ngài nói: “Đây là Pháp môn không lập văn tự, truyền ngoài giáo điển, hiện tại giao cho Ma Ha Ca Diếp”. Nhân thế mà Thiền Tông tôn ngài Ma Ha Ca Diếp làm Sơ Tổ. Thành ngữ “Phá nhan vi tiếu – miệng mỉm cười” nầy cũng nói rõ việc dâng hoa cúng Phật, đã có từ thời Ngài còn tại thế.

Hoa dùng để cúng dường chư Phật Bồ tát là chỉ cho các loại hoa thực vật, tiếng Phạn dịch là “Bổ Thệ Ba”, kinh Phật thường gọi là “Hoa”, Phật giáo Ấn Độ, hoa cúng dường là 1 trong 6 món dùng để dâng cúng Phật Bồ tát, các món cúng dường nầy đều có sự biểu trưng.

– Hoa tiêu biểu cho bố thí, vì bố thí thì khiến cho người sanh hoan hỉ.

– Hương tiêu biểu cho trì giới, vì trì giới thì hạnh nghiệp thơm lừng.

– Đèn tiêu biểu cho nhẫn nhục, vì nhẫn nhục thì chuyển lửa sân hận làm ánh sáng lớn (đại quang minh).

– Đồ (nước) là tiêu biểu cho tinh tấn, vì tinh tấn thì sẽ đượm nhuần pháp thân.

– Quả tiêu biểu cho thiền định, vì thiền định thì hay thành tựu được quả Phật.

– Nhạc tiêu biểu cho trí huệ, vì trí tuệ thì hay sanh ra các pháp.

Đem hoa dâng lên chư Phật Bồ tát gọi là Hiến Hoa, đem hoa rải lên Phật đài, đạo tràng… gọi là Tán hoa.

Trong Kinh điển Phật giáo thường đề cập đến hoa báu từ trên trời rơi xuống, như phẩm Thí Dụ kinh Pháp Hoa: “Nếu lúc muốn đi thì có hoa báu đỡ chân”. Hoa báu là chỉ cho các loại trân bảo hợp thành.

Kinh Vô Lượng Thọ chép: “Tất cả chư Thiên, đều dâng trăm ngàn hoa hương ở cõi trời, muôn thứ kỹ nhạc để cúng dường Đức Phật”.

Kinh Pháp Hoa chép: “Có đến 10 thứ cúng dường. Lại đem hoa để ở đầu tiên nhân vì hoa rất thơm, đẹp dùng để trang nghiêm”.

Cho nên đem hương thơm thanh khiết của hoa dâng lên trang nghiêm cúng dường Phật. Ngoài ra hoa còn là một biểu pháp, nhân vì những khí vật trong nhà Phật đều có hàm ý tiêu biểu. Trước Phật cúng hoa vì hoa tiêu biểu cho nhân, sau khi hoa nở thì kết trái, hoa tiêu biểu cho 6 độ muôn hạnh. Hoa tiêu biểu cho thiền định, đem công đức tu thiền định để cúng dường Phật. Tất cả công đức đều là từ trong thiền định mà khơi mở, chỉ có công đức thiền định mới hay đoạn trừ phiền não, sạch hết sanh tử, cuối cùng chứng được quả Phật. Đem hoa cúng Phật sẽ được nhiều công đức phước báu thù thắng”.

Kinh Phật Vị Thủ Ca Trưởng Giả Thuyết Nghiệp Báo Sai Biệt Kinh chép: “Dâng hoa cúng Phật được 10 thứ công đức:

1/ Ở thế gian thường tốt đẹp như hoa.

2/ Trên thân không có mùi hôi dơ.

3/ Phước đức và giới hạnh lan tỏa khắp nơi.

4/ Sanh ở chỗ nào lỗ mũi không hư hoại hay phân biệt được mùi của các loài hương.

5/ Ở thế gian mà vượt hơn thế gian được mọi người kính ngưỡng.

6/ Thân thường giữ được mùi hương thơm sạch.

7/ Ưa thích nghe chánh pháp, thọ trì đọc tụng.

8/ Có phước báu rộng lớn.

9/ Mạng chung sanh về cõi trời.

10/ Mau chứng được đạo Niết Bàn”.

Theo Kinh Vô Lượng Thọ chép: “Bốn loại hoa trước được trang nghiêm ở cõi Cực Lạc”.

Theo Kinh Pháp Hoa chép: “Bốn loại hoa sau từ trên cõi trời rơi xuống, là thứ 3 trong 6 tướng lành. Dùng hoa cúng Phật trong kinh cũng xác định rõ ràng, không phải hoa gì cũng cúng được”.

Đà La Ni Tập Kinh, quyển 6 chép: “Hoa cây cúng dường thì có cành liễu, bá diệp, trúc, hoa tạp, quả chi,… hoa có mùi hôi, cây gai sanh hoa hoa có vị đắng cai, hoa không có tên… đều không nên đem cúng”.

Hiện tại trong chùa, ngoài việc dùng hoa tươi cúng Phật, còn có dùng giấy, lụa, vàng để chế thành hoa, cúng ở trước Phật. Việc cúng hoa trong Phật giáo biểu đạt được tấm lòng kiền thành, lại cũng là việc gieo trồng công đức phước báu, trí huệ tốt đẹp trong cuộc sống hiện tại và tượng lai, từ đó cũng trang sức cho hoàn cảnh tự viện tốt đẹp.

Công Đức Cúng Dường Một Bó Hoa Đến Phật

Nghiệp chướng của người nữ so với người nam vẫn  luôn  nặng hơn.  Sinh ra làm một  người  đàn  bà,  dầu  trên bất  cứ phương diện  nào cũng  không thắng được  một  người  đàn   ông.  Vì thế, người đàn  bà nào trên thế  giới này  cũng  phải sinh tâm tàm quý đã sinh làm  thân nữ.

Thời quá  khứ  có một cô gái, vì muốn sám  hối nghiệp chướng của  mình và muốn các đời sau  không còn thọ thân nữ  nữa, mới đem  một  bó hoa  tươi  thắm và thơm ngào  ngạt đến  chùa dâng cúng  đức Phật. Cô chí thành đảnh lễ tượng  Phật và sau  đó, ra khỏi chùa đến cửa lớn thì  vừa vặn  gặp một vị tỳ-kheo. Cô hỏi:

– Bạch  thầy, đem  một  bó hoa  cúng  Phật được bao nhiêu phước  báo?

Vị này  đáp:

– Tôi là người  mới xuất gia  tu học, chưa  rõ lắm  về điều  cô muốn hỏi. Nhưng tôi có thể  đưa  cô đến gặp một vị đã chứng quả  A-la-hán, và cô có thể  hỏi ngài.

Vị xuất gia  sơ học bèn  đưa  cô gái  đến  gặp  vị A-la- hán,  và đem  vấn  đề cô gái  hỏi ra thưa thỉnh ngài. Vị A-la-hán trả lời:

– Công  đức  cô đem  một  bó hoa  cúng  Phật, khiến kiếp  tới cô sẽ không sinh làm  thân nữ  nữa, được sinh lên  cõi trời  hưởng  phúc  suốt  một  vạn  kiếp  mà  phước báo  vẫn  chưa  hết.  Sau  đó, còn phước  báo  nào  nữa  thì tôi không đủ sức biết  được.

Vị A-la-hán không trả lời được cho cô gái một  cách hoàn mãn khiến cô vẫn  còn bất  an.  Vị A-la-hán bèn nói:

– Cô ở đây  chờ một  chút, tôi lên cung  trời  Đâu  Suất thỉnh giáo Bồ Tát  Di Lặc.

Vị A-la-hán nói xong,  lập  tức đằng không lên  cung trời  Đâu  Suất, hỏi Bồ Tát  Di Lặc:

– Có một  tín  nữ  cúng  Phật một  bó hoa  và sám  hối nghiệp chướng  trong quá  khứ.  Công  đức  của  cô như thế,  nói cho đến  cùng  tận thì  được bao nhiêu?

Nhưng ngài  Bồ Tát  Di Lặc cũng  không thể  biết  hết được tường tận vấn đề này, ngài bảo khi nào ngài  chứng quả  Phật thì  mới biết  rốt ráo được!

Xem  thế  mới  biết,  cúng  Phật một  bó hoa  thôi  mà được  công  đức  vô lượng,  không thể  nghĩ  bàn, không thể  so sánh. Chỉ  cần  mọi người  chịu  phát tâm tu công đức  cho nhiều, bố thí  cho nhiều, thì  không những có thể  làm  cho nghiệp chướng tiêu trừ, mà  phước  báo đạt được thì  không thể  nào hiểu cho tận cùng  được!

Truyện cổ Phật Giáo – Diệu Hạnh Giao Trinh Việt dịch

Chia sẽ với

Twitter

Facebook

Thư điện tử

Like this:

Số lượt thích

Đang tải…

Dâng Hoa Cúng Dường Chư Phật

Dâng hoa cúng dường chư Phật sẽ là cao tột cùng trong các pháp, nếu đó là hoa của Giới, của Định và của Tuệ

Cúng dường nào có công đức lớn nhất?

Truyền thống cúng dường Tam bảo đã có từ thời các vị cổ Phật. Trong thời Đức Phật Thích-ca Mâu-ni, vị nổi bật trong hạnh cúng dường là Trưởng giả Cấp Cô Độc, được gọi là người thực hành đại bố thí nhất, từng cúng đến nhiều ngàn ức vàng. Không có nhiều phương tiện và cơ duyên như ngài Cấp Cô Độc, người cư sĩ thường giữ hạnh cúng dường tứ sự để duy trì Chánh pháp và để chư tôn đức Tăng-già có phương tiện tu hành và hoằng pháp. Tuy nhiên, để cúng dường Đức Phật, có một kinh cho biết rằng cúng dường hương hoa là thích nghi nhất. Có phải hương hoa là một ẩn nghĩa? Cũng có thể vì Đức Phật từng tự ví như hoa sen… Kinh Tương ưng bộ 22.94, bản dịch của Thầy Minh Châu ghi lời Đức Phật:

“Ví như, này các Tỷ-kheo, bông sen xanh, hay bông sen hồng, hay bông sen trắng sanh ra trong nước, lớn lên trong nước, vươn lên khỏi nước, và đứng thẳng không bị nước nhiễm ướt. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Như Lai sanh ra ở trong đời, lớn lên trong đời, vươn lên khỏi đời, và sống không bị đời ô nhiễm”[1].

Truyền thống cúng dường Tam bảo đã có từ thời các vị cổ Phật.

Đốt thân thể cúng dường chư Phật

Trong Tăng nhất A-hàm, có kinh EA-20.3, bản dịch của Thầy Tuệ Sỹ và Thầy Đức Thắng, có đoạn viết là khi nói về cúng dường, ghi rằng nên cúng Đức Phật hương hoa thay vì vàng bạc trân bảo.

Kinh này trích như sau:

“… Ông lại nghĩ như vầy: ‘Trong sách có ghi, Như Lai không nhận vàng bạc trân bảo, ta có thể đem năm trăm lạng vàng này, dùng mua hoa hương rải lên Như Lai’. Lúc đó, bà-la-môn liền vào trong thành tìm mua hương hoa”[2]

Khi nói nên cúng hương hoa thay vì vàng bạc trân bảo, có thể vì hương hoa mang ẩn nghĩa là hoa của giới, hoa của định, hoa của tuệ? Cũng có thể có ẩn nghĩa đó.

Bởi vì kinh Tăng chi bộ 5.175, bản dịch của Thầy Minh Châu, ghi lời Đức Phật rằng hoa sen còn tượng trưng Chánh tín của người cư sĩ.Kinh này trích như sau:”Thành tựu năm pháp, này các Tỷ-kheo, một nam cư sĩ là hòn ngọc trong giới nam cư sĩ, là hoa sen hồng trong giới nam cư sĩ, là hoa sen trắng trong giới nam cư sĩ. Thế nào là năm? Có lòng tin; có giới; không đoán tương lai với những nghi lễ đặc biệt; không tin tưởng điềm lành; tin tưởng ở hành động; không tìm kiếm ngoài Tăng chúng người xứng đáng tôn trọng và tại đấy phục vụ trước. Thành tựu năm pháp, này các Tỷ-kheo, một nam cư sĩ là hòn ngọc trong giới nam cư sĩ, là hoa sen hồng trong giới nam cư sĩ, là hoa sen trắng trong giới nam cư sĩ”[3].

Trong khi chúng ta đọc Thánh nhân Ký sự, bản dịch của Tỳ-khưu Indacanda[4], ghi về các cơ duyên tiền kiếp của các Trưởng lão A-la-hán nổi bật, sẽ thấy trong những kiếp lâu xa về trước, các vị đó khi còn là cư sĩ, hoặc khi còn là một chúng sanh trong loài thú, rất nhiều trường hợp đã dâng hoa cúng dường cho các vị cổ Phật.

Nếu không có cơ duyên gặp Đức Phật, chúng ta có thể dâng cúng các bậc Thánh Tăng cũng được nhiều phước duyên thiện lành.

Cúng dường đúng pháp và lợi ích của cúng dường Tam bảo

Như trường hợp của Trưởng lão Pāṭalipupphiya, trong một kiếp xa xưa, khi là con trai của một nhà triệu phú đã cầm một bông hoa tới dâng cúng Đức Phật Tissa. Đọc tích này, chúng ta có thể nhận ra rằng con trai của nhà triệu phú tất nhiên có rất nhiều vàng bạc trân bảo, nhưng trong mắt của chàng trai này, quý giá nhất lúc đó là bông hoa pāṭali và cậu đã dâng cúng hoa này.

Trích Thánh nhân Ký sự, bản dịch của Tỳ-khưu Indacanda, về ngài Pāṭalipupphiya như sau:

“Ký sự về Trưởng lão Pāṭalipupphiya

Lúc bấy giờ, tôi đã là con trai nhà triệu phú, mảnh mai, khéo được nuôi dưỡng. Tôi đã đặt bông hoa pāṭali vào lòng và đã mang theo bông hoa ấy.

Bậc Toàn giác có màu da vàng chói đang đi ở khu phố chợ. Ngài có ba mươi hai hảo tướng, tợ như cây cột trụ bằng vàng.

Tôi đã trở nên mừng rỡ, với tâm mừng rỡ tôi đã cúng dường bông hoa. Tôi đã lễ bái Đấng Hiểu biết Thế gian Tissa, đấng Bảo hộ, vị Trời của nhân loại.

Kể từ khi tôi đã thực hiện việc làm ấy trước đây chín mươi hai kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc cúng dường bông hoa.Trước đây sáu mươi ba kiếp, (tôi đã là) vị có tên Abhisammata, là đấng Chuyển luân vương được thành tựu bảy loại báu vật, có oai lực lớn lao.

Bốn (tuệ) phân tích, – (như trên) – tôi đã thực hành lời dạy của Đức Phật”[4].

Để cúng dường Đức Phật, có một kinh cho biết rằng cúng dường hương hoa là thích nghi nhất.

Cúng dường cơm cháy chuyển nghiệp đọa địa ngục thành sinh thiên

Nếu chỉ cúng hoa, hẳn là không cần phải giàu như con của một nhà triệu phú như tiền kiếp của Trưởng lão Pāṭalipupphiya. Vì cũng trong Thánh nhân Ký sự, trong “Ký sự về Trưởng lão Kaṇaverapupphiya” kể rằng tiền kiếp lâu xa của Trưởng lão này chỉ là một người canh gác ở hậu cung đức vua. Đó là thời của Đức Phật có tên là Siddhattha.

Người lính gác này lúc đó đã dâng cúng bằng cách “… cầm lấy bông hoa kaṇavera và đã rải rắc ở Hội chúng Tỳ-khưu. Tôi đã thực hiện nhiều lần ở Đức Phật, sau đó đã rải rắc nhiều hơn nữa. (Kể từ khi) tôi đã dâng lên bông hoa trước đây chín mươi bốn kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc cúng dường bông hoa…”.Trong khi đó, một nghệ nhân bình thường cũng có thể cúng hoa (đúng ra, nghèo cỡ nào, cũng cúng hoa được). Như trường hợp ghi trong Thánh nhân Ký sự, nơi “Ký sự về Trưởng lão Ucchaṅgapupphiya”, khi tiền kiếp lâu xa của Trưởng lão này là “người làm tràng hoa ở thành phố Bandhumatī” trong thời Đức Phật có tên là Vipassī.

Nên ghi nhận Trưởng lão nói rằng cúng hoa đã dẫn tới cơ duyên thoát khổ (hưởng phước) và tới cơ duyên hoàn toàn giải thoát (đoạn tận lậu hoặc, có nghĩa rằng cúng hoa mang ẩn nghĩa là hoa của Giới Định Huệ). Trích lời ngài như sau:

“(Kể từ khi) tôi đã cúng dường bông hoa trước đây chín mươi mốt kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc cúng dường Đức Phật.

Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc”.Thậm chí, loài chim cúng hoa cũng được hưởng phước. Đó là trường hợp Thánh nhân Ký sự ghi trong sự tích “Ký sự về Trưởng lão Salalapupphiya” – lúc đó ngài là “loài kim-xí-điểu” trong thời Đức Phật Vipassī, và kết quả từ khi “… tôi đã cúng dường bông hoa trước đây chín mươi mốt kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc cúng dường Đức Phật”.

Người trí không nương tựa vào bất kỳ gì, không thấy gì để trân quý hay ghét bỏ. Sầu khổ và tham đắm không dính vào người này, hệt như nước không dính vào chiếc lá.

Cách cúng dường cao quý nhất là Pháp cúng dường

Nếu không có cơ duyên gặp Đức Phật, chúng ta có thể dâng cúng các bậc Thánh Tăng cũng được nhiều phước duyên thiện lành. Thánh nhân Ký sự trong “Ký sự về Trưởng lão Tivaṇṭipupphiya” kể rằng một tiền kiếp Trưởng lão này dâng cúng hoa cho nhà sư “có tên Sunanda, Thanh văn của Đức Phật bậc Hiền Trí Dhammadassī”. Kết quả ghi là “… tôi đã không đi đến đọa xứ trong một ngàn tám trăm kiếp”.

Trong kinh Pháp cú Nam truyền, có một phẩm tên là Hoa. Bài kệ 54 và 55 do Thầy Minh Châu dịch như sau:

“Hương các loại hoa thơm, không ngược bay chiều gió. Nhưng hương người đức hạnh, ngược gió khắp tung bay. Chỉ có bậc chân nhân, tỏa khắp mọi phương trời. Hoa chiên-đàn, già-la, hoa sen, hoa vũ quý, giữa những hương hoa ấy, Giới hương là vô thượng”[5].

Trong khi đó, Đức Phật cũng từng dạy rằng hãy giữ tâm “vô sở trụ” y hệt như nước bùn không dính vào hoa sen được. Lời dạy đó nằm trong nhóm kinh Nhật tụng Sơ thời, các kinh chư Tăng dùng làm nhật tụng trong những năm đầu Đức Phật hoằng pháp. Đó là kinh Tương ưng bộ Sn 4.6 (Jara Sutta).

Bản dịch của Nguyên Giác trích như sau:

“Người trí không nương tựa vào bất kỳ gì, không thấy gì để trân quý hay ghét bỏ. Sầu khổ và tham đắm không dính vào người này, hệt như nước không dính vào chiếc lá.

Như giọt nước trên lá sen, như nước không dính vào bông sen; những gì được thấy, nghe, nhận biết không dính mắc gì vào người trí.

Người thanh tịnh không khởi niệm tư lường về những gì được thấy, nghe, nhận biết, cũng không muốn tìm thanh tịnh qua bất kỳ cách nào vì đã không còn gì để tham đắm hay ghét bỏ”[6].

Đọc kỹ bài kinh vừa dẫn, sẽ thấy đó là pháp tu “không có gì để tu hết” của Thiền tông, cũng là Thiền Trúc Lâm của Việt Nam. Bởi vì “không khởi niệm” và “không muốn tìm thanh tịnh qua bất kỳ cách nào” cũng có nghĩa là buông hết cả ba thời, và là xa lìa ngũ uẩn của ba thời quá, hiện, vị lai.

Người thanh tịnh không khởi niệm tư lường về những gì được thấy, nghe, nhận biết, cũng không muốn tìm thanh tịnh qua bất kỳ cách nào vì đã không còn gì để tham đắm hay ghét bỏ

Ý nghĩa của bố thí và cúng dường

Ngài Trần Nhân Tông gọi đó là “Đối cảnh vô tâm mạc vấn Thiền” – là đối trước cảnh, tâm không dao động, thì chớ hỏi Thiền làm chi. Lục tổ Huệ Năng cũng gọi đó là “Chớ nghĩ thiện, chớ nghĩ ác…” và kinh Kim cang gọi đó là “ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”…

Bất kỳ ai cũng có thể nhìn lại tâm mình, và chớ nghĩ gì tới thiện/ác, lành/dữ, và chớ nghĩ gì tới quá/hiện/vị lai… ngay khi đó, chính là một cái nhìn của tỉnh thức, của tịch lặng, của xa lìa tham sân si. Ngay đó là Niết bàn, ngay trước mắt. Và đó chính là hương hoa cúng dường chư Phật.

Ghi chú:

1. Kinh Tương ưng bộ SN 22.94: https://suttacentral.net/ sn22.94/vi/minh_chau.

2. Kinh Tăng nhất A-hàm, Kinh EA-20.3: https://suttacentral. net/ea20.3/vi/tue_sy-thang.

3. Kinh Tăng chi bộ AN 5.175: https://suttacentral.net/ an5.175/vi/minh_chau.

4. Thánh nhân Ký sự, bản dịch Tỳ-khưu Indacanda: https:// www.tamtangpaliviet.net/VHoc/39/Ap_00.htm. và https://www.tamtangpaliviet.net/VHoc/40/Ap_00b.htkm.

5. Kinh Pháp cú: https://thuvienhoasen.org/p15a7961/pham- 01-10.

6. Kinh Tương ưng bộ 4.6: https://thuvienhoasen.org/p15a30599/ sn-4-6-jara-sutta-kinh-ve-tuoi-gia.

Theo Văn hoá Phật giáo số 337-338 ngày 15-01-2024 > Xem thêm video: Tu thân theo lời Phật dạy:

Nguyên Giác

Công Đức Mua Hoa Cúng Phật

Kinh “Quá Khứ Hiện Tại Nhân Quả” có chép rằng:

Sau khi đức Phổ Quang Như Lai thành Phật, có một vị tiên nhơn tên là Thiện Huệ, một hôm bỗng nhiên nằm mộng có năm điều kỳ lạ: 1- Thấy thân mình nằm trên biển lớn; 2- Thấy gối đầu ở núi Tu Di; 3- Thấy tất cả chúng sinh đều nhập vào thân mình; 4- Thấy tay mình nâng mặt trời lên; 5- Thấy tay mình nâng mặt trăng lên. Thiện Huệ tiên nhơn tỉnh mộng và rất là kinh ngạc, trong lòng nghĩ thầm rằng: “Hôm nay mộng thấy điềm này, không phải là chuyện nhỏ, nhất định xuất hiện việc lớn kỳ diệu ở trong đời mà tự mình không rõ biết. Ai có thể giải thích được điềm lành này, hay ta nên vào thành hỏi các bậc hiền trí khác.”

Thiện Huệ sau khi nghĩ vậy liền khoác lộc y, cầm tịnh bình và chống tích trượng, mang ô đi vào thành. Khi ngài đi ngang qua chỗ ở của Lục Sư Ngoại Đạo, có 500 vị đang tu học ở đó. Thiện Huệ nghĩ rằng: “Hôm nay ta nên đem điềm mộng đến thử hỏi các vị này, đồng thời xem phương pháp tu học của họ thế nào, cùng đàm luận đạo lý để phá đi quan điểm tà kiến của họ.” Thiện Huệ đã luận tranh cùng họ, Lục Sư Ngoại Đạo bị khuất phục, không ai thắng qua Thiện Huệ, và họ muốn bái kiến Thiện Huệ làm sư phụ. Để tỏ lòng thành kính, mỗi vị phát tâm hoan hỷ cúng dường Thiện Huệ một đồng tiền vàng, tổng cộng cả thảy gồm năm trăm đồng.

Năm trăm tu sĩ ngoại đạo này thấy tướng mạo trang nghiêm của Thiện Huệ, luận bàn đạo lý rõ ràng và nói rằng:

“Chúng tôi tuy không giải rõ được điềm mộng của Ngài, nhưng biết rằng hiện nay có đức Phổ Quang Như Lai xuất thế, Ngài nhất định giải rõ được giấc mộng của ông.”

Thiện Huệ sau khi nghe xong điều này, lòng dạ vô cùng vui mừng, vội vàng cáo từ thầy trò các thầy ngoại đạo, rồi mang theo 500 đồng tiền vàng được cúng dường đi đến vương thành. Khi gần đến vương thành, thấy dân chúng đang dọn dẹp đường phố, rải nước hương hoa trên đường, khắp nơi đều treo bảo cái tràng phan một cách trang nghiêm. Thiện Huệ thấy lạ hỏi mọi người rằng: “Mọi người trang hoàng long trọng như vậy là có sự việc gì vậy?”

Nhân dân trong thành đáp rằng:

“Có đức Phật xuất hiện ở thế gian, hiệu là Phổ Quang Như Lai. Hôm nay đức vua Đăng Chiếu cung thỉnh Phật vào thành thuyết pháp, cho nên nhân dân trong thành đều cùng dọn dẹp đường xá, trang nghiêm phố phường.”

Thiện Huệ tiên nhơn hỏi một người đi đường:

“Ông biết nơi nào có bán hoa quý không?”

Người ấy nói rằng:

” Hôm nay vua Đăng Chiếu ra lệnh nhân dân trong thành không được bán hoa, đem tất cả hoa quý và đẹp đến vương thành để cúng Phật”.

Nghe xong Thiện Huệ thất vọng, biết tìm hoa quý đâu để cúng Phật, bỗng nhiên thấy một cô cung nữ đi ngang qua đường, tay cầm bảy đóa hoa tươi, cô này biết lệnh của vua nên đem hoa của mình đi vào vương thành, và dấu hoa ở trong bình để không ai thấy mà đòi mua.

Do lòng thành kính cúng Phật của Thiện Huệ, hoa ở trong bình cô gái tự nhiên xuất hiện ra ngoài. Thiện Huệ vội vàng đi theo cô và nói rằng:

“Này cô, xin đợi một chút, hoa của cô đang cầm có bán hay không?”

Cô cung nữ nghe lời Thiện Huệ hỏi mua hoa, lòng dạ phập phồng kinh ngạc, tự hỏi rằng:

“Ta đã dấu hoa trong bình rất kính đáo, tại sao người này thấy được mà hỏi mua.”

Cô cung nữ vội ngó xuống bình hoa thấy hoa trong bình xuất hiện ra ngoài, cảm thấy kỳ lạ, liền hỏi Thiện Huệ rằng:

“Này ông, bảy cành hoa sen này đưa đến vương cung để cúng dường đức Phật, nên hoa này không được bán, xin ông đừng nghĩ chuyện mua”.

Thiện Huệ tiên nhơn khẩn cầu cung nữ:

“Tôi dùng 500 đồng tiền vàng mua 5 cành hoa sen.”

Nghe xong cung nữ lấy làm lạ và nghi hoặc, tại sao mấy cành hoa này chẳng đáng giá bao nhiêu mà người này dùng 500 đồng tiền vàng để mua 5 cành hoa. Cung nữ hỏi Thiện Huệ rằng:

“Thưa ông, ông bỏ tiền ra nhiều muốn mua 5 cành hoa này là có ý nghĩa gì?”

Thiện Huệ đáp rằng:

“Nghe nói đức Phổ Quang Như Lai xuất hiện ở đời, hôm nay vua Đăng Chiếu thỉnh Phật vào thành thuyết pháp, cho nên tôi cần mua hoa quý để cúng dường Phật. Cô nên biết rằng, Phật đà xuất thế khó mà được gặp.”

Cung nữ nghe xong, liền hỏi rằng:

“Ngài mua hoa cúng dường Phật để mong ước được điều gì?”

Thiện Huệ nói rằng:

“Muốn đạt được nhất thiết chủng trí, cứu độ vô lượng chúng sanh khổ nạn.”

Cung nữ biết rõ ý niệm của Thiện Huệ và trong lòng thầm nghĩ: Vị nam tử này tướng mạo trang nghiêm, khoác tấm lộc y che trên thân thể khỏe mạnh và đoan chánh, lại có lòng thành kính với Phật, không tiếc tiền bạc, đây là hạng người tốt khó gặp, liền nói với Thiện Huệ rằng:

“Tôi đem hương hoa này để hiến cúng, nguyện kiếp sau được làm vợ ông.”

Thiện Huệ vội nói rằng:

“Tôi nay xuất gia tu học, cầu đạo vô vi, không thể kết duyên sanh tử.”

Cung nữ đáp rằng:

“Nếu ông không chấp nhận ý nguyện của tôi thì không thể mua được hoa này.”

Thiện Huệ tiên nhơn đành nói rằng:

“Nếu cô quyết định bán hoa, thì tôi chấp nhận ý cô, nhưng đừng có hối hận vì tôi rất thích bố thí, không được làm nghịch ý của tôi. Giả sử có người đến xin đầu óc tủy não, mắt mũi xương tủy, cho đến vợ con, tôi đều bố thí cho người đó. Lúc đó cô không được ngăn cản, phá hại thiện tâm bố thí của tôi.”

Cung nữ nói với Thiện Huệ rằng:

Cung nữ đời sau là vợ của thái tử Tất Đạt Đa- bậc xuất gia thành Phật hiệu là Thích Ca Mâu Ni.

Vua Đăng Chiếu cùng vương tử, văn võ đại thần, vương cung quyến thuộc, các thầy Bà La Môn cầm các loại hoa quý và dùng các món khác cúng dường, cùng xuất thành cung nghinh đức Phổ Quang Như Lai, nhân dân trong thành tháp tùng cùng đi theo. Lúc bấy giờ, 500 đệ tử ngoại đạo mà Thiện Huệ đã thâu nhận từ trước đều có ý nghĩ rằng:

“Hôm nay đức vua cùng nhân dân đến đức Phổ Quang Như Lai cúng dường, Thiện Huệ đại sư nhất định đi, chúng ta cũng nên đến đó cúng dường và lễ kính đức Phổ Quang Như Lai.”

Năm trăm tu sĩ ngoại đạo này cùng đi đến chỗ của đức Phổ Quang Như Lai, đi giữa đường gặp Thiện Huệ tiên nhơn, thầy trò vui mừng khôn xiết, cùng nhau đi đến đức Phổ Quang Như Lai. Đương lúc họ đến nơi, thấy vua Đăng Chiếu cùng các quan văn võ đại thần, vương cung quyến thuộc đến trước đức Phổ Quang Như Lai. Vua Đăng Chiếu, người đầu tiên tán hoa cúng Phật và lễ bái, theo sau là văn võ đại thần và vương cung quyến thuộc. Toàn bộ các hoa quý họ tán lên đều rơi xuống mặt đất. Thiện Huệ tiên nhơn cùng 500 đệ tử đợi quốc vương, đại thần, vương cung quyến thuộc tán hoa cúng Phật xong, cùng đến trước Phật nhìn thấy vẻ từ bi của Phật cứu độ chúng sinh khổ não, thành tựu đầy đủ oai đức, liền tung năm cánh hoa sen lên cúng dường. Mọi người đều ngạc nhiên rằng, năm cành hoa này trụ giữa không trung và kết thành năm đài sen. Sau đó Thiện Huệ lại cầm hai cành hoa của cung nữ gởi cúng Phật tung lên không trung, hai cành hoa này phân thành hai bên trước đức Phổ Quang Như Lai.

Quốc vương đại thần cùng vương cung quyến thuộc và cùng toàn dân nhìn thấy thập phần kinh ngạc cảnh tượng từ trước đến nay chưa từng có. Lúc bấy giờ, đức Phổ Quang Như Lai do thông đạt trí tuệ tự tại, đối với Thiện Huệ tiên nhơn thọ ký rằng:

“Lành thay, lành thay, thiện nam tử, ông lấy hạnh lành này qua vô số kiếp về sau sẽ thành Phật hiệu là Thích Ca Mâu Ni, là bậc thầy dạy tôn quý của trời người.”

Đức Phổ Quang Như Lai thọ ký cho Thiện Huệ xong, nhìn thấy Thiện Huệ đầu còn búi tóc, khoác lộc y, đây không phải là y phục của đệ tử Phật. Vì muốn Thiện Huệ bỏ trang phục của tiên nhơn liền hóa đất trước mặt thành vũng bùn nước đọng, cần đi ngang qua chỗ này. Thiện Huệ nhìn đức Phổ Quang Như Lai sắp bước qua vũng bùn, trong tâm nghĩ rằng:

“Làm sao để đức Phật phước tướng trang nghiêm bước qua vũng bùn nước đọng này.”

Thiện Huệ lập tức cởi bỏ tấm lộc y, trải xuống đoạn đường trước mặt đức Phật. Nhìn thấy tấm lộc y này không che khắp vũng nưóc, vội cắt búi tóc phủ trên phần còn lại của vũng bùn. Đức Phổ Quang Như Lai bước qua tấm lộc y và búi tóc, đối Thiện Huệ tiên nhơn mà thọ ký rằng:

“Ông sau khi thành Phật, ở trong đời ác năm món ô trược, cứu khổ chúng sinh, không lấy làm khó, chính như ta vậy”.

Thiện Huệ cởi bỏ lộc y, tự cắt búi tóc, khoác áo cà sa liền thành tỳ kheo đệ tử của Phật. Lúc bấy giờ Thiện Huệ đối trước Phật bạch rằng:

“Con trước đây ở rừng sâu tu hành, có một giấc mộng kỳ đặc: 1- Thấy thân mình nằm trên biển lớn; 2- Thấy gối đầu ở núi Tu Di; 3- Thấy tất cả chúng sinh đều nhập vào thân mình; 4- Thấy tay mình nâng mặt trời lên; 5- Thấy tay mình nâng mặt trăng lên. Duy nguyện Thế Tôn vì con mà nói rõ tướng mộng này.”

Bấy giờ đức Phổ Quang Như Lai nói với Thiện Huệ tỳ kheo rằng:

“Ông muốn biết điềm mộng này ta sẽ vì ông mà nói: 1- Thấy thân ông nằm trên biển lớn, chính là ông tương lai sau sẽ sanh ở trong biển lớn sanh tử. 2- Mộng thấy gối đầu ở núi Tu Di là tương lai ông xuất sanh ở biển lớn sanh tử mà chứng đắc Niết Bàn. 3- Mộng thấy tất cả chúng sinh đều nhập vào thân ông là tương lai sau, là ông vì chúng sinh mà cho họ quy y. 4- Mộng thấy tay nâng mặt trời là ông tương lai dùng trí tuệ quang minh chiếu soi khắp pháp giới. 5- Mộng thấy tay nâng mặt trăng là ông tương lai dùng chánh pháp từ bi giáo hóa chúng sinh khiến cho họ xa rời khổ não. Đây là giấc mộng kỳ đặc tương lai ông thành Phật hiệu là Thích Ca Mâu Ni.”

Công Đức Cúng Dường Trai Tăng

HSĐV – Trong một phước sự gọi là bố thí, nếu người cho bằng tâm trong sạch với lễ phẩm trang trọng và người nhận một cách xứng đáng thì gọi đó là ứng cúng thì sẽ thành tựu một cuộc bố thí thù thắng.

Thế nào là người cho bằng tâm trong sạch? Có nghĩa là cho với lòng cung kính, cho nhưng không có hậu ý đòi hỏi điều gì và cho với tâm không có phiền não, tâm thí đó rất thù thắng.

Đối tượng nhận thí là người biết nhận, có nghĩa là nhận một cách không tham lam, nhận không có sự đòi hỏi và thật sự rất khó tìm

được một đối tượng như vậy trong cuộc đời này. Chúng ta cho một người và thường tạo cho họ lòng tham. Ví dụ gặp người bạn bị túng thiếu, ta giúp cho người bạn đó thứ gì đó, tiền chẳng hạn. Người đó có thể nghĩ rằng, “À người này mình có thể lợi dụng được đây, mai mốt mình sẽ xin nữa” và tìm cách để xin giúp đỡ thêm. Đây là chuyện thường xảy ra trong đời.

Hiếm khi trong đời này có đối tượng phù hợp với quy định của Đức Phật về đời sống của một vị Sa môn: Thí chủ cúng dường cho mình, vị Sa môn đón nhận bằng tâm trang trọng và hoan hỷ chú nguyện cho vị đó, không nuôi hậu ý tìm cách để bòn rút thêm, kêu gọi thêm. Đây là trường hợp cho một người mà người đó biết cách nhận. Biết cách nhận là nhận một cách phải chăng, nhận một cách có hiểu biết, nhận một cách không có hậu ý, không có mưu đồ , không có sự toan tính: Đây là sự bố thí thù thắng.

Nếu vị Sa môn sống đời sống chân chánh giống như Đức Phật đề ra thì người Phật tử có bốn mục đích quan trọng để làm phước:

– Tăng là đối tượng nhận cúng dường

– Nhận cúng dường một cách hợp đạo

– Nhận dưới với tính cách đại chúng chứ không phải cá nhân

– Nhận với mục đích cao cả để tu tập.

Bốn mục đích này làm cho đối tượng nhận cúng dường trở nên thù thắng.

Nói đến sự biết nhận có nghĩa là khi nhận thực phẩm hay nhận sự cúng dường từ tín thí, vị Sa môn không làm phiền lòng đến họ. Có nhiều người nhận và họ gây phiền não lắm. Quý vị để ý trong cuộc sống, mình cho con cháu hay bạn bè thứ gì đó, họ một họ đòi tới mười. Khi được gửi tiền, nếu mình gửi ít họ đòi hỏi thêm chẳng hạn. Cái đó rất là phiền. Người nhận như vậy gọi là người không biết nhận, và lắm khi họ còn nhận bằng tâm không trong sạch, có nghĩa là họ nhận để hưởng thụ, chứ không phải nhận để sử dụng cho mục đích cao cả.

Nhận với tính cách cá nhân không thù thắng bằng nhận với tính cách đại chúng. Giả sử quý vị thấy một nhà sư đi bát, quý vị cúng một nắm xôi, quý vị đặt vật thực vào trong bát. Khi cúng dường cho một nhà sư, quý vị nghĩ rằng cúng dường cho chư Tăng để chư Tăng sống và tu tập để hộ trì Phật Pháp lâu dài. Điều đó hoàn toàn không mang tính cá nhân. Bởi vì sao? Nhà sư đó mang hình ảnh của Tăng già và đi ngang nhà mình, mình cúng dường mà không biết nhà sư đó lạ hay quen . Thường khi cúng dường mình hay lựa chọn cá nhân vì vậy sự cúng dường như vậy nó vượt ngoài cá nhân tuyển thí. Nếu một nhà sư hiểu Pháp và Luật khi thọ thực vị ấy phải quán tưởng: Thực phẩm này của tín thí cúng cho mình để mình tu tập và sự quán tưởng như vậy mang lại phước lạc lớn cho người thọ thí và cho cả người thí chủ. Bốn khía cạnh này chỉ tìm thấy được trong sự cúng dường Tăng thí chúng gọi là dakkhinadana.

Chúng ta tạo phước hay tạo nghiệp do tác ý. Trong việc Tăng thí, ngoài tác ý còn có đối tượng, vật cúng dường và hành động: Tâm mình trước, trong khi và sau khi làm phước như thế nào, đối tượng mà mình hướng đến như thế nào, lễ phẩm, và cung cách mình cúng dường thế nào. Mỗi cái đều là một yếu tố hết. Vì vậy, Tăng thí thù thắng nhất ở trong những điều mà chúng ta gọi là phước vật.

Với một người Phật tử hiểu đạo sẽ thấy được sự vi diệu khi mình cho một chén cơm cho một người mà người nhận nó với tấm lòng cảm kích thay vì nghĩ rằng “Cuộc đời phải có bổn phận với mình, hay người khác phải cho mình.” Sống trong chùa, chúng tôi nghiệm ra một điều: Người cho xem ra rất dễ tìm, rất dễ tìm những người thí chủ, những người cho, nhưng người biết nhận thì khó tìm lắm. Người biết nhận tạo cho người cho sự an lạc vì họ nhận không để lại phiền phức về sau cho người cho, và họ biết sử dụng vật cúng dường vào việc chánh đáng. Điều đó mới khó. Riêng về điểm này Đức Phật đã hướng dẫn một cách đầy đủ và Ngài muốn rằng chư Tăng và Phật tử, tức là những đệ tử xuất gia và tại gia của Ngài, hiểu rõ giá trị đó.

Khi chúng ta hiểu rõ việc gì mình làm sẽ tìm thấy sự hoan hỷ trong điều đó.

Đạo Hạnh Theo Liễu Quán Huế

Cập nhật thông tin chi tiết về Công Đức Dâng Hoa Cúng Dường Phật trên website Apim.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!