Xu Hướng 12/2022 # Chuông Đồng Giá Bao Nhiêu? Nơi Đúc Chuông Chùa Lớn Nhỏ Cung Tiến / 2023 # Top 13 View | Apim.edu.vn

Xu Hướng 12/2022 # Chuông Đồng Giá Bao Nhiêu? Nơi Đúc Chuông Chùa Lớn Nhỏ Cung Tiến / 2023 # Top 13 View

Bạn đang xem bài viết Chuông Đồng Giá Bao Nhiêu? Nơi Đúc Chuông Chùa Lớn Nhỏ Cung Tiến / 2023 được cập nhật mới nhất trên website Apim.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Chuông đồng hay còn gọi là đại hồng chung, là pháp khí không thể thiếu trong mỗi nhà chùa. Ngoài ra chuông đồng các cỡ lớn nhỏ được dùng nhiều tại các từ đường, nhà thờ họ tộc, đình, đền, miếu…

Phật giáo sử dụng chuông rất sớm bởi đó là một pháp khí rất hữu hiệu, là phương tiện để tác động cũng như khai mở trí tuệ cho các hành giả đang tiến bước trên con đường giải thoát giác ngộ.

Tiếng chuông đồng vang lên cho thấy sự tồn tại của phật pháp, tâm hồn được thanh thản, xua tan muộn phiền…

Ý nghĩa của việc đúc chuông đồng:

Từ khi chùa xuất hiện cũng là lúc chuông được đưa vào sử dụng, bởi hình ảnh ngôi chùa, tiếng chuông là máu thịt của người dân Việt Nam, là một phần không thể thiếu để tạo nên bản sắc và linh hồn dân tộc.

Đại hồng chung là loại chuông lớn hay còn gọi là chuông U minh, chuông này thường được đánh vào những lúc đầu hôm và cuối đêm. Đánh vào lúc đầu hôm là để thức tỉnh và nhắc nhở mọi người rằng: “Vô thường mau chóng, chẳng hẹn một ai, khi hơi thở ra mà không trở lại là qua đời khác”.

Chuông đồng được đưa vào chùa tại Nghệ An:

Còn đánh vào lúc cuối đêm là để sách tấn mọi người mau mau tu tập, đoạn trừ mọi phiền não cấu uế của tự tâm, gạn lọc tham, sân và si là ba thứ gây ra tội lỗi, trói buộc trong vòng sinh tử luân hồi. Lối đánh chuông này, thường là 108 tiếng, ý nghĩa biểu trưng cho 108 thứ phiền não của chúng sinh, khi chuông đánh lên thì 108 thứ phiền não này đều bị rơi rụng, trí tuệ phát sinh, căn lành tăng trưởng, đạt được sự giải thoát giác ngộ trong tương lai.

Bảo chúng chung hay còn gọi là Tăng đường chung, tức là loại chuông này dùng để báo tin trong lúc nhóm họp Đại chúng, thọ trai hoặc khi lên khoá lễ hay kiền chuỳ v.v… trong các chùa và am tự viện.

Chuông thỉnh bằng đồng đỏ 50kg:

Gia trì chung là loại chuông dùng để đánh trong trường hợp đầu bài hoặc cuối bài những câu kinh hay câu sám, hoặc cũng có lúc xuống dòng của đoạn hay của câu, và còn ra hiệu cho biết khi bắt đầu hoặc chấm dứt buổi lễ. Đồng thời cũng là để điều hoà cho người tụng kinh, lễ Phật được nhịp nhàng đều đặn, hướng người tụng vào một con đường duy nhất là Chí Tâm.

Sự mầu nhiệm vô biên mà Thần Chung đã mang lại, không những người còn, mà kẻ mất cũng đều được thấm nhuần pháp vị an lạc, siêu việt ba cõi, đạt được sự giải thoát giác ngộ ngay trong hiện tại cũng như tương lai.

Ngày xưa, chư Tổ thấy được sự quí báu này mà phương tiện thiện xảo, lập ra quy củ thiền môn, hai thời sớm tối đều phải hô chuông, để tạo phước điền cho trăm họ, không những người dương, mà kẻ âm cũng được siêu thoát. Thế nên, công việc đúc chuông là một việc làm vô lượng công đức, vô lượng cát tường, trời người đều tán thán, ai nấy cũng hân hoan.

Chuông đồng 36 tấn tại chùa Bái Đính:

Chuông đồng giá bao nhiêu?

Chuông đồng về cơ bản có 2 loại là chuông đồng nhà chùa và chuông đồng nhà thờ công giáo. Ngoài ra còn có các loại chuông lắc, linh chuông, chuông bát thỉnh…

Chuông bát tiếng hay và chuẩn phải là chuông bát Đài Loan, đúc thanh mảnh, tiếng chuông vang thánh thót. Chuông bát tính giá trị theo đường kính miệng bát, loại 10cm, 12cm, 16cm, 20cm, 30cm… có giá từ vài trăm nghìn đến vài triệu đồng.

Chuông đồng đình chùa và chuông đồng công giáo có nhiều kích cỡ từ 5-7kg cho đến hàng chục tấn tùy không gian sử dụng. Các nhà thờ họ, từ đường, điện thờ…thường dùng chuông cỡ nhỏ từ 10 đến 100kg. Nhà thờ lớn, đình chùa, tùy vào chuông treo giá, chuông đặt trong khuôn viên và không gian quy mô nhà chùa mà thường sử dụng đại hồng chung từ vài tạ đến vài chục tấn.

Chuông đồng cỡ lớn đặt sân chùa:

Giá đúc chuông phụ thuộc vào trọng lượng, chất lượng, quy cách đúc. Đối với các dòng chuông được đúc đại trà, pha trộn nhiều tạp chất, kĩ thuật thấp, tiếng chuông không được hay chuẩn thì giá thành rẻ hơn. Chỉ khoảng 300 đến 320 nghìn/kg.

Đối với dòng chuông được thợ cao tay kĩ thuật lâu năm trong nghề đúc, tỉ lệ pha hợp chất chính xác, độ dày mỏng, nặng nhẹ thuận với kích thước chuông, sẽ cho ra quả chuông đẹp, có tiếng cực hay, âm vang, trầm bổng, nhẹ nhàng…có mức giá cao hơn, từ 330 đến 350 nghìn/kg.

Đối với những quả chuông cỡ lớn từ vài tấn trở lên, và đặc biệt là đúc tận nơi tại nhà chùa, tại công trình, người cung tiến, người dân, trụ trì nhà chùa…có thể thả vàng, bạc vào trong quá trình đúc thì mức giá sẽ cao hơn, từ 350 nghìn /1kg trở lên

Chuông đồng nhà thờ công giáo:

Nơi đúc chuông đồng đình chùa cỡ lớn nhỏ uy tín:

Nhà chùa là nơi linh thiêng, đặc biệt tiếng chuông chùa có ý nghĩa rất lớn trong chốn Phật tự, nơi thờ cúng. Vì vậy, đã đặt đại hồng chung thì nên lựa chọn kĩ càng, sử dụng quả chuông đẹp, chất lượng tốt và tiếng phải thật hay, chuẩn để sử dụng hàng ngày, lâu dài, thể hiện được thành tâm của người thờ cúng.

Tại cơ sở đúc chuông đồng Bảo Long – Ý Yên – Nam Định, nơi truyền thống đúc chuông hàng trăm năm, sở hữu đội ngũ nghệ nhân đúc chuông tay nghề kĩ thuật cao nhất hiện nay, luôn cho ra đời những quả chuông đạt chất lượng hàng đầu.

Chuông chùa bằng đồng cỡ lớn:

Đặt đúc chuông đồng lớn nhỏ tại cơ sở Bảo Long, khách hàng được đảm bảo về chất lượng và tiếng chuông. Sau khi bàn giao sản phẩm, thử tiếng không hay, thấy chất lượng không ưng ý, khách hàng được yêu cầu đúc lại đến khi đạt yêu cầu, hoặc hoàn tiền 100%. Vậy nên tại xưởng đúc chuông đồng Bảo Long luôn sản xuất ngày đêm với hàng trăm đơn hàng lớn nhỏ từ các đình chùa, nhà thờ trên toàn quốc, các đơn hàng do Phật tử đặt cung tiến vào đình chùa, nhà thờ tổ…

Đúc chuông đồng tại Bảo Long, khách hàng có thể hoàn toàn yên tâm, đúng yêu cầu, đúng tiến độ, giá cả đi đôi với chất lượng.

Chuông chùa 1 tấn do Bảo Long đúc tại đền Bửu Long – Biên Hòa:

Đúc đồng Bảo Long chuyên các sản phẩm đồ đồng thờ cúng cao cấp, tượng đồng, đúc chuông đồng, tranh đồng cao cấp…

Cơ sở đúc đồng tại Ý Yên – Nam Định và còn có 3 chi nhánh tại Hà Nội và TPHCM để thuận tiện cho việc đặt và mua hàng của quý khách hàng.

CÔNG TY TNHH ĐỒNG MỸ NGHỆ BẢO LONG

Chuông Đồng Đạo Phật Giáo Hòa Hảo / 2023

Mẫu chuông đồng cho đạo phật giáo hòa hảo – Giáo hòa tự tại An Giang,

Quý thầy có nhu cầu đặt đúc chuông đồng xin liên hệ Cơ sở Phong Vân

Phong Vân nhận bao tiếng âm thanh, bao mẫu mã, bao vận chuyển tại Chùa.

Bảo hành chuông 2 năm

Nhận thiết kế, khắc hoa văn họa tiết chuông theo yêu cầu.

Chuông đồng đạo phật giáo hòa hảo – Giáo hòa tự

TÌM HIỂU VỀ ĐẠO HÒA HẢO:

Phật giáo Hòa Hảo, hay còn gọi là đạo Hòa Hảo, là một tông phái Phật giáo do Huỳnh Phú Sổ khai lập năm 1939, lấy pháp môn Tịnh Độ tông làm căn bản và chủ trương tu hành tại gia. Theo thống kê năm 2009 có khoảng 1.433.252 tín đồ Phật giáo Hòa Hảo khiến tôn giáo này trở thành tôn giáo có số tín đồ đông thứ 4 tại Việt Nam. Tín đồ Phật giáo Hòa Hảo tập trung chủ yếu ở miền Tây Nam Bộ. Đặc biệt là An Giang với 936.974 tín đồ Phật giáo Hòa Hảo là tỉnh có số tín đồ Phật giáo Hòa Hảo đông nhất cả nước chiếm 44% dân số toàn tỉnh và chiếm 65% tín đồ Phật giáo Hòa Hảo trong cả nước.[1] tiếp đến là Cần Thơ (227.117 tín đồ) và Đồng Tháp (196.143 tín đồ). Hiện nay, trong thư viện của hơn 30 quốc gia trên thế giới vẫn còn giữ những tài liệu sách báo về đạo này.

Huỳnh Phú Sổ, còn được gọi là “Thầy Tư Hoà Hảo”, tự nhận mình là bậc “sinh như tri”, biết được quá khứ nhìn thấu tương lai, được thọ mệnh cùng với Phật A-di-đà và PhậtThích-ca Mâu-ni, xuống hạ giới có nhiệm vụ truyền bá cho dân chúng tư tưởng Bửu Sơn Kỳ Hương để “Chấn hưng Phật giáo, cứu độ chúng sinh khỏi sông mê, biển khổ và đưa tới chốn Tây phương cực lạc”. Ông chữa bệnh cho người dân bằng các bài thuốc đã học trong lúc đi chữa bệnh, đồng thời qua đó ông truyền dạy giáo lý bằng những bài sám giảng (còn gọi là sấm giảng) do ông soạn thảo. Vì vậy chỉ trong vòng 2 năm từ 1937 đến 1939 số người tin theo ông đã khá đông và ông trở nên nổi tiếng khắp vùng.

Ngày 18 tháng Năm năm Kỷ Mão (tức 4 tháng 7 năm 1939), Huỳnh Phú sổ bắt đầu khai đạo, khi ông chưa tròn 20 tuổi. Nơi tổ chức lễ khai đạo chính là gia đình ông. Ông đã lấy tên ngôi làng Hòa Hảo nơi mình sinh ra để đặt tên cho tôn giáo mới của mình: đạo Hòa Hảo hay Phật giáo Hòa Hảo. Sau đó, ông được các tín đồ suy tôn làm giáo chủ mối đạo, và gọi ông bằng cái tên tôn kính là Huỳnh Giáo chủ.

Ngày 9/9/1945, những người đứng đầu Phật giáo Hòa Hảo lại tổ chức tuần hành ở thị xã Cần Thơ với lý do “đi rước Đức Thầy”, thực chất là dự định cướp chính quyền. Chính quyền tỉnh Cần Thơ giải tán cuộc biểu tình này, bắt những người cầm đầu, đưa ra tòa xét xử và kết án tử hình 3 người đứng đầu. Đối với tín đồ, chính quyền giải thích ý đồ của lãnh đạo Hòa Hảo, khuyên họ trở về nhà tiếp tục làm ăn, không để bị lợi dụng.[3]

Với chủ trương đại đoàn kết toàn dân, ngày 6 tháng 2 năm 1946, tại Chợ Mới (Long Xuyên), Nguyễn Hữu Xuyến, Trung đoàn trưởng Khu 8, đã kí với Trần Văn Soái (Năm Lửa), thủ lĩnh một nhóm Hòa Hảo Dân Xã, một thỏa ước nhằm gác bỏ mọi hiềm khích và hiểu lầm cũ, cùng nhau đoàn kết chống thực dân Pháp[3]. Thỏa ước này gồm 3 điều khoản:

Hai bên cam kết không chống lại nhau. Khi một bên bị Pháp tấn công thì bên kia ứng cứu. Hai bên phối hợp tổ chức đánh Pháp. Tháng 6 năm 1946 Hòa Hảo tổ chức lại lực lượng vũ trang lấy tên Nghĩa quân Cách mạng Vệ quốc Liên đội Nguyễn Trung Trực[5]. Sau một thời gian tạm hòa hoãn với Việt Minh, từ tháng 3-1947, nhóm Trần Văn Soái bỏ không tham gia kháng chiến do Việt Minh lãnh đạo nữa, mà cùng một tiểu đoàn lê dương Pháp mở cuộc càn quét lớn vào 5 làng ở vùng Tân Châu (Châu Đốc). Đại đội 65 Vệ quốc đoàn cùng dân quân du kích địa phương đã đánh trả quyết liệt, buộc lực lượng của Năm Lửa và quân Pháp phải rút lui.[3]

Cuối tháng 3 đầu tháng 4-1947 ở Tịnh Biên, Tri Tôn (Châu Đốc), lực lượng chống Việt Minh đội lốt Hòa Hảo và Cao Đài Tây Ninh liên tục đánh phá vùng Việt Minh kiểm soát, tàn sát dã man thường dân, đốt phá xóm làng, truy lùng cán bộ Việt Minh và quần chúng cốt cán của kháng chiến.[3]

Những người cầm đầu Dân xã Hòa Hảo phát động một cuộc tắm máu ở Tây Nam Bộ vào ngày 6/4/1947. Những người dân không theo Dân xã Hòa Hảo đều bị xem là kẻ thù, bị giết, buộc đá vào cổ, thả trôi sông. Dân chúng vô cùng phẫn uất trước hành động dã man của Dân xã Hòa Hảo.[3] Ngoài việc giết hại dân thường, quân Dân xã Hòa Hảo còn tổ chức các hành động cướp phá ở các tỉnh Long Xuyên, Châu Đốc, Cần Thơ.[3]

Ngày 16 tháng 4 năm 1947 Giáo chủ Phật giáo Hòa Hảo Huỳnh Phú Sổ đột ngột mất tích khi đến Tân Phú, Đồng Tháp Mười để hòa giải xung đột giữa Việt Minh và Phật giáo Hòa Hảo. Các tài liệu của phương Tây, Việt Nam Cộng hòa đều cho rằng Việt Minh thủ tiêu Huỳnh Phú Sổ.[6][7][8]

Sau khi Giáo chủ Phật giáo Hòa Hảo Huỳnh Phú Sổ mất tích, Pháp lợi dụng những người chống chính quyền của Việt Minh trong đạo Hòa Hảo, hỗ trợ trang bị và cung cấp tiền bạc cho họ[3]. Pháp mua chuộc những người đứng đầu Hòa Hảo có tư tưởng chống Việt Minh, lập ra nhiều đơn vị vũ trang mới ngoài những đơn vị vũ trang Hòa Hảo khác thành lập từ năm 1944, chiếm cứ một số vùng ở Tây Nam Bộ, gây ra nhiều tội ác với dân chúng.[3] Được Pháp trợ giúp, những người chống Việt Minh lập ra 4 nhóm nhằm mục đích để chống lại Việt Minh. Các nhóm này gồm:

Nhóm Trần Văn Soái (Năm Lửa), đóng tại Cái Vồn (Vĩnh Long). Nhóm Lâm Thành Nguyên (Hai Ngoán), đóng tại Cái Dầu (Châu Đốc). Nhóm Lê Quang Vinh (Ba Cụt), đóng tại Thốt Nốt (Long Xuyên). Nhóm Nguyễn Giác Ngộ, đóng tại Chợ Mới (Long Xuyên).[3] Năm 1947, các lực lượng Việt Minh vừa tổ chức tuyên truyền vũ trang, vừa mở một trận đánh lớn tại Kinh 13. Chỉ huy quân sự của Dân xã Hòa Hảo lừa dối tín đồ nói: “Súng Việt Minh bắn không nổ!”, xua tín đồ tràn vào trận địa của Việt Minh. Lực lượng vũ trang của Việt Minh một mặt giải thích cho các tín đồ hiểu, mặt khác đánh quân của Dân xã Hòa Hảo, diệt nhiều lính, thu nhiều súng, có 1 Bazoka. Ở khu vực giữa Phú An – Phú Lâm (Tân Châu), Đại đội 65 đánh bật lực lượng của Dân xã ra khỏi vùng này. Việt Minh mở rộng công tác vũ trang tuyên truyền về hướng Thoại Sơn, tiếp tục tiến công ở Ba Thê, đánh lính lê dương đi tàu sắt đổ bộ lên Mốp Văn và Núi Sập, diệt trên 200 lính.[3]

Tháng 6/1947, nhằm thu hút tín đồ Hòa Hảo tạo thành khối đoàn kết các lực lượng chống Pháp, Việt Minh thành lập Ban Hòa Hảo vận tại Chợ Mới – Nhà Bàn, tập trung hoạt động vùng Long Xuyên, Châu Đốc, tuyên truyền chính sách đại đoàn kết dân tộc, vận động tín đồ Hòa Hảo cùng toàn dân kháng chiến chống xâm lược Pháp.[3]

Do Phật giáo Hòa Hảo có tín đồ rất đông ở miền Tây, nhất là các tỉnh: Long Xuyên, Châu Đốc, Hà Tiên, Cần Thơ… Đạo này có tổ chức chính trị là Việt Nam Dân chủ Xã hội Đảng làm nòng cốt, nên có nhiều diễn biến phức tạp ngay cả trong nội bộ của đạo. Những người chống Việt Minh đã lợi dụng danh nghĩa đạo Hòa Hảo, tổ chức nhiều lực lượng vũ trang hợp tác với Pháp, áp bức khủng bố dân chúng, gây ra nhiều tội ác.[3]

Dù vậy, đa số tín đồ là nông dân, khi Việt Minh tích cực vận động thì lần lượt họ giác ngộ và tham gia cuộc kháng chiến do Việt Minh lãnh đạo. Sư thúc Hòa Hảo Huỳnh Văn Trí là người chỉ huy một đơn vị vũ trang trong kháng chiến đã có công lớn trong công cuộc vận động tín đồ Hòa Hảo tham gia kháng chiến. Trong những năm 1949 – 1950, nhiều đồn bót đã án binh bất động, “trung lập hóa”, không đàn áp dân chúng và tránh không đụng độ với lực lượng Việt Minh.[3]

Chính phủ Đệ nhất Cộng hòa sau khi thành lập năm 1955 thì mở những cuộc hành quân như “Chiến dịch Đinh Tiên Hoàng” rồi “Chiến dịch Nguyễn Huệ” để bình định các giáo phái hầu thống nhất quân lực. Các lãnh tụ Hòa Hảo như tướng Trần Văn Soái (biệt danh Năm Lửa) rút về cố thủ Đồng Tháp; tướng Lê Quang Vinh (Ba Cụt) thì đem quân về chống giữ ở Châu Đốc, Long Xuyên, Rạch Giá. Bị truy nã Trần Văn Soái ra hàng còn Lê Quang Vinh thì bị bắt, sau đem xử tử.[9]

Năm 1972 Lê Quang Liêm tách ra khỏi phái cũ của Lương Trọng Tường thành lập ban trị sự trung ương mới. Lúc này đạo Hòa Hảo có tới 3 ban trị sự trung ương cùng tồn tại cho đến thống nhất đất nước. Dù phân hóa, Phật giáo Hòa Hảo tiếp tục phát triển vào thời Đệ nhị Cộng hòa trong đó một sự kiện lớn là việc thành lập Viện Đại học Hòa Hảo năm1972 ở Long Xuyên. Tính đến thời điểm Việt Nam Cộng hòa sụp đổ, các nhóm Hòa Hảo điều hành tổng cộng sáu trường trung học phổ thông, một viện đại học và hai bệnh viện. Tất cả những cơ sở này sau đó đều bị chính quyền mới trưng dụng quốc hữu hóa.[10]

Hiện nay, Ban trị sự và chính quyền huyện Phú Tân có ý định xây dựng tượng đài Huỳnh Phú Sổ tại một địa điểm ở thị trấn Phú Mỹ, huyện Phú Tân[cần dẫn nguồn].

Phần thứ nhất: Sấm Giảng Giáo Lý: Phần này gồm 6 quyển giảng:

1. Quyển thứ nhất: Sấm giảng khuyên người đời tu niệm. Viết theo lối văn lục bát, dài 912 câu.

2. Quyển thứ nhì: Kệ dân của người Khùng. Viết theo lối văn thất ngôn trường thiên, dài 476 câu.

3. Quyển thứ ba: Sám Giảng. Viết theo lối văn lục bát, dài 612 câu.

4. Quyển thứ tư: Giác mê tâm kệ. Viết theo thể văn thất ngôn trường thiên, dài 846 câu.

5. Quyển thứ năm: Khuyến thiện Quyển này dài 776 câu, đoạn đầu và đọn cuối viết theo thể thơ lục bát, đoạn giữa theo lối thơ thất ngôn trường thiên.

6. Quyển thứ sáu: Những điều sơ lược cần biết của kẻ tu hiền. Quyên này viết theo lối văn xuôi (tản văn), trình bày toàn bộ tông chỉ, giới luật của Đạo.

Phần thứ hai: Thi Văn Giáo Lý Phần này bao gồm hơn 200 bài thi thơ do Đúc Huỳnh Giáo chủ viết từ năm Kỷ Mão (1939) đến năm Đinh Hợi (1947).

Có thể nhận thấy giáo lý Hòa Hảo là sự tiếp thu và nâng cao tư tưởng Bửu Sơn Kỳ Hương của Đoàn Minh Huyên, gồm phần “Học Phật” và phần “Tu nhân”:

Người tín đồ PGHH thờ cúng ba ngôi hương án tại nhà, bao gồm:

– Thứ nhất là Ngôi thờ Cửu Huyền Thất Tổ: thờ cúng tổ tiên, theo đạo lý uống nước nhớ nguồn.

– Thứ hai là Ngôi thờ Tam Bảo: thờ Thập phương Phật, Pháp, Tăng. Ngôi thờ này có đặt một tấm vải màu nâu (gọi là Trần Dà) tượng trưng cho sự thoát tục và sự đoàn kết. Chúng ta hãy xem qua lời dạy của Đức Huỳnh Giáo chủ:” Nhưng riêng về cư-sĩ ở nhà không nên tạo thêm nữa; nên thờ đơn-giản cho lòng tin-tưởng trở lại tâm hồn hơn ở vào các sự hào nhoáng bề ngoài. Từ trước chúng ta thờ trần điều là di tích của Đức Phật Thầy Tây-An để lại. Nhưng gần đây có nhiều kẻ thờ trần điều tự xưng cùng tông-phái với chúng ta, làm sái phép, sái với tôn-chỉ của Đức Phật, nên toàn-thể người trong Đạo đổi lại màu dà. Lại nữa, từ trước đến giờ các sư dùng màu dà để biểu-hiện cho sự thoát tục của mình, và màu ấy là sự kết hợp của tất cả các màu sắc khác, nên có thể tượng trưng cho sự hòa-hiệp của nhân-loại không phân biệt chủng tộc và cá-nhân. Vì vậy chúng ta dùng nó trong chỗ thờ-phượng để tiêu-biểu cho tinh-thần vô thượng của nhà Phật”.

-Thứ ba là Ngôi Thông Thiên: đặt ngoài trời.

“Về cách cúng Phật, chỉ nên cúng nước lạnh, bông hoa và nhang thôi. Nước lạnh tiêu-biểu cho sự trong sạch, bông hoa tiêu-biểu cho sự tinh khiết, còn nhang, dùng đặng bán mùi uế-trược. Ngoài ra chẳng nên cúng một món gì khác cả. Bàn thờ ông bà cúng món chi cũng đặng”. (lời Đức Huỳnh Giáo chủ).

Như trên thì, ngôi thờ Tam Bảo và ngôi Thông Thiên chỉ đặt lư hương, bình hoa, ly nước sạch, ngoài ra không cúng gì khác nữa. Bàn thờ Cửu Huyền Thất Tổ thì ngoài ba thứ trên có thể dâng cúng thêm thực phẩm: bánh trái, thức ăn nhưng nên cúng chay.

Người tín đồ Phật giáo Hoà Hảo hành lễ mỗi ngày hai thời vào buổi sáng và buổi chiều theo nghi thức đã được chỉ dạy trong quyển thứ sáu.

Ngày 1 tháng Giêng: Tết Nguyên Đán Ngày Rằm tháng Giêng: Lễ Thượng Ngươn Ngày 25 tháng 2: ngày Đức Huỳnh Giáo chủ bị ám sát[11] Ngày 8 tháng 4: Lễ Phật đản Ngày 18 tháng 5: Lễ Khai sáng Đạo Phật giáo Hoà Hảo Ngày Rằm tháng 7: Lễ trung Ngươn Ngày 12 tháng 8: Vía Phật thầy Tây An Ngày Rằm tháng 10: Lễ hạ Ngươn Ngày Rằm tháng 11: Lễ Phật A-di-đà Ngày 25 tháng 11: Lễ Đản Sinh Đức Huỳnh Giáo chủ. Ngày 8 tháng Chạp: Lễ Phật thành đạo

MUA NGAY Tùy chọn thời gian giao hàng

Từ khóa: chuong dong dao hoa hao Chuông đồng đạo phật giáo hòa hảo – Giáo hòa tự đại hồng chung đạo hòa hảo

10 Mẫu Lọ Hoa Thờ Bằng Đồng Thờ Cúng, Cung Tiến Đình Chùa Đẹp Giá Tốt / 2023

Lọ Hoa thờ bằng đồng là lọ hoa bằng đồng dùng thờ cúng, đặt 2 bên ban thờ hoặc đặt trên bàn thờ. Thường bàn thờ gia tiên có 1 hoặc 2 lọ để cắm hoa vào ngày mùng 1 và ngày 15 âm hàng tháng.

Vào ngày thường, lọ này để không nên người xưa gọi là độc bình. Lọ độc bình thường đặt bên tay trái (hướng đông) theo quan niệm: đông bình tây quả. Ngày nay, trên bàn thờ, lọ hoa bằng đồng thường đi kèm với bó sen bằng đồng có đủ hoa, lá, nụ, đài sen. Vào các dịp thờ cúng, có thể cắm thêm 1 bình hoa tươi bên cạnh.

Tại các phòng thờ lớn, điện thờ, nhà thờ họ, đình chùa, thường thấy đôi lọ lớn đặt 2 bên ban thờ với ý nghĩa trưng bày, thờ cúng, không dùng với mục đích cắm hoa. Đôi lọ lớn có thể dùng sứ, gỗ hoặc đồng. Nhưng đồng vẫn là tối ưu hơn cả do bền đẹp, hoạ tiết phong phú và ý nghĩa, để càng lâu đời càng có giá trị, không sợ đổ vỡ, mối mọt.

Thế giới lọ hoa bằng đồng cũng rất phong phú đa dạng, nhiều khi gây khó khăn cho sự lựa chọn của khách hàng. Chúng tôi xin giới thiệu 10 mẫu lọ hoa cơ bản, dễ thấy trên thị trường giúp quý khách hàng tham khảo và dễ dàng lựa chọn hơn.

1. Đôi lọ lục bình tai voi khảm tam khí:

Đôi lọ lục bình tai voi được đúc thủ công bằng 100% đồng nồi cao cấp. Sau khi đúc xong được các nghệ nhân chạm khảm tam khí rất tinh xảo và sắc nét. Khảm tam khí ở đây là khảm chuẩn đẹp cao cấp 3 loại kim khí: Bạc trắng, đồng đỏ và đồng vàng. Ngoài ra, trên đôi lộc bình có 2 chữ Phúc Lộc còn được dát vàng 9999.

Đôi lọ lộc bình bằng đồng khảm tam khí có tên gọi là lọ lộc bình tai voi vì phần trên cổ lọ đúc nổi hoa văn con voi. Mỗi một lọ lộc bình đều có 2 đầu voi ở 2 bên. Mặt voi được dát vàng 9999, ngai voi được bọc bạc lá.

Mỗi một chiếc lọ lục bình bằng đồng được chia làm 3 mặt được đóng trong huỳnh. Mỗi một mặt đều được đúc nổi hoa văn họa tiết nổi cảnh Phúc Lộc Thọ rất tinh xảo. Trên mỗi lọ lộc bình đều đúc nổi 2 chữ Phúc và Lộc, bề mặt các chữ được dát vàng 9999 toàn bộ.

Đôi lục bình tai voi là mẫu cổ, có kích thước lớn, thường là 1m27 theo thước lỗ ban và vừa vặn để trang trí.

Cặp lọ lục bình dùng để đặt 2 bên ban thờ, đặt cạnh bàn tiếp khách trong phòng khách rất đẹp và sang trọng.

2. Đôi lọ lộc bình tứ quý bằng đồng cát tút:

Sở dĩ gọi là lọ tứ quý bới trên thân đôi lọ được chạm đủ 4 cảnh trong bức tranh tứ quý: Tùng, Cúc, Trúc, Mai rất ý nghĩa.

Trên cổ bình khắc chữ Phúc và Lộc, chân đế chạm chữ Thọ và đường triện tỉ mỉ.

Đây là đôi lọ cực kỳ đẳng cấp ngoài ý nghĩa thì còn rất giá trị. Đôi lọ hoa được đúc nguyên khối từ đồng cát tút, tức đồng vỏ đạn quân sự, có màu vàng ánh xanh như màu vàng tây, để nguyên màu mộc, không hoen gỉ, bong tróc, ôxi hoá.

Màu sắc tươi sáng, sang trọng, hoa văn ý nghĩa, tinh xảo, đôi lọ rất thích hợp bày phòng khách và phòng thờ, cung tiến vào đình chùa…

Ngoài kích cỡ lớn, lọ hoa tứ quý bằng đồng cát tút còn có các kích cỡ nhỏ để đặt trên bàn thờ cúng rất đẹp với chất lượng tương tự.

3. Lọ hoa bằng đồng thau cỡ lớn thờ cúng:

Đôi lọ hoa được đúc thủ công bằng đồng thau, các kích cỡ 61cm, 81cm, 89cm…

Lọ hoa đồng thau thường để nguyên màu vàng của đồng mộc hoặc hun giả cổ nếu đi cùng bộ đồ thờ màu giả cổ.

Sau khi đúc xong, bề mặt được đánh nhẵn mịn và chạm hoa văn. 1 mặt chạm hoa văn Tùng Lộc, 1 mặt chạm hoạ tiết Tiên Đào, thể hiện sự trường thọ, sức sống bền bỉ, mạnh mẽ, ý chí vươn lên, Phúc Lộc đầy nhà.

Lọ hoa bằng đồng thau có giá thành tương đối rẻ so với các chất liệu và quy cách lọ hoa đồng khác nên cũng được nhiều người lựa chọn để thờ cúng và cung tiến.

4. Đôi lọ hoa bằng đồng khảm tam khí:

Đôi lọ hoa đồng đúc thủ công bằng đồng đỏ cao cấp, chạm khảm tam khí chủ đạo là bạc lá cùng với đồng đỏ, đồng vàng.

Lọ hoa đồng khảm tam khí sản phẩm hàng kỹ tinh xảo, được khảm hoàn toàn bằng tay từ những nghệ nhân lâu năm tạo nên một tác phẩm nghệ thuật chân chính, đường nét sắc sảo, hoa văn nổi bật, tỉ mỉ, không bị loang lổ, xiêu vẹo như các sản phẩm hàng chợ.

Lọ hoa chạm khảm các cảnh sắc tự nhiên, tỉ mỉ, chi tiết nên thường không có kích cỡ bé, kích cỡ nhỏ nhất là cao 42cm. Đôi lọ hoa 42cm đặt trên bàn thờ gia tiên đi cùng bộ đồ thờ khảm tam khí 50cm, hoặc 60cm.

Đôi lọ khảm tam khí thờ cúng được chạm cảnh tùng lộc, song hạc hoặc khảm tích Tử Mẫu Chí Thành. Các kích cỡ lớn như 81cm, 89cm, 1m27… được đặt trên đôn gỗ để trang trí phòng khách cực đẹp. Các tích được khảm trên đôi lọ chi tiết, tỉ mỉ, không khác gì 1 bức tranh ý nghĩa.

Mặt sau được khảm cảnh làng quê hương Việt Nam vốn bình dị và gắn liền với đời sống của nhiều người dân. Khung cảnh cây đa, giếng nước, sân đình, cảnh canh tác của người dân, ông đồ dạy học và lũ trẻ chơi đùa. Cảnh khảm này như muốn nói về cậu học khi còn nhỏ rất tinh nghịch, không chịu học hành, mải chơi, quậy phá. Nhưng được người mẹ từ từ chỉ bảo, khuyên răn dạy dỗ. Theo năm tháng cậu lớn dần lên và dần trưởng thành, thấm nhuần những lời khuyên dạy của mẹ cậu đã tu chí học hành cẩn thận và đi ra ngoài xã hội để lập nghiệp.

Mặt trước của lọ lục bình vẫn là cảnh làng quê hương, tuy có cảnh vật có phần thay đổi nhưng cảnh sắc thì vẫn còn nguyên. Lúc này người con trai sau khi nghe lời mẹ đã trưởng thành, ra ngoài xa hội xây dựng sự nghiệp đã thành danh thành đạt thì quay về quê hương bái kiến tổ tiên, báo hiếu cha mẹ. Đây là một thành quả to lớn vô cùng của người mẹ sau khi đã từng ngày chỉ bảo người con trai của một từ một cậu bé

5. Đôi lọ hoa bằng đồng khảm ngũ sắc tinh xảo cao cấp:

Cũng giống như đôi lọ tam khí, nhưng đôi lọ ngũ sắc được chạm khảm thêm 2 loại kim khí là vàng 9999 và đồng xanh hoặc đồng đen. Hoạ tiết được phối các màu kim khí cực kỳ nổi bật và sắc nét.

Đôi lọ hoa khảm ngũ sắc cũng được chạm khảm các cảnh sắc mang ý nghĩa như Tùng Hạc, Tùng Lộc, Phúc Lộc, Tứ Quý tùng cúc trúc mai hoặc Tứ Linh long ly quy phụng rất đẹp và ý nghĩa.

Lọ hoa ngũ sắc có chất lượng tốt, bền màu, khá nặng. Các kích cỡ phổ thông như 42cm, 61cm, 81cm…

6. Lọ hoa bằng đồng thau cỡ nhỏ thờ gia tiên:

Lọ hoa bằng đồng thau cỡ nhỏ mẫu phổ thông với các kích cỡ cơ bản: 25cm, 30cm, 37cm… phù hợp kích cỡ các bộ đồ thờ cỡ nhỏ và vừa.

Đôi lọ hoa đúc thủ công bằng đồng thau, để màu vàng của đồng mộc, hoa văn sen hạc đúc nổi sắc nét.

Đây là mẫu lọ hoa phổ biến trong các gia đình khi sử dụng bộ đồ thờ bằng đồng thau các loại. Lọ hoa này cũng có thể dùng để cắm hoa tươi vào các dịp thờ cúng. Tuy nhiên chỉ nên cắm trong ngày, không đổ nước để tránh làm hoen gỉ đồng.

7. Lọ hoa mẫu đơn Phú Quý Hoa Khai:

Lọ hoa mẫu đơn Phú Quý Hoa Khai là một trong những mẫu lọ hoa bằng đồng đẹp nhất, có kích thước vừa phải không quá to, thích hợp đặt thờ trên bàn thờ cúng gia tiên, vào các dịp cúng lễ được dùng để cắm hoa.

Đây là mẫu lọ hoa khá độc đáo và đẹp. Ở hai bên cổ lọ hoa là đôi cá chép được đúc các đường nét rất tinh xảo.

Cá chép đại diện cho Thuỷ khí tức là nguồn tài lộc dồi dào. Đây là pháp khi đại diện cho công danh và tài lộc. Trong kinh doanh, cá Chép được cho là linh vật số một trong việc kích thích “nguồn Thủy” tại nơi nó trấn giữ. Do đó Cá Chép là hình tượng đem đến vận may, hoá giải sát khí, bệnh tật và tai hoạ.

Hoa mẫu đơn biểu tượng cho sự thịnh vượng và sắc đẹp. Mẫu đơn thường được gọi là hoa vương, mẫu đơn vương. Hoa mẫu đơn đại diện cho tình cảm gia đình, tình duyên, tình yêu đôi lứa, mang đến may mắn, hạnh phúc cho cuộc sống gia đình, rất tốt trong phong thủy.

Ngoài dùng để thờ, nhờ sự độc đáo, ý nghĩa và hoạ tiết nổi bật, đôi lọ Hoa Khai Phú Quý được đặt trang trí nhiều tại phòng khách. Để tăng vượng khí và sự sang trọng, đẳng cấp, đôi lọ hoa còn được dát vàng 9999 toàn bộ, nổi bật màu vàng sáng bóng rất đẹp.

8. Lọ hoa bằng đồng thờ cúng vuông mẫu cổ:

Đây là mẫu lọ hoa khảm tứ quý bằng đồng được đúc từ mẫu cổ ra, mẫu lọ hoa cổ này có hàng trăm năm tuổi, nên khi đúc ra vẫn giữ nguyên được các đường nét cơ khối rất đẹp và hiếm. Xung quanh đôi lọ hoa đồng được khảm cảnh tứ quý Tùng Cúc Trúc Mai rất tinh xảo và đẹp.

Lọ hoa có cơ khối dáng hình vuông, bầu lọ hoa dáng bầu vuông, miệng lọ hoa vuông được khảm điểm hoa văn chấm bằng bạc trắng, trên mỗi cổ của lọ hoa có 4 mặt đều được khảm 2 mặt là chữ Thọ, 1 mặt khảm 3 chữ Phúc Lộc Thọ, 1 mặt khảm 3 chữ Đức Lưu Quang bằng bạc lá trắng. 4 Mặt phần bầu lọ hoa khảm cảnh tứ quý Tùng Cúc Trúc Mai trong khung đóng huỳnh. Chân lọ hoa dáng chân khánh khảm hoa văn dây tinh xảo mềm mại.

Lọ hoa mẫu cổ đi cùng với đỉnh thờ và chân nến vuông cùng mẫu. Dành cho người am hiểu, thích chơi sản phẩm độc và lạ.

Mẫu lọ hoa cổ đặt tại đình chùa rất đẹp và ý nghĩa.

9. Lọ hoa thờ bằng đồng Đài Loan:

Đây là mẫu lọ hoa có giá tốt nhất hiện nay. Giá 1 đôi lọ hoa đồng Đài Loan chỉ từ 200k đến 700k, phù hợp với điều kiện kinh tế của nhiều gia đình.

Tuy nhiên, hiện nay lọ hoa đồng không còn được lựa chọn nhiều, do cũng ít gia đình sử dụng đồ thờ Đài Loan cùng loại nữa. Thay vào đó, khách hàng chọn các sản phẩm chất lượng hơn với giá cao hơn nên cũng dùng lọ hoa loại khác đắt tiền hơn.

Lọ hoa đồng Đài Loan có đặc điểm là màu vàng sáng nổi bật, nhẹ và mỏng hơn các dòng đúc thủ công. Là loại lọ hoa được sản xuất bằng máy theo công nghệ Đài Loan với các hoạ tiết không giống với hoạ tiết truyền thống văn hoá Việt Nam.

Choé là một dạng khác của lọ hoa trên bàn thờ. Choé có thân phình to và có nắp đậy, chủ yếu dùng với ý nghĩa trang trí.

Choé cũng có các loại đồng thau, đồng đỏ khảm tam khí, khảm ngũ sắc. Các kích cỡ cơ bản: 30cm, 38cm, 48cm, 55cm…

Các sản phẩm choé cỡ lớn, chạm khảm hoạ tiết tinh xảo và ý nghĩa cũng được đặt trên đôn gỗ để trang trí ở phòng khách và phòng thờ. Choé luôn đi thành 2 chiếc 1 cặp chứ không đi riêng lẻ.

Thân choé khá rộng nên có thể chạm khảm đầy đủ nhiều tích và cảnh có ý nghĩa.

Choé đồng khảm ngũ sắc tinh xảo:

Cách Sử Dụng Chuông Mõ Tại Nhà / 2023

Chuông gia trì và mõ là hai pháp khí quan trọng để hàng Phật tử tụng kinh, niệm Phật tại tư gia. Chuông gia trì được đúc bằng chất liệu đồng, kích thước vừa và nhỏ, thường đặt phía bên tay phải người chủ lễ, khi thỉnh chuông tiếng ngân vang thanh thoát mà trầm hùng.

Cách sử dụng chuông mõ tại nhà

Chuông gia trì chủ yếu sử dụng trong khi làm lễ, tụng niệm. Tiếng chuông gia trì là những hiệu lệnh cần thiết để buổi lễ diễn ra nhịp nhàng đúng với trình tự của khoa nghi, giúp mọi người tham dự lễ hòa hợp, thanh tịnh và hướng đến nhất tâm.

Người thỉnh chuông gia trì gọi là duy-na. Trong buổi lễ, duy-na là người điều hành buổi lễ theo đúng với ý hướng của vị chủ lễ. Vì vậy, người thỉnh chuông gia trì phải am tường khoa nghi và chú tâm cao độ mới có thể làm tốt phận sự của mình. Ngoài chuông gia trì, mõ cũng là một pháp khí rất quan trọng. Mõ được làm bằng gỗ, hình bầu dục, được đặt phía bên tay trái người chủ lễ, khi gõ mõ phát ra tiếng trầm hùng mà thanh thoát. Trong khi tụng niệm, tiếng mõ có tác dụng duy trì sự nhịp nhàng đều đặn, không lộn xộn đồng thời tạo ra cảm giác hân hoan, phấn chấn, và nhờ đó, người tụng niệm khỏi bị rối trí loạn tâm, chuyên nhất vào tiếng kệ lời kinh. Ngoài ra, tiếng mõ nhằm cảnh tỉnh tâm trí những người tham gia tụng niệm khỏi bị buồn ngủ, dã dượi, và cũng chính vì ý này mà quai mõ, thân mõ thường chạm trổ hình cá, loài không bao giờ nhắm mắt ngủ để biểu thị cho sự luôn luôn tỉnh thức. Người gõ mõ trong buổi lễ gọi là duyệt chúng, nghĩa là làm cho đại chúng đẹp lòng, tụng niệm một cách hòa hợp, hân hoan. Vì thế, gõ mõ làm cho vui lòng đại chúng trong khi tụng niệm nhằm giúp họ hướng đến nhất tâm là cả một nghệ thuật, phải học tập và rèn luyện thật nhiều mới có thể làm tròn phận sự. Về cách thức sử dụng chuông mõ tại tư gia, trước khi làm lễ cần đốt hương đèn, kế đó chủ lễ mặc áo tràng trang nghiêm bước vào vị trí trước bàn kinh chuẩn bị quỳ niêm hương, thỉnh ba tiếng chuông (trước khi thỉnh chuông cần thức chuông, giập nhẹ dùi vào vành chuông). Trong trường hợp không có người giúp chuông mõ hay tụng niệm một mình thì vị chủ lễ phải kiêm hết cả chuông lẫn mõ.

Người thỉnh chuông gia trì gọi là duy-na. Trong buổi lễ, duy-na là người điều hành buổi lễ theo đúng với ý hướng của vị chủ lễ. Vì vậy, người thỉnh chuông gia trì phải am tường khoa nghi và chú tâm cao độ mới có thể làm tốt phận sự của mình.Ngoài chuông gia trì, mõ cũng là một pháp khí rất quan trọng. Mõ được làm bằng gỗ, hình bầu dục, được đặt phía bên tay trái người chủ lễ, khi gõ mõ phát ra tiếng trầm hùng mà thanh thoát.Trong khi tụng niệm, tiếng mõ có tác dụng duy trì sự nhịp nhàng đều đặn, không lộn xộn đồng thời tạo ra cảm giác hân hoan, phấn chấn, và nhờ đó, người tụng niệm khỏi bị rối trí loạn tâm, chuyên nhất vào tiếng kệ lời kinh. Ngoài ra, tiếng mõ nhằm cảnh tỉnh tâm trí những người tham gia tụng niệm khỏi bị buồn ngủ, dã dượi, và cũng chính vì ý này mà quai mõ, thân mõ thường chạm trổ hình cá, loài không bao giờ nhắm mắt ngủ để biểu thị cho sự luôn luôn tỉnh thức.Người gõ mõ trong buổi lễ gọi là duyệt chúng, nghĩa là làm cho đại chúng đẹp lòng, tụng niệm một cách hòa hợp, hân hoan. Vì thế, gõ mõ làm cho vui lòng đại chúng trong khi tụng niệm nhằm giúp họ hướng đến nhất tâm là cả một nghệ thuật, phải học tập và rèn luyện thật nhiều mới có thể làm tròn phận sự.Về cách thức sử dụng chuông mõ tại tư gia, trước khi làm lễ cần đốt hương đèn, kế đó chủ lễ mặc áo tràng trang nghiêm bước vào vị trí trước bàn kinh chuẩn bị quỳ niêm hương, thỉnh ba tiếng chuông (trước khi thỉnh chuông cần thức chuông, giập nhẹ dùi vào vành chuông). Trong trường hợp không có người giúp chuông mõ hay tụng niệm một mình thì vị chủ lễ phải kiêm hết cả chuông lẫn mõ.

Kế đến vị chủ lễ xướng bài Quán tưởng, cuối bài xá Phật một xá, thỉnh một tiếng chuông. Rồi đến đảnh lễ Tam bảo, trước mỗi lạy thỉnh một tiếng chuông (khi vị chủ lễ lạy trán chạm đất thì giập chuông – dùng dùi chuông gõ vào vành chuông nhưng giữ lại, không cho âm thanh ngân lên).

Sau khi lễ Phật xong, mọi người ngồi xuống hướng về Tam bảo, chuẩn bị khai chuông mõ để tụng niệm. Ở đây, để tiện diễn đạt, tạm quy ước tiếng chuông là (c) và tiếng mõ là (m). Trước, thỉnh ba tiếng chuông rời nhau – (c), (c), (c). Sau ba tiếng chuông, gõ bảy tiếng mõ theo cách: bốn tiếng đầu rời, hai tiếng sau dính liền, một tiếng sau cùng rời – (m), (m), (m), (m), (m)(m), (m). Tiếp theo là thỉnh chuông và mõ đan xen nhau theo cách: chuông trước mõ sau, ba lần như vậy thì ngừng chuông, kế mõ gõ tiếng thứ tư, tiếng mõ thứ năm và sáu dính liền nhau, tiếng mõ thứ bảy rời – (c), (m), (c), (m), (c), (m), (m), (m)(m), (m) – chấm dứt bằng tiếng giập chuông.

Khai chuông mõ xong thì bắt đầu tụng niệm, lệ thường mỗi chữ một tiếng mõ. Cần chú ý là khi tiếng kinh (kệ) đầu tiên cất lên, chưa gõ mõ, tiếng thứ hai mới đệm một tiếng mõ, tiếng thứ ba không gõ mõ, tiếng thứ tư, thứ năm về sau nhịp mõ đều đặn. Nếu tụng thần chú thì nhanh, tụng kinh sám thì chậm hoặc vừa; tụng kinh bộ thì nên gõ mõ theo lối “nhanh dần đều”. Đến khi chấm dứt bài kinh (kệ), muốn dừng lại, thì những tiếng mõ gần cuối gõ chậm lại, hai tiếng mõ áp chót dính liền và tiếng mõ cuối cùng gõ rời ra – (m), (m)(m), (m).

Khai chuông mõ xong thì bắt đầu tụng niệm, lệ thường mỗi chữ một tiếng mõ. Cần chú ý là khi tiếng kinh (kệ) đầu tiên cất lên, chưa gõ mõ, tiếng thứ hai mới đệm một tiếng mõ, tiếng thứ ba không gõ mõ, tiếng thứ tư, thứ năm về sau nhịp mõ đều đặn. Nếu tụng thần chú thì nhanh, tụng kinh sám thì chậm hoặc vừa; tụng kinh bộ thì nên gõ mõ theo lối “nhanh dần đều”. Đến khi chấm dứt bài kinh (kệ), muốn dừng lại, thì những tiếng mõ gần cuối gõ chậm lại, hai tiếng mõ áp chót dính liền và tiếng mõ cuối cùng gõ rời ra – (m), (m)(m), (m).

Thỉnh chuông cũng vậy, thường thì cuối bài kệ hay cuối đoạn kinh điểm một tiếng chuông. Lúc niệm Phật, muốn chuyển qua danh hiệu khác, thỉnh một tiếng chuông. Khi muốn chấm dứt thì tiếng thứ năm (hoặc thứ ba) gần cuối bài kinh (kệ) thỉnh một tiếng chuông, tiếng cuối cùng thỉnh thêm một tiếng chuông nữa.

Về cách thức tụng niệm, bạn hãy thỉnh một cuốn kinh Nhật tụng bằng tiếng Việt (tránh dùng kinh Nhật tụng phiên âm Hán-Việt, vì phần nhiều không hiểu nghĩa). Trong kinh, mỗi phần đều có hướng dẫn tụng niệm rất rõ ràng. Phối hợp với cách sử dụng chuông mõ như đã nêu, bạn có thể tụng kinh, niệm Phật, lễ Phật hàng ngày rất dễ dàng.

Hoàng Quân

Cập nhật thông tin chi tiết về Chuông Đồng Giá Bao Nhiêu? Nơi Đúc Chuông Chùa Lớn Nhỏ Cung Tiến / 2023 trên website Apim.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!