Xu Hướng 2/2024 # Chu Giai Kinh Cung Tu Thoi # Top 11 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Chu Giai Kinh Cung Tu Thoi được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Apim.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

PHỤ LỤC

NGÀY SÓC VỌNG TẠI ĐIỆN THỜ PHẬT MẪU

ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ

Tam Giáo qui nguyên, Ngũ Chi phục nhất

Thiên vận …………….niên, …………ngoạt,……………..nhựt, ngọ thời, hiện tại Việt Nam quốc, ……………..tỉnh, …………huyện, …………xã, cư trụ Điện Thờ Phật Mẫu chi trung.

Kim hữu đệ tử …………………………………………., công đồng chư Thiện Nam Tín Nữ đẳng, quì tại Điện tiền, thành tâm trình tấu :

HUỲNH KIM KHUYẾT NỘI

Huyền Khung Cao Thượng Đế Ngọc Hoàng Đại Thiên Tôn.

Diêu Trì Kim Mẫu Vô Cực Thiên Tôn.

TAM TÔNG CHƠN GIÁO

Tây Phương Giáo Chủ Thích Ca Mâu Ni Thế Tôn.

Thái Thượng Đạo Tổ Tam Thanh Ứng Hóa Thiên Tôn.

Khổng Thánh Tiên Sư Hưng Nho Thạnh Thế Thiên Tôn.

TAM KỲ PHỔ ĐỘ TAM TRẤN OAI NGHIÊM

Thường Cư Nam Hải Quan Âm Như Lai.

Lý Đại Tiên Trưởng kiêm Giáo Tông Đ. Đ. T. K. P. Đ.

Hiệp Thiên Đại Đế Quan Thánh Đế Quân.

Gia Tô Giáo Chủ Cứu Thế Thiên Tôn.

Thái Công Tướng Phụ Quản Pháp Thiên Tôn.

Tam Châu Bát Bộ Hộ Pháp Thiên Tôn.

Thập phương chư Phật, Vạn chưởng chư Tiên, Liên đài chi hạ.

Kim vì …(Sóc hoặc Vọng)…nhựt lương thần, chư Thiện Nam Tín Nữ đẳng nghiêm thiết đàn tràng hương đăng hoa trà quả, thanh chước chi nghi thành tâm hiến lễ.

Ngưỡng vọng Kim Bàn Phật Mẫu dĩ đức từ bi chuyển họa vi phước, thoát ách tiêu tai, Thế giới an ninh, tương hòa nhơn loại, phát nguyện Quốc thể Việt Nam thịnh mãn vinh quang, hà thanh hải yến, sanh chúng an cư lạc nghiệp, phục hồi Đường Ngu chi phong hóa.

Ngưỡng vọng Kim Bàn Phật Mẫu phát hạ hồng ân, hoằng khai Đại Đạo, độ tận chúng sanh, hiệp trí hòa tâm, tinh thần qui nhứt, vĩnh sùng chánh giáo thoát khổ tiền khiên, triêm ngưỡng Mẫu ân tứ phước.

Chư Đệ tử nguyện Kim Bàn Phật Mẫu cứu độ các đẳng chơn linh qui liểu tảo đắc siêu thăng, an nhàn Cực Lạc.

Chư Đệ Tử thành tâm khẩn nguyện cúc cung bá bái thượng tấu

Thiện nam Tín nữ 善 男 信 女 : Phái nam và phái nữ có lòng tin theo Tôn giáo (Phật pháp). Đây chỉ các Tín đồ nam nữ

Dĩ đức từ bi, chuyển họa vi phước, thoát ách tiêu ta i

Lấy đức từ bi mà chuyển họa thành phước, độ cho thoát khỏi tai ách.

Thế giới an ninh, tương hòa nhơn loại, phát nguyện Quốc thể Việt Nam thịnh mãn vinh quang, hà thanh hải yến, sanh chúng an cư lạc nghiệp, phục hồi Đường Ngu chi phong hóa

Thế giới được an ninh, nhơn loại được hòa bình cùng nhau, nguyện cho Quốc thể Việt Nam tràn đầy vinh quang, sông trong biển lặng (Đời thái bình), sanh chúng được an cư lạc nghiệp, phục hồi trở lại nền phong hóa của Đường Ngu.

Sông Hoàng Hà nhiều bùn lầy nên thường đục, khi nào nước sông trong, người ta cho là điềm lành.

Năm thứ ba đời vua Trang Tương Vương, sông Hoàng Hà tự nhiên trong. Năm ấy, vua Hán Cao Tổ sinh ở đất Bái.

Nghĩa bóng: Điềm thái bình xuất hiện.

– Đào Đường , tên triều đại của vua Nghiêu (2357-2256 trước D.T). Ngài họ Y Kỳ, tên Phóng Huân, con bà Khánh Đô, phi thứ tư vua Đế Cốc, đóng đô tại Bình Dương, trị vì 72 năm và 28 năm với vua Thuấn đắp đê bảo vệ đồng áng.

Vua có chín trai, hai gái mà phế thái tử Đan Châu, lựa ông Thuấn là người hiền đức để truyền ngôi và gả cho hai người gái là Nga Hoàng và Nữ Anh.

– , tên triều đại của vua Thuấn (2255-2206 tr.D.T), cháu tám đời vua Huỳnh Đế, họ Diêu tên Trùng Hoa, con ông Cổ Tẩu. Ông Thuấn rất hiếu thảo, mẹ mất sớm. Cha, tính hung dữ, cưới người vợ khác sanh ra Tượng. Cha và mẹ ghẻ ghét ông, nhiều phen mưu giết, nhưng ông đều thoát khỏi chết mà vẫn chẳng oán hờn. Lòng hiếu của ông cải hóa cha, mẹ ghẻ và em.

Vua Nghiêu nghe tiếng đến tìm, gả hai người con cho và nhường ngôi. Vua Thuấn đóng đô tại Bồ Phan, làm vua 48 năm, theo gương vua Nghiêu, không truyền ngôi cho con là Thương Quân mà nhường ngôi cho vua Vũ.

Vua Thuấn băng hà tạiThương Ngô, thọ được 101 tuổi.

Phát hạ hồng ân, hoằng khai Đại Đạo, độ tận chúng sanh, hiệp trí hòa tâm, tinh thần qui nhứt, vĩnh sùng chánh giáo thoát khổ tiền khiên, triêm ngưỡng Mẫu ân tứ phước .

Ban xuống hồng ân , hoằng khai nền Đại Đạo, độ tận nhơn sanh, chung hiệp tâm trí, qui nhứt tinh thần, vĩnh viễn sùng bái nền chánh giáo, giải thoát các tội lỗi trong kiếp trước, chiêm ngưỡng ơn phước của Đức Mẹ ban cho.

C ứu độ các đẳng chơn linh qui liểu tảo đắc siêu thăng, an nhàn Cực Lạc .

Cứu độ các cấp Chơn linh quá vãng, sớm được siêu thăng, an nhàn nơi cõi Cực Lạc.

Chư Đệ Tử thành tâm khẩn nguyện, cúc cung bá bái thượng tấu dĩ văn.

Các đệ tử đồng thành tâm cầu khẩn, cúi mình lạy xuống trăm lạy, dâng sớ tâu lên. Kính trình.

ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ

(Năm Đạo thứ 81)

Tam Giáo qui nguyên, Ngũ Chi phục nhất

Vận Trời năm……….tháng………..ngày………giờ, hiện tại nước Việt Nam, tỉnh……….huyện………….xã…………., đang ở nơi Điện Thờ Phật Mẫu .

Nay có vị đệ tử……………………………, cùng chung cácThiện nam Tín nữ quì trước Điện thờ Phật Mẫu, thành tâm tâu trình :

TRONG HUỲNH KIM KHUYẾT

Huyền Khung Cao Thượng Đế Ngọc Hoàng Đại Thiên Tôn.

Diêu Trì Kim Mẫu Vô Cực Thiên Tôn.

GIÁO CHỦ TAM GIÁO

Tây Phương Giáo Chủ Thích Ca Mâu Ni Thế Tôn.

Thái Thượng Đạo Tổ Tam Thanh Ứng Hóa Thiên Tôn.

Khổng Thánh Tiên Sư Hưng Nho Thạnh Thế Thiên Tôn.

BA TRẤN OAI NGHIÊM TAM KỲ PHỔ ĐỘ

Thường Cư Nam Hải Quan Âm Như Lai.

Lý Đại Tiên Trưởng kiêm Giáo Tông Đ. Đ. T. K. P. Đ.

Hiệp Thiên Đại Đế Quan Thánh Đế Quân.

Gia Tô Giáo Chủ Cứu Thế Thiên Tôn.

Thái Công Tướng Phụ Quản Pháp Thiên Tôn.

Tam Châu Bát Bộ Hộ Pháp Thiên Tôn.

Thập phương chư Phật, vạn chưởng chư Tiên, Liên đài chi hạ.

Ngày nay vì( mùng một hoặc rằm), giờ tốt chư Thiện nam Tín nữ nghiêm trang thiết lễ nơi đàn cúng tế : Nhang, đèn, bông, trái cây, rượu tinh khiết, lập thành nghi thức, thành tâm dâng lễ.

Ngưỡng mong Đức Kim Bàn Phật Mẫu lấy đức từ bi, chuyển họa thành phước, thoát khỏi tai ách, Thế giới an ninh, nhơn loại hòa hiệp, cầu nguyện cho Quốc thể Việt Nam tràn đầy vinh quang, đất nước thanh bình, sanh chúng an cư lạc nghiệp, phục hồi trở lại nền phong hóa Đường Ngu.

Ngưỡng mong Đức Phật Mẫu ban xuống hồng ân, hoằng khai Đại Đạo, độ tận nhơn sanh, chung hiệp tâm trí, qui nhứt tinh thần, vĩnh viễn sùng bái nền chánh giáo, giải thoát khỏi các tội lỗi trong kiếp trước, chiêm ngưỡng ơn phước của Đức Mẹ ban cho.

Ngưỡng mong Đức Phật Mẫu cứu độ các cấp chơn linh quá vãng, sớm được siêu thăng, an nhàn nơi cõi Cực Lạc.

Chư đệ tử đồng thành tâm cầu khẩn, cung kính cúi lạy, và kính cẩn dâng sớ tâu lên. Kính trình.

* * *

Giai Nghia Kinh Thien Dao & The Dao: Kinh Cung Tu Thoi Kinh Niem Huong

Kinh Cúng Tứ Thời

Phần thứ nhứt GIẢI NGHĨA Kinh Thiên Ðạo NIỆM HƯƠNG

(Giọng Nam ai)(Lạy 3 lạy, mỗi lạy 4 gật, mỗi gật niệm Câu Chú của Thầy:Nam mô Cao Ðài Tiên Ông Ðại Bồ Tát Ma Ha Tát)

GIẢI NGHĨA

Vậy, Tân Kinh là Kinh của ÐÐTKPÐ, tức là Kinh của Ðạo Cao Ðài. Kinh nầy gồm: Kinh Thiên Ðạo và Kinh Thế Ðạo.

Con đường tu Thiên Ðạo dành cho bực Thượng thừa quyết chí tu hành, phế đời hành Ðạo, nghiêm giữ giới luật tu hành, thực hành Tam Lập: Lập Ðức, Lập Công, Lập Ngôn.

Trước khi bước vào Thiên Ðạo, người tu phải trải qua bực Hạ thừa tu phần Nhơn Ðạo.

Nhơn Ðạo là Ðạo làm Người, là đường lối dạy con người phải làm tròn bổn phận của một người đối với gia đình, gồm cha mẹ, anh chị em, vợ chồng con cái; đối với thân tộc, bạn bè; và sau cùng là bổn phận đối với quốc gia xã hội.

Thế Ðạo, tức là Nhơn Ðạo, ví như nền móng; Thiên Ðạo ví như nhà lầu. Không đào móng đúc nền cho vững chắc thì cất nhà lầu lên ắt sụp đổ. Cho nên, phải tu xong Nhơn Ðạo thì mới có thể tiến lên tu Thiên Ðạo được.

Nghi lễ của Ðạo Cao Ðài dạy các tín đồ cúng Ðức Chí Tôn và các Ðấng Thiêng liêng vào Tứ thời kể trên, bởi vì vào 4 thời điểm nầy, khí Dương và khí Âm trong CKVT có sự biến đổi tương đối đặc biệt:

Lúc 0 giờ, thời Tý: Khí Âm cực thạnh, khí Dương khởi sanh.

Lúc 6 giờ và 18 giờ, thời Mẹo và thời Dậu: Hai khí Dương và Âm giao hòa cân bằng nhau.

Lúc 12 giờ trưa, thời Ngọ: Khí Dương cực thạnh, khí Âm khởi sanh.

Kinh cúng Ðức Chí Tôn vào Tứ thời tại Tòa Thánh hay tại Thánh Thất gồm 8 bài kinh kể ra sau đây:

Niệm Hương.

Khai Kinh.

Kinh Ngọc Hoàng Thượng Ðế.

Kinh Phật giáo.

Kinh Tiên giáo.

Kinh Nho giáo (Thánh giáo).

Bài Dâng Hoa, Dâng Rượu, Dâng Trà.

Ngũ Nguyện.

Kinh cúng Ðức Phật Mẫu vào Tứ thời tại Báo Ân Từ hay tại Ðiện Thờ Phật Mẫu gồm 6 Bài Kinh, kể ra sau đây:

Niệm Hương.

Khai Kinh.

Phật Mẫu Chơn Kinh.

Tán Tụng Công Ðức Diêu Trì Kim Mẫu.

Bài Dâng Rượu hoặc Dâng Trà.

Ngũ Nguyện.

Kinh Cúng Tứ Thời còn được gọi là Kinh Nhựt Tụng, (Nhựt là mỗi ngày). Kinh Nhựt Tụng là những bài kinh dùng để tụng mỗi ngày.

Những bài kinh thường được tụng theo 2 giọng: Nam xuân và Nam ai. Chỉ có 3 Bài Dâng Tam Bửu là thài theo giọng Ðảo Ngũ Cung.

Kinh Niệm Hương có nguồn gốc là bài Kinh chữ Hán “Phần Hương Chú” trích trong Kinh Cảm Ứng của Tiên giáo.

Vào năm Ất Sửu (1925), Ðức Nam Cực Chưởng Giáo giáng cơ tại Minh Lý (Tam Tông Miếu) dịch bài Phần Hương Chú ra chữ Nôm ban cho Chi nầy cho dễ hiểu.

Khi mới khai ÐÐTKPÐ, Ðức Chí Tôn giáng dạy Ngũ Chi Minh Ðạo (Minh Sư, Minh Lý, Minh Tân, Minh Thiện, Minh Ðường) dâng Kinh cho ÐÐTKPÐ. Do đó, Hội Thánh cử phái đoàn đại diện gồm 4 vị: Ðức Quyền Giáo Tông Lê văn Trung, Thượng Giáo Sư Vương quan Kỳ, Ðức Phạm Hộ Pháp, Ðức Cao Thượng Phẩm, đến Chi Minh Lý thỉnh 6 Bài Kinh: Niệm Hương, Khai Kinh, Kinh Sám Hối, Bài Khen Ngợi KSH, Kinh Cầu Siêu, Bài Xưng Tụng Công Ðức Phật Tiên Thánh Thần, về làm Kinh ÐÐTKPÐ.

Bài Phần Hương Chú của Tiên giáo để cúng các vị Tiên, được Ðức Nam Cực Chưởng Giáo diễn nôm một cách thoát ý tài tình, thành bài kinh cúng Ba Ðấng Giáo chủ Tam giáo nơi Tam Tông Miếu của Minh Lý Ðạo, và cuối cùng được thỉnh về làm kinh của Ðạo Cao Ðài cúng Ðức Chí Tôn, Ðức Phật Mẫu và Ba Ðấng Giáo chủ Tam giáo.

Do đó, ý nghĩa của bài kinh nầy được thăng hoa đến tột đỉnh vì được dùng để cúng Ðức Chí Tôn Thượng Ðế.

Thành: Thành thật. Tín: Tin, tin có Thượng Ðế, tin có Thần, Thánh, Tiên, Phật, tin mỗi người đều có linh hồn bất tiêu bất diệt, tin linh hồn là điểm Linh quang do Thượng Ðế ban cho mỗi người để tạo nên sự sống và gìn giữ sự sống.

Tín chính là đức tin rất cần thiết cho người theo Ðạo.

Hiệp: Hợp lại. Lòng thành: Cái tâm chơn thật.

Lòng: Cái tâm của con người. Nương: Dựa vào.

Mùi hương: Mùi thơm của khói nhang tỏa ra, ý nói những tư tưởng hay ý nghĩ trong sạch tốt đẹp của cái Tâm phát ra. Lư: Dụng cụ đặt trên bàn thờ dùng để đốt trầm hay để đốt nhang cắm vào; đốt trầm thì gọi là Lư trầm, đốt nhang thì gọi là Lư hương. Ngọc: Loài đá quí, chỉ sự quí báu. Lư ngọc: Cái lư bằng ngọc, chỉ cái Tâm quí báu của con người.

Kính: Kính trọng. Thành: Thành thật. Cầu: Xin. Nguyện: Mong ước. Cầu nguyện là cầu xin các Ðấng thiêng liêng ban cho điều mà mình mong ước.

Hạc: Giống chim lớn, chân cao, cổ dài, lông trắng, bay nhanh, dáng thanh nhã, sống đến ngàn năm, thường được các vị Tiên dùng để cỡi bay đi. Phàm: Tầm thường thấp kém. Trần: Bụi bặm. Phàm trần là chỉ cõi thế gian, cõi đời, cõi của nhơn loại đang sống, vì cõi nầy thấp kém có nhiều bụi bặm ô trược. Gác: Ðặt ngang lên trên. Xe Tiên: Chiếc xe mầu nhiệm nơi cõi thiêng liêng, cũng gọi là Xe Như Ý, dùng để chở các vị Tiên đi lại. Người ngồi trên xe muốn đi đến đâu thì chiếc xe Tiên hay xe Như Ý chở ngay đến đó tức khắc. Gác xe Tiên: Ngồi lên chiếc xe Tiên.

CHÚ Ý:

Ðệ tử: Học trò. Học trò đối với Thầy thì xưng mình là đệ tử. Ðức Chí Tôn tự xưng là Thầy, và gọi các con đang học đạo là môn đệ hay đệ tử. Khẩn: Tha thiết. Nguyền: Mong mỏi cầu xin. Khẩn nguyền: Tha thiết cầu xin điều mình mong ước.

Từng Trời thứ nhứt có Vườn Ngạn Uyển.

Từng Trời thứ nhì có Vườn Ðào Tiên của Phật Mẫu.

Từng Trời thứ ba gọi là Thanh Thiên.

Từng Trời thứ tư gọi là Huỳnh Thiên.

Từng Trời thứ năm gọi là Xích Thiên.

Từng Trời thứ sáu gọi là Kim Thiên.

Từng Trời thứ bảy gọi là Hạo Nhiên Thiên.

Từng Trời thứ tám gọi là Phi Tưởng Thiên.

Từng Trời thứ chín gọi là Tạo Hóa Thiên.

Ðiều nầy hoàn toàn không đúng, vì 3 lý do sau đây:

1. Ðức Phạm Hộ Pháp thuyết đạo giải nghĩa bài Kinh Phật Mẫu tại Cửu Long Ðài ngày 15-8-Ðinh Hợi (1947) có nói rõ rằng: “Từng Trời thứ 9 gọi là Cung Tạo Hóa Thiên, có vị cầm quyền tạo đoan gọi là Thiên Hậu.” (TÐ.ÐPHP.Q1. 64)

2. Bài Thài hiến lễ Ðức Phật Mẫu trong Lễ Hội Yến Diêu Trì Cung có 4 câu khoán thủ là: Cửu Thiên Huyền Nữ, nghĩa là: Cửu là thứ 9, Thiên là từng Trời, Huyền là huyền diệu, Nữ là người phụ nữ. Cửu Thiên Huyền Nữ là người phụ nữ huyền diệu ở từng Trời thứ 9. Ðó là Ðức Phật Mẫu. Ðiều nầy một lần nữa chứng tỏ Tạo Hóa Thiên là từng Trời thứ 9.

3. Nghi thức Tang lễ trong Ðạo Cao Ðài đối với các Chức sắc Ðại Thiên Phong hàng Tiên vị như Ðầu Sư, Thập nhị Thời Quân đổ lên, khi đăng Tiên, thể xác được liệm vào liên đài. “Liên đài được quàn tại biệt điện của mỗi vị một đêm, Báo Ân Từ một đêm, Ðền Thánh một đêm, và Cửu Trùng Thiên một đêm. Hội Thánh sẽ cử hành Lễ Tiểu Tường, Ðại Tường, kỷ niệm hằng năm và xây bửu tháp. Không có làm Tuần Cửu và hành pháp độ thăng.” (Trích trong quyển Quan Hôn Tang Lễ năm 1976 của Hội Thánh).

Chúng ta lưu ý trong nghi thức tế lễ nầy, liên đài được đặt trên Cửu Trùng Thiên tại Ðại Ðồng Xã, không làm Tuần Cửu, chỉ làm Tiểu Tường, Ðại Tường, không hành pháp Ðộ Thăng.

Ðiều đó cho chúng ta hiểu rằng: Chức sắc hàng Tiên vị đổ lên có đủ công đức để vượt lên khỏi Cửu Trùng Thiên (mới được ngồi trên Cửu Trùng Thiên) mà không cần nhờ làm Tuần Cửu hay Phép Ðộ thăng.

Hội Thánh chỉ làm lễ Tiểu Tường, mà bài Kinh Tiểu Tường là để đưa chơn hồn lên từng Trời Hư Vô Thiên. Vậy Hư Vô Thiên phải ở bên trên Cửu Trùng Thiên, chớ không thể ở trong Cửu Trùng Thiên được, và đó chính là từng Trời thứ 10.

Qua sự trình bày 3 lý do vừa kể trên, chúng ta đi đến kết luận là: Tạo Hóa Thiên là từng Trời thứ 9 nằm trong Cửu Trùng Thiên, và Hư Vô Thiên là từng Trời thứ 10 nằm bên trên Cửu Trùng Thiên. Theo đó thì Hội Nguơn Thiên là từng Trời thứ 11, và Hỗn Nguơn Thiên là từng Trời thứ 12.

Ba từng Trời bên trên (Hư Vô Thiên, Hội Nguơn Thiên, Hỗn Nguơn Thiên) hợp với 9 từng Trời (Cửu Trùng Thiên) bên dưới tạo thành 12 từng Trời, gọi là Thập nhị Thiên.

Trở lại giải thích các từ ngữ trong Câu kinh 8:

Ðất: Chỉ các quả Ðịa cầu, ý nói Thất thập nhị Ðịa (72 Ðịa cầu). Thông: Suốt tới khắp nơi. Thông truyền: Truyền đi khắp nơi. Chứng: Nhận thực. Tri: Biết. Chứng tri là nhận thực có biết rõ.

Sở: Ðiều quan trọng của mình. Vọng: Mong ước. Sở vọng là điều quan trọng của mình hằng mong ước. Gắng ghi: Cố gắng ghi nhớ. Ðảo: Cúng tế cầu nguyện. Cáo: Tấu trình, báo cáo. Ðảo cáo là cúng tế cầu nguyện và tấu trình các việc

Ơn Trên: Ơn huệ của Ðức Chí Tôn, Ðức Phật Mẫu và các Ðấng thiêng liêng. Bổ: Giúp đỡ, thêm vô cho đủ. Báo: Ðáp lại. Bổ báo là giúp đỡ báo đáp lại.

Câu Chú của Thầy tức là của Ðức Chí Tôn có 12 chữ:

Nam-

Cao-

Ðài

Tiên-

Ông

Ðại

Bồ-

Tát

Ma-

Ha-

Tát

1

2

3

4

5

6

7

8

9

10

11

12

Ðại: Lớn. Bồ- Tát: Nói đầy đủ là Bồ-Ðề-Tát-Ðóa, tiếng Phạn là Bodhisattva, nghĩa là người đã tự giác được bản tánh và có nhiệm vụ phổ độ chúng sanh. Ma-Ha-Tát: Nói đầy đủ là Ma-Ha-Tát-Ðóa, tiếng Phạn là Mahasattva, nghĩa là Ðại chúng sanh, tức là người có dũng tâm muốn làm việc lớn.

Ðại Bồ-Tát Ma-Ha-Tát là vị Bồ Tát lớn, ở phẩm bực cao trọng, xứng đáng đứng hàng Phật vị, nhưng vì còn nhiệm vụ cứu độ chúng sanh nên còn mang danh Bồ Tát.

Câu Chú của Thầy đặc biệt có 12 chữ là vì con “số 12 là số riêng của Thầy “.

Câu Chú nầy có ý nghĩa bao hàm Tam giáo:

CAO ÐÀI: tượng trưng Nho giáo.

TIÊN ÔNG: tượng trưng Tiên giáo (Ðạo giáo).

ÐẠI BỒ-TÁT MA-HA-TÁT: tượng trưng Phật giáo.

TKPÐ, ÐÐTKPÐ, CKVT,… xin xem “Những chữ viết tắt”

Do đó, Câu Chú của Thầy (Ðức Chí Tôn) có ý nghĩa Tam giáo đồng tông, ngày nay qui nguyên Ðại Ðạo. Ðại Ðạo đó chính là ÐÐTKPÐ, tức là Ðạo Cao Ðài do Ðức Chí Tôn sáng lập và làm Giáo Chủ.

Xem tiếp giải nghĩa Kinh Cúng Tứ Thời: Khai Kinh

Giai Thich Kinh Cung Tuan Cuu

Trong cửa Đạo Cao-Đài, do cuộc Đại Ân-Xá của Đức Chí-Tôn cho đóng Địa-Ngục mở Tầng Thiên, đưa các Chơn-hồn đi lên 9 Tầng Thiên, nên sau khi chết làm 9 tuần-cửu gọi là Cửu-cửu và một tuần Tiểu-Tường, một tuần Đại-Tường, cộng chung là 11 tuần cúng hết thảy.

Hỏi tại sao đưa Chơn-hồn lên 9 tầng Trời mà phải làm đến 11 lễ cúng? Muốn rõ thì cứ lấy mấy bài kinh cúng tuần-cửu mà đọc từ câu, từ khoản để tìm hiểu cho hết ý-nghĩa.

Một phần lớn, và có lẽ hầu hết các Tín-hữu và một phần không ít Chức-Sắc vẫn còn lầm tưởng là mỗi tuần-cửu đọc một bài kinh là đưa linh-hồn lên một từng Trời, và khi đọc một bài kinh Nhứt-cửu và Nhị-cửu là linh-hồn đã được đưa lên một hay hai tầng Trời rồi. Sự thật thì không phải vậy, vì linh-hồn khi mới xuất ra khỏi xác thì còn khờ-khạo chưa tịnh-tỉnh, nên chưa biết đường đi. Vì vậy hai bài kinh Nhứt-cửu và Nhị-cửu là để nhắc cho linh-hồn nhớ lại quê xưa, cảnh cũ và kêu gọi linh-hồn phải tỉnh để nhớ biết đường về, nhờ có Lục-Nương Diêu-Trì-Cung và Tiếp-Dẫn Đạo-Nhơn đưa đi.

Bởi cớ nên trong kinh Nhứt-cửu có câu như sau đây:

Qua bài kinh Nhị-cửu thì cũng còn nhắc tiếp, khêu gợi lại cảnh cũ như “Hội Bàn-Đào”, cho linh-hồn nhớ lại và ham nong-nả đi về, cũng như chỉ đường cho đi và từ đây mới bắt đầu lên cõi không trung, nên trong bài kinh Nhị-cửu có câu:

“Khí trong-trẽo dường như băng tuyết,Thần êm-đềm dường nét Thiều-quang.Xa chừng Thế-giái Địa-hoàn, Cõi Thiên đẹp thấy nhẹ-nhàng cao thăng”.

Qua đến bài kinh Tam-cửu, là linh-hồn mới bắt đầu đi tầng Trời thứ nhứt là cõi Thanh-Thiên, tức là miền Bồng-đảo. Do bài kinh nầy ta để ý đọc cho kỷ cho biết coi nơi tầng Thanh-Thiên linh-hồn sẽ gặp những cảnh gì ?

Trước hết là vào động Thiên-Thai, nơi cư ngụ của Bảy Lão là Thất-Hiền. Kế đó linh-hồn sẽ đến một ngã ba đường: Một ngã là Cung Đẩu-Tốt, tức là về với Đức Chí-Tôn Ngọc-Hoàng Thượng-Đế, và một ngã đi về Cung Bích-Du, tức là về với Quỉ-Vương. Nếu linh-hồn không ai dìu-dẫn thì dễ bị lạc đường sa vào tay Chúa Quỉ, nên có câu :

“Tìm Cung Đẩu-Tốt lạc nhầm Bích-Du”

Các linh-hồn theo Đạo nhờ có bà Lục-Nương Diêu-trì-Cung và Đức Tiếp-Dẫn Đạo-Nhơn đưa Phướn-linh dẫn đường cho khỏi đi lạc, nên trong bài kinh Cầu Hồn khi Hấp-Hối có đoạn như sau :

“Diêu-trì-Cung sai nàng Tiên-Nữ,Phép Lục-Nương gìn-giử chơn-hồn.Tây-Phương Tiếp-Dẫn Đạo-Nhơn,Phướn-linh khai mở nẻo đường Lôi-Âm “.

Qua khỏi ngã ba đường thì đến Cung Như-Ý kiến-diện Đức Lão-Quân và đến Hội Thánh-Minh để được giao sách Trường-Xuân mà coi.

Đến bài kinh Tứ-Cửu thì linh-hồn được đưa lên tầng Trời thứ nhì, tức là tầng Huỳnh-Thiên. Tầng nầy là tầng linh-hồn phải qua ải nặng nhọc nhứt. Những ai có thân-nhân qui-liễu khi đến tuần Tứ-Cửu, cần phải để hết tâm cầu-nguyện cho linh-hồn được qua dễ dàng. Do theo bài kinh Tứ-Cửu, khi linh-hồn được Thuyền Rồng đưa đế tầng Huỳnh-Thiên, thì phải vào Cung Tuyệt-Khổ để diện-kiến Đức Huyền-Thiên-Quân. Tưởng đâu được ban thưởng ân-huệ gì, nào dè khi gặp ông, thì ông rút cây roi Thần-Điển đánh cho mấy roi nhá lửa, thêm Bộ-Công cho sét đánh đốt thiêu hết quái-khí, trược quang để linh-hồn được trong sạch mới đi lên tầng trên nữa đặng. Linh-hồn những người ăn thịt, cá mang theo nhiều trược khí phải chịu nặng đòn mới cỡi mở bớt, rồi còn phải chịu lửa tam-muội đốt cho tiêu hết oan gia. Chừng ấy mới đến cửa Thiên-Môn qua lầu Bát-Quái. Theo lời Đức Hộ-Pháp dạy thì cánh cửa lầu này là một chữ Vạn to lớn quay tit như cánh quạt máy, chỉ thấy sáng -choang chớ không chỗ nào qua đặng. Có nhiều chơn-hồn đến đó qua không đặng phải ngồi chờ đến năm, bảy trăm năm, chừng có một vị Tiên hay Phật nào đi qua, cánh cửa lầu Bát-Quái ngưng quay, mới thừa dịp mà chạy đùa qua đặng. Trong Tam-Kỳ Phổ-Độ, nhờ các đấng lãnh lịnh Chí-Tôn thường lên xuống, nên các linh-hồn nhơn-dịp mà qua cửa lầu Bát-Quái thường hơn.

Đến đệ Ngũ-Cửu, linh-hồn qua được cửa Thiên-Môn lên cõi Xich-Thiên là tầng Trời thứ ba. Nơi đây tất cả Tông-Đường Thiêng-Liêng đón tiếp mừng rỡ vô cùng:

“Cả miền Thánh-Vức nhộn-nhàng tiếp nghinh”

Kể từ đây, linh-hồn tuần-tự đi tới nhẹ-nhàng không còn qua những cơ thử-thách nặng-nề như ở tầng Huỳnh-Thiên và được vào Đài Chiếu-Giám, nơi đây linh-hồn được xem qua cả kiếp sanh của mình như trong truyền hình và tự mình định tội lấy mình. Xong rồi thì vào Cung Ngọc-Diệt-Hình để khai kinh Vô-Tự đặng nhìn quả duyên. Đến đây có Tiên-xa gọi là xe như ý đưa lên tầng Trời thứ tư gọi là tầng Kim-Thiên.

Qua Đệ lục-Cửu, linh-hồn đến tầng Kim-Thiên là tầng Trời thứ tư. Đến đây xuống xe đặng vào Cung Vạn-Pháp được xem qua sự nghiệp cũ của mình đã tạo ra từ những kiếp trước và đến Cung Lập Khuyết tìm duyên đinh ngự. Xong rồi thì có Khổng-Tước là con Công chở linh-hồn đưa đến Đài Hụê-Hương để được xông hương, giải-trược cho cả Thánh-Thể được thơm-tho tiêu hết ô-uế buổi sanh, và từ đây có tiêu-thiều nhạc trỗi đưa linh-hồn đến tầng Trời thứ năm.

Đến đệ Thất-Cửu, linh-hồn đến tầng Hạo-Nhiên-Thiên là tầng Trời thứ năm. nơi đây cảnh vật xinh đẹp lạ thường, hào-quang chiếu-diệu, linh-hồn vào Cung Chưởng-Pháp kiến-diện Đức Chuẩn-Đề Bồ-Tát và Phổ-Hiền Bồ-Tát. Hai vị Phật này làm chủ tầng Hạo-Nhiên-Thiên với 11 vị Phật phụ chánh, và hằng-hà sa số Phật đều tùng lịnh Chuẩn-Đề Bồ-Tát và Phổ-Hiền Bồ-Tát để tận độ vạn linh. Nơi đây đã vọng thấy cõi Niết-Bàn và vẵng nghe tiếng trống Lôi-Âm thúc-giục làm cho linh-hồn nôn-nã lên tầng Trời thứ sáu.

Qua Đệ Bát-Cửu, thì linh-hồn lên đến tầng Phi-Tưởng-Thiên là tầng Trời thứ sáu. Nơi đây đã xa mùi Trần-Thế và đã nghe hơi Tiên-Tửu nực-nồng thơm ngọt. Tầng này có Cung Tận-Thức và Cung Diệt-Bửu. Linh-hồn vào đó nhìn thấy một lần nữa nghiệp hữu-hình tượng đủ vô-vi, rồi đến Phổ-Đà Sơn kiến-diện Đức Từ-Hàng Bồ-Tát nhờ rưới giọt nước Cam-Lồ rửa sạch ai bi kiếp người. Dưới quyền Đức Từ-Hàng Bồ-Tát có 10 vị Phật chánh và hằng-hà sa số chư Phật năng du ta bà Thế-giái thi pháp hộ-trì vạn-linh sanh chúng.

Đến Đệ Cửu-Cửu, linh-hồn đến tầng Trời thứ bảy là Tạo-Hoá Thiên. Nơi đây là Cung Diêu-Trì có hằng-hà sa số Phật với 4 vị Phật chánh, và Cửu-Vị Nữ-Phật đều tùng linh Kim-Bàn Phật-Mẫu, có nhiệm vụ dưỡng-dục quần sanh qui-nguyên Phật-Vị, linh-hồn làm xong phận-sự, về đến Tạo-Hóa Thiên vào triều-kiến Đức Phật-Mẫu sẽ được Đức Mẹ ân-thưởng dự Hội Bàn-Đào và được ban cho Tiên-Tửu. Xong rồi được đưa qua Cung Bắc-Đẩu để xem căn quả số, vào Linh-Tiêu-Điện đặng học triều-nghi chờ ngày ra trước Ngọc-Hư-Cung định phần đọa thăng. Những linh-hồn còn nặng nợ vay trả thì đưa qua Kim-Bồn đầu-kiếp trở lại đặng trả quả.

Mãn tuần Cửu-Cửu rồi, linh-hồn chờ 200 ngày là đến tuần Tiểu-Tường. Linh-hồn nào được trong sạch được đưa lên tầng Hư-Vô Thiên, tức là tầng Trời thứ tám, nơi đây có hằng-hà sa số Phật và 8 vị Phật chánh đều tùng lịnh Đức Nhiên-Đăng Cổ-Phật để dẫn-độ các chơn-linh đắc Pháp, đắc Phật, đắc duyên, đắc vị, đắc A-Nậu-đa-La-Tam-Diệu Tam-Bồ-Đề được chứng-quả nhập Cực-Lạc Quốc.

Sau lễ Tiểu-Tường, đếm đủ 300 ngày, thì làm lễ Đại-Tường. Các chơn-linh trong sạch được Đại-Hội Ngọc-Hư-Cung chứng quả đắc-vị rồi thì có Đức Bồ-Đề-Dạ dẫn hồn lên tầng Hỗn-Ngươn-Thiên vào yết-kiến Đức Di-Lạc Vương-Phật nơi Lôi-Âm-Tự và được vào ao Thất-Bửu đặng gội mình sạch tục, hầu lên ngự tại Liên-Đài cửa mình. Tầng Hỗn-Ngươn Thiên có một tầng nhánh gọi là Hội-Ngươn-Thiên có thể kể vào tầng thứ 9 và tầng chánh Hỗn-Ngươn-Thiên thành tầng số 10 là nơi đắc-quả Phật-vị.

Nơi Hội-Ngươn-Thiên có 5 vị Phật chánh và nơi Hỗn-Ngươn-Thiên có 8 vị Phật chánh, cộng chung là 13 vị và nhất thiết chư Phật dều tùng lịnh Đức Di-Lạc Vương-Phật năng chiếu-diệu quang tiêu trừ nghiệp-chướng để chứng-quả Cực-Lạc Niết-Bàn.

Nên lưu-ý là danh-hiệu các vị Phật nêu trong kinh Di-Lạc ở các tầng Trời từ Hạo-Nhiên Pháp đến Hỗn-Ngươn Thiên không có đề Phật-danh của mỗi vị mà chỉ có đề nhiệm-vụ của mỗi vị mà thôi./.

CHUNG

Giai Nghia Kinh Thien Dao & The Dao: Phat Mau Chon Kinh

PHẬT MẪU CHƠN KINH

PHẬT MẪU CHƠN KINH 佛 母 眞 經

Ðức Phạm Hộ Pháp thuyết đạo, thích nghĩa và nói rõ nguồn gốc bài Phật Mẫu Chơn Kinh tại Cửu Long Ðài trước Báo Ân Từ lúc 4 giờ chiều ngày 15-8-Ðinh Hợi (1947), có in trong quyển Thuyết Ðạo của Ðức Hộ Pháp, Quyển 1 trang 64, xin trích ra sau đây:

“Ngày nay là ngày Ðại lễ Ðức Diêu Trì Kim Mẫu, Bần đạo tưởng cả thảy toàn Ðạo nên biết quyền hành của Phật Mẫu như thế nào? Và tại sao chúng ta thờ Người?

Muốn biết quyền hành ấy, Bần đạo phải thuyết minh và giải nghĩa bài Kinh Ðức Phật Mẫu mà chúng ta thường tụng niệm hằng ngày đó.

Trước khi giải nghĩa, Bần đạo cũng nên nói rõ ai đến cho bài Kinh ấy? Cho hồi nào? Và tại nơi đâu?

Kinh Ðức Phật Mẫu cho tại Kim Biên Tông Ðạo (Cao Miên quốc), nơi Báo Ân Ðường của hai vợ chồng Thừa Sử Huỳnh hữu Lợi.

Lúc trước chưa có Kinh Phật Mẫu, chúng ta chỉ biết Phật Mẫu đến Hiệp Thiên Ðài khai Ðạo Cao Ðài, nhờ thi phú văn tự của Cửu Vị Tiên Nương cho biết nguyên do đến Khai Ðạo, chớ chúng ta chưa biết quyền hành của Người.

Nơi Kim Biên, cả Chức sắc Hội Thánh Ngoại Giáo đều cầu kinh, khiến khi đó Bần đạo đến nhằm lúc cúng Vía Phật Mẫu. (tức là ngày 15 tháng 8 năm……?)

Bát Nương đến cầm cơ viết, chính mình Bần đạo phò loan nơi Ðại Ðiện. Có nhiều người làm chứng, có chư Ðạo hữu và một người không biết Ðạo là gì là Ông Hiếu (kêu Bần đạo bằng Chú) ngồi trước sân chơi, thấy tứ phía đều có hào quang giáng hạ, xẹt xuống rất ngay Báo Ân Ðường. Tới chừng cho trọn bài Kinh rồi, cả thảy đều nói lại, không biết cái gì xẹt khi nãy như sao xẹt qua xẹt lại vậy, không dè trong nhà đương phò loan. Có cháu của Bần đạo và nhiều Ðạo hữu ở ngoài đều làm chứng quả quyết như vậy.”

Từ trước đến nay, các nền tôn giáo mở ra trên thế giới đều chỉ biết thờ Ngôi Dương: Như Phật giáo thờ Ðức Phật Thích Ca, Tiên giáo thờ Ðức Thái Thượng Lão Quân, Nho giáo thờ Ðức Khổng Tử, Thiên Chúa giáo và Ðạo Tin Lành thờ Ðức Chúa Jésus Christ.

Không có một tôn giáo nào biết thờ Ngôi Âm. Chỉ có Thiên Chúa giáo có thờ Ðức Mẹ Maria, Mẹ của Ðức Chúa Jésus, nhưng chưa phải là thờ Ngôi Âm.

Chúng ta đã biết, trong CKVT nầy, không phải chỉ có Ngôi Dương, mà luôn luôn phải có Ngôi Âm đi kèm theo, thì mới có đủ 2 yếu tố Âm Dương để tạo thành cơ sanh hóa. Một Dương không thể sanh, một Âm cũng không sanh, phải có đủ cả Âm Dương mới sanh hóa được.

Theo Thánh giáo của Ðức Chí Tôn, khởi thủy của CKVT là Hư Vô chi Khí (tức là ÐẠO). Khí Hư Vô mới sanh ra một Ðấng duy nhứt là Ðức Ngọc Hoàng Thượng Ðế, và ngôi của Ngài là Thái Cực (tức là khối Ðại Linh Quang). Ðức Chí Tôn mới phân Thái Cực ra Lưỡng Nghi: Dương quang và Âm quang. Ðức Chí Tôn chưởng quản Dương quang. Ðức Chí Tôn hóa thân ra làm một Ðấng khác gọi là Phật Mẫu để chưởng quản khí Âm quang.

Như vậy, nguồn gốc của Phật Mẫu là Ðức Chí Tôn, và Ðức Phật Mẫu chỉ là một hóa thân của Ðức Chí Tôn.

Sau đó, Ðức Phật Mẫu thâu lằn Sanh quang của ngôi Thái Cực, rồi đem Dương quang phối hợp với Âm quang để tạo thành CKVT và vạn vật. Do đó, Ðức Phật Mẫu mới thực sự là Ðấng Tạo Hóa. Nhiệm vụ nầy có được là do Ðức Chí Tôn ban cho.

“Theo Bí pháp chơn truyền của Cơ Sanh hóa, phải có đủ Âm Dương. Trong Sanh quang, chúng ta có điện quang Positif (dương) và Négatif (âm), cũng như vạn vật có trống mái. Nền tôn giáo nào có đủ Âm Dương thì mới vĩnh cửu.

Như Ðức Chúa Jésus ngày trước bị đóng đinh trên cây Thánh giá, đầu thuận lên trên gọi là đạt Dương. Ông Thánh Pierre là đệ nhứt tông đồ bị đóng đinh trở ngược xuống, gọi là phản Âm. Âm Dương tương hiệp đúng theo Bí pháp, nên Ðạo Thánh lưu truyền 2000 năm, không ai dùng quyền gì tiêu diệt đặng.

Thời kỳ nầy, Ðức Phật Mẫu đã xuất nguyên linh của Người đến đây dạy dỗ chúng ta thì tưởng điều ấy trọng yếu hơn hết.

Khi mở Ðạo Cao Ðài, Chí Tôn định cho Phật Mẫu đến giáo đạo cho chúng ta, bảo trọng nuôi nấng, dạy dỗ chúng ta, thì không có ân đức nào bằng, vì không ai biết thương con hơn MẸ.

Phật Mẫu đến cầm quyền lập Ðạo xong, rồi giao lại cho Ðức Chí Tôn.

Phật Mẫu là Chủ Âm quang, Chí Tôn là Chủ Dương quang. Âm Dương tương hiệp, Ðạo Cao Ðài nuơng theo năng lực của hai khối Âm Dương đó. Ðối với năng lực tạo đoan Càn Khôn Thế Giới thế nào thì Ðạo Cao Ðài ngày kia sẽ có năng lực như thế đó.” (Trích Thuyết đạo của Ðức Phạm Hộ Pháp, Quyển 1 trang 70).

Việc Ðạo Cao Ðài thờ Hai Ngôi: Ngôi Dương là Ðức Chí Tôn Ngọc Hoàng Thượng Ðế và Ngôi Âm là Ðức Diêu Trì Kim Mẫu, với đầy đủ kinh kệ và nghi tiết, là một hình thức vô cùng mới mẻ về phương diện Giáo lý và Triết lý mà các nền tôn giáo trước đây chưa từng có.

Do đó, Ðạo Cao Ðài xứng đáng là một nền Tân Tôn giáo và là một nền Ðại Ðạo.

Hai ngày lễ vía Hai Ðấng ấy hằng năm là 2 ngày Ðại Lễ chánh thức lớn nhứt của Ðạo Cao Ðài. Ðó là:

Quyền hành và nhiệm vụ của Ðức Phật Mẫu được Bát Nương cho biết rõ trong bài Phật Mẫu Chơn Kinh.

Ðức Phạm Hộ Pháp có giải nghĩa bài PMCK một cách tổng quát khi Ngài thuyết đạo tại Cửu Long Ðài trước Báo Ân Từ nhân ngày Ðại Lễ Vía Ðức Phật Mẫu vào lúc 4 giờ chiều ngày 15-8-Ðinh Hợi (1947). Bài thích nghĩa nầy có in trong quyển Thuyết Ðạo Ðức Hộ Pháp, quyển 1 trang 64.

(Soạn giả căn cứ vào bài giải nghĩa nầy của Ðức Phạm Hộ Pháp để giải rộng thêm chi tiết từng chữ và từng câu kinh cho dễ hiểu. Ngoài ra, soạn giả có viết thêm phần chữ Hán để xác định từ ngữ. Ðây là bản phiên dịch Hán văn đầu tiên, chắc không tránh khỏi sai sót, kính mong quí vị góp ý sửa chữa).

Xem tiếp Giải nghĩa chi tiết PHẬT MẪU CHƠN KINH

Dang So Cau An Cung Sao Giai Han

Tiền mất tật mang

Cúng sao giải hạn Tai nạn vẫn tới Thiền môn chân chánh Dạy người thực hành Tu tâm dưỡng tánh Theo bát chánh đạo Việc ác không làm Nên làm việc thiện Giữ tâm thanh tịnh Như chư Phật dạy

* * *

Trong đời sống này,

dù đông hay tây,

Việt Tàu Phi Ấn,

Anh Pháp Mỹ Nga,

hễ là người ta,

không hề phân biệt,

dù nam hay nữ,

biết chữ hoặc không,

tông môn giáo phái,

tín đồ tu sĩ,

bác sĩ luật sư,

xuất xứ ngành nghề,

trẻ già bé lớn,

thường dân quan chức,

học thức ít nhiều,

không điều riêng tư,

da trắng da đen

da vàng da đỏ,

không bỏ một ai,

thảy đều thường gặp:

những chuyện may rũi,

chuyện được chuyện mất

chuyện hên chuyện xui,

chuyện vui chuyện buồn

luôn luôn thay đổi,

trong mỗi phút giây,

lúc được tán thán,

khi bị phỉ báng,

nhiều khi chán ngán,

cái cảnh tình đời,

lúc được lên voi,

khi bị xuống chó,

không ai thèm ngó,

vợ bỏ con chê,

lúc được lên hương,

khi bị lọt mương,

hết đường chạy chọt,

lúc được hiển vinh,

khi bị tủi nhục,

ở tù rục xương,

lúc được sung sướng,

khi bị khổ đau,

không sao kể xiết.

Những lúc vui sướng,

cuộc đời lên hương,

chỉ biết thụ hưởng,

phủ phê hỉ hả,

không nhớ gì cả.

Nhưng khi quá khổ,

chịu đựng không thấu,

tranh đấu đảo điên,

khổ nạn liên miên,

bấy giờ mới nhớ,

đến chuyện cầu nguyện,

khấn vái thần linh,

van xin bồ tát,

khẩn cầu thượng đế,

ban cho phép lành,

dành cho phép lạ,

hy vọng cầu may,

đổi thay vận mệnh.

Bởi vậy cho nên,

mỗi dịp đầu năm,

sau tết nguyên đán,

mùng tám tháng giêng,

người ta thường hay,

chạy ngay vào chùa,

nhân mùa thượng ngươn,

dâng sớ cầu an,

cúng sao giải hạn,

cầu cho nạn khỏi,

cầu cho tai qua,

cầu cho toàn gia,

bình an vô sự,

kể từ đầu năm,

chí những cuối năm.

Sẵn dịp trăng rằm,

cầu luôn đủ thứ:

nào được buôn may,

gặp hên bán đắt,

một vốn bốn lời,

nhất bổn vạn lợi,

không đợi kiếp sau,

kiếp này trúng số,

con cháu đỗ đạt,

tiền bạc như nước,

sắm xe tậu nhà,

tha hồ sung sướng.

Các chuyện cầu nguyện,

van xin cầu khẩn,

khấn vái như vậy,

có thực hay không,

có được gì không?

Người thì nói có,

hễ cầu thì được,

linh ứng vô cùng,

nên tin là có,

mất mát gì đâu.

Kẻ lại nói không,

trông chi chuyện đó,

nằm mơ thì có,

mở mắt tay không,

không vẫn hoàn không,

uổng công dâng sớ,

mất tiền cúng sao,

mau mau tỉnh thức!

Tại sao như vậy?

Bởi vì, thử hỏi:

Sớ kia ai đọc?

đọc cho ai nghe?

chấp nhận hay không?

thực không ai biết!

Sao nọ ở đâu?

ảnh hưởng thế nào?

thực không ai biết!

Hãy nhân dịp này,

chúng ta cùng nhau,

xét thử xem sao,

cái chuyện đầu năm,

dâng sớ cầu an, cúng sao giải hạn, có đúng chánh pháp, có ích lợi gì, thực tế hay không?

*

Thực ra nếu như, người ta tu nhân, tích phước nhiều đời, từ trước đến nay, thì được gặp may, không cần cầu nguyện, chẳng cần van vái, dâng sớ cầu an, cúng sao giải hạn.

Những người đạo khác,

đâu có bận tâm,

dâng sớ cầu an,

cúng sao giải hạn,

nhưng họ có phước,

họ vẫn gặp may,

tiêu tai khỏi nạn,

tam tai đại hạn,

chẳng nghĩa lý gì,

chẳng cần cúng sao,

tào lao quá xá!

Hãy thử suy nghĩ:

Tại sao như vậy?

Bởi theo thông lệ,

từ xưa tới nay,

nhiều người thường hay,

vào chùa đầu năm,

dâng sớ cầu an,

cúng sao giải hạn,

nhưng mà tai nạn,

vẫn tới ào ào,

làm sao giải thích?

Theo đúng chánh pháp,

chúng ta phát tâm,

giúp đời giúp người,

gặp chuyện khó khăn,

khốn khó khổ đau,

cùng nhau tu tập,

hạnh nguyện bố thí,

tài thí pháp thí,

cùng vô úy thí,

cứu nhân độ thế,

giúp đỡ tiền của,

giúp công giúp sức,

giúp lời chỉ dẫn,

khuyên lơn an ủi,

cho người bớt lo,

cho đời bớt khổ,

bớt cơn sợ hãi,

thấy đâu là phải,

việc đúng thì làm,

đúng với chánh đạo.

Làm được như vậy,

chúng ta được phước,

dù không mong cầu,

chắc chắn không nghi.

Khi tích được phước,

dù ít hay nhiều,

phước báo lai đáo,

nghiệp báo tiêu trừ,

chúng ta gặp may,

tai qua nạn khỏi,

gặp thầy gặp thuốc,

tưởng như phép lạ.

*

Thử xét thí dụ:

trên chuyến phi cơ,

xe hơi xe lửa,

xe đò tàu thủy,

chỉ khi gặp nạn,

mới biết người nào,

có phước bao nhiêu.

Người nào phước nhiều,

thoát nạn hiểm nguy,

đường tơ kẻ tóc,

một cách lạ lùng,

hoàn toàn an ổn,

người đời cho là:

phép lạ hiển linh,

thần linh cứu độ,

người đó số hên,

cho nên mạng lớn.

Người nào kém phước,

cũng được người cứu,

chậm hơn một chút,

xây xát ít nhiều,

người đời cho là:

người đó cũng hên,

nên còn cứu kịp.

Người nào vô phước,

rước họa vào thân,

các kẻ ác nhân,

làm việc thất đức,

không chịu tích phước,

chẳng chịu tu nhân,

thân không giữ được,

người đời cho là:

tới số mạng vong,

không ai cứu nổi!

Lúc gặp hiểm nguy,

người cầu Đức Mẹ,

kẻ khấn Quán Âm,

lâm râm cầu nguyện.

Nếu như cả hai,

cùng được thoát hiểm,

vị nào cứu họ?

Còn nếu cả hai,

đều bị thảm tai,

chúng ta thử hỏi:

Hai ngài ở đâu,

chẳng nghe kêu cứu?

Bác ái từ bi,

sao nghe chẳng cứu?

Thực ra đó là:

chẳng có vị nào,

cứu hay không cứu,

các người gặp nạn.

Chúng ta nên biết, sự thực chính là:

chỉ có phước báu,

do ở thiện tâm,

cứu giúp con người,

khi gặp tai biến,

dù ở nơi đâu,

trên đất trên không,

trên sông trên biển.

Còn phước thì sống,

hết phước mạng vong,

đừng mong cầu khẩn,

hãy mau giác ngộ.

Trong Kinh A Hàm,

Đức Phật có dạy:

Chỉ có phước báo, mới có thể làm, giảm thiểu nghiệp báo.

Phước báo là do,

việc làm phước thiện,

chính mình tạo ra,

chứ không phải do,

thượng đế ban cho,

hay do cầu nguyện.

Nếu cầu nguyện được,

tại sao nhiều người,

cùng cầu cùng nguyện,

kẻ chết người sống?

kẻ qua người vướng?

Chúng ta nên biết, sự thực chính là:

người nào tích phước,

từ trước đến nay,

không cần cầu nguyện,

cuộc đời cũng an,

ít gặp nguy nan,

ít có sóng gió,

ít có trắc trở,

đở bớt phiền muộn,

tai qua nạn khỏi,

chuyện lớn hóa nhỏ,

chuyện nhỏ hóa không,

chuyện khó hoá dễ.

Khi tích phước đức,

dù ít hay nhiều,

đều được hưởng phước,

rước được điều may,

không hay thất bại,

tại thế an vui,

tai qua nạn khỏi,

gặp thầy gặp thuốc,

không chuốc ưu phiền,

người hiền thường gặp,

bệnh tật tiêu trừ,

tưởng như phép lạ.

Còn như cầu nguyện,

mà không tích phước,

thì cũng như không,

chẳng nên trông mong,

phép lạ xảy đến!

Nghiệp báo cũng do,

chính mình tạo ra,

chứ không phải do,

thượng đế thần linh,

hay bất cứ ai,

xúi bảo mình làm.

Chính do tâm tham,

xui khiến người ta,

nổi lên tâm ma,

cầu xin tiền tài,

giàu sang sung sướng,

một chút phẩm vật,

nhỏ nhoi chút xíu,

dâng cúng cho chùa,

nhà thờ đền miếu,

cầu xin bạc triệu,

liệu còn chưa đủ,

ngủ nghỉ ăn uống,

muốn danh muốn lợi,

tài sắc phù du,

muốn tu nên bỏ.

Chính do tâm sân,

xui khiến người ta,

nổi lên tâm ma,

cầu xin thắng kiện,

tàn hại kẻ thù,

triệt hạ đối thủ,

người họ không ưa,

vui mừng khi thấy,

kẻ thù thê thảm,

sống trong khổ nhục,

chết cũng không xong,

họ mới hài lòng.

Chính do tâm si,

xui khiến người ta,

nổi lên tâm ma,

cầu nguyện vãng sanh,

tây phương cực lạc,

mà không cần tu,

không gìn giữ giới,

ngay trong hiện đời,

đợi lúc hấp hối,

nói với người nhà,

rước nhiều ông bà,

đến nhà hộ niệm,

chỉ niệm mười tiếng,

liền khiến được lên,

cảnh giới Di Đà:

thiệt là vô minh!

Trong Kinh A Hàm,

Đức Phật có dạy,

thí dụ như sau:

Nếu một người nào,

phải bị trừng phạt,

nuốt một nắm muối,

thì sẽ đau khổ,

biết là dường nào.

Nếu bỏ nắm muối,

vào một tô nước,

rồi mới phải uống,

thì sẽ dễ chịu,

hơn một chút xíu.

Nếu bỏ nắm muối,

vào một lu nước,

rồi mới phải uống,

thì sẽ dễ chịu,

nhiều hơn chút nữa.

Nếu bỏ nắm muối,

vào một hồ nước,

rồi mới uống vào,

thì dễ như không,

không còn lớn chuyện.

Nắm muối tượng trưng,

cho các nghiệp nhân,

bất thiện chẳng lành,

con người đã tạo,

từ trước đến nay,

bây giờ phải lãnh,

nghiệp quả nghiệp báo,

nói chung đó là:

quả báo khổ đau,

không sao tránh khỏi.

Chỉ có phước báo,

ít hay là nhiều,

tượng trưng tô nước,

lu nước hồ nước,

mới có thể giúp,

con người vượt qua,

sóng gió ba đào,

nạn tai đau khổ,

như vậy mà thôi.

Đó mới thực là:

chí công vô tư.

Mình làm mình hưởng.

Mình làm mình chịu.

Con người nên lo,

dừng nghiệp chuyển nghiệp,

tự mình suy xét,

chính bản thân mình,

đừng nhìn người khác,

tu sửa ba nghiệp:

thân khẩu và ý,

đừng làm bậy bạ, đừng nói tốt xấu, đừng nghĩ vẫn vơ, ngay từ bây giờ,

đừng đợi đến khi,

nghiệp báo xảy ra,

dù có rên la,

không còn kịp nữa,

nghiệp báo vay trả,

chẳng ai thoát cả,

van xin cầu khẩn,

thì cũng muộn màng!

Cầu nguyện van xin,

dù tin hay không,

thực sự chẳng giúp,

chẳng ích gì đâu.

Hãy thử suy nghĩ:

Tại sao như vậy?

Bởi vì các vị,

giáo chủ giáo phẩm,

giáo quyền cao cấp,

giáo hội trung ương,

giáo sĩ địa phương,

một khi tai ương,

đến lúc xảy ra,

là ai cũng vậy,

cũng phải trả nghiệp,

đã tạo trước kia,

nhiều đời nhiều kiếp,

hoặc trong kiếp này,

cũng bị nguyền rủa,

vu khống cáo gian,

xử án khổ nạn,

bắt bớ giam cầm,

ám sát giết hại,

dù là người thân,

cũng không thay được.

Trong Kinh Pháp Cú,

Đức Phật có dạy:

Dù trốn lên non, xuống biển vào hang, nghiệp báo đã mang, không ai tránh được.

* * *

Tóm lại xưa nay,

cuộc đời đổi thay,

vui buồn sướng khổ,

cũng tại con người,

tạo phước cũng có,

tạo nghiệp cũng có,

tạo phước hưởng phước,

hưởng phước báo lành,

tạo nhân lãnh quả,

nhân thiện quả hiền,

nghiệp ác quả dữ.

Đúng luật nhân quả,

áp dụng ba đời:

quá khứ hiện tại,

và cả vị lai,

chẳng hề sai chạy,

chẳng vị nể ai,

bất cứ người nào,

dù tin hay không,

nếu đã gieo nhân,

cũng đều gặt quả.

Trong sách có câu,

cổ nhân thường dạy:

Lưới trời tuy thưa, mà chưa ai thoát.

Chữ “trời” có nghĩa:

nghiệp báo đã mang,

đến giờ phải trả,

chưa ai thoát được.

Thượng đế thần linh,

ơn trên thiêng liêng,

chí công vô tư,

không bao giờ làm,

theo lời cầu nguyện,

van xin khấn vái,

của những con người,

chẳng tích phước đức,

lại gây ác nhân,

thất đức vô cùng.

Chẳng hạn như là:

nay đâm bị thóc,

mai thọc bị gạo,

vu khống cáo gian,

khai man lý lịch,

lợi dụng pháp luật,

xúi người kiện tụng,

lợi dụng thần thánh,

kiếm tiền bất chánh,

giựt hụi quịt nợ,

sang đoạt tài sản,

chiếm hữu tác quyền,

làm tiền trắng trợn,

hung tợn hiếp người,

bần cùng cô thế,

bất kể khổ đau,

của bao người khác.

Chẳng hạn như là:

xưng mình chính thống

biếm người tiếm danh

hôi tanh danh lợi.

Mình mang mặt nạ,

chửi bới người ta,

lại nhứt định đòi

lột mặt kẻ khác,

tự tung tự tác

như chỗ không người.

Ai cũng tự xưng

tu hành chính thống

chửi bới người ta

chính cống giáo gian!

Lợi dụng danh nghĩa

bảo vệ chánh pháp

chẳng nể nang ai

bất chấp đúng sai

hễ không đồng ý

chửi cho đã miệng!

Nhân danh đấu tranh

công bằng dân chủ

đòi hỏi tự do

ấm no cơm áo

nhưng chẳng bao giờ

tôn trọng kính trọng

nhân phẩm nhân quyền

danh dự người khác!

*

Ngày xưa chư Tổ,

có lòng dạy dỗ,

con người phát tâm,

làm lành lánh dữ,

tạo nên phương tiện,

dâng sớ cầu an,

cúng sao giải hạn.

Mục đích khuyến dụ,

mọi người về chùa,

cúng kiến lễ lạy,

mong cầu an tâm,

gia đạo hòa bình,

tánh tình hướng thiện,

rồi nhân dịp đó,

truyền bá chánh pháp,

thuyết giảng giáo lý,

chỉ bát chánh đạo,

đó là: chánh kiến,

và chánh tư duy,

chánh ngữ chánh nghiệp,

cùng là chánh mạng,

và chánh tinh tấn,

chánh niệm chánh định,

giảng luật nhân quả,

giải lý vô thường,

phước đức công đức,

phước báo quả báo,

đọc tụng kinh điển,

chí tâm tu tập,

dạy các pháp môn,

niệm Phật ngồi thiền,

hiền lành tạo phước,

việc thiện làm trước,

từ khước ác nhân,

tu tâm dưỡng tánh,

giúp đỡ con người,

giác ngộ chân lý,

thấy được sự thực,

giải thoát khổ đau,

xây dựng cuộc sống,

an lạc hạnh phúc.

Ngày nay chúng ta,

tâm Phật tâm ma,

lẫn lộn khó phân,

cho nên tạm dùng,

phương tiện thiện xảo,

cúng sao giải hạn,

dâng sớ cầu an,

khi còn hoang mang,

tâm thường bất an,

gian nan khốn khổ,

không chỗ nương tựa,

vì chưa hiểu đạo,

chẳng biết làm sao,

thực hành thế nào,

cho đúng chánh pháp.

Giờ đây thấu hiểu,

rõ ràng không nghi,

đâu là chánh pháp,

chúng ta phát nguyện:

dừng nghiệp chuyển nghiệp,

quày đầu hướng thiện,

quyết tâm trì chí,

ý hướng tu hành,

tu tâm dưỡng tánh,

tránh làm điều ác,

chỉ làm điều thiện,

giữ tâm thanh tịnh,

tích cực chuyển hóa,

cuộc sống tâm linh,

của bản thân mình,

ngày được tốt hơn,

tâm được an hơn,

cuộc sống tốt hơn,

an lạc hạnh phúc.

Như vậy thực tế,

những người xung quanh,

cùng chung phúc lạc,

cho đến một ngày,

ngộ được chánh đạo,

đạt được đỉnh cao:

niết bàn giải thoát. []

Kính chúc Quí vị

Tân Xuân Hạnh Phúc Vạn sự cát tường Cư Trần Lạc Ðạo Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Tỳ-Khưu Thích-Chân-Tuệ

[email protected] 3.2.2011 (mùng một tết)

Cách Khấn Sao Giải Hạn Cach Cung Sao Giai Han Hang Nam Doc

Cách cúng Sao giải hạn hằ ng n¨m

Bài vị dán trên chiếc que cắm vào ly gạo và đặt ở khoảng giửa phía trong cùng của bàn lễ.

+ Mẫu văn khấn cúng giải Sao hạn như sau:

Dùng khấn cúng giải sao hạn, lá sớ có nội dung tùy theo tên Sao Hạn hàng năm mà ghi theo mẫu sau đây, đốt ba cây nhang quỳ lạy ba lạy rồi đọc :

– Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.

– Con kính lạy Đức Trung Thiện tinh chúa Bắc cựcTử Vi Tràng Sinh Đại đế.

– Con kính lạy ngài Tả Nam Tào Lục Ty Duyên Thọ Tinh quân.

– Con kính lạy Đức Hữu Bắc Đẩu cửu hàm Giải ách Tinh quân.

– Con kính lạy Đức Nhật cung Thái Dương Thiên tử Tinh quân.

– Con kính lạy Đức Thượng Thanh Bản mệnh Nguyên Thần Chân quân.

Tín chủ (chúng) con là:………………………………………. Tuổi:…………

Hôm nay là ngày…… tháng………năm….., tín chủ con thành tâm sắm lễ, hương hoa trà quả, đốt nén tâm hương,

thiết lập linh án tại (địa chỉ)……………………………………………………………để làm lễ giải hạn sao …………………….. chiếu mệnh, và hạn:………………………

Cúi mong chư vị chấp kỳ lễ bạc phù hộ độ trì giải trừ vận hạn; ban phúc,lộc, thọ cho con gặp mọi sự lành, trá nh mọi sự dữ, gia nội bình yên, an khang thịnh vượng.

Tín chủ con lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ, cúi xin được phù hộ độ trì. Phục duy cẩn cáo!

(Và quỳ lạy theo số lạy của từng sao theo phần “Tính chất sao Cửu Diệu…” đã nói ở trên) Văn khấn cúng dâng sao giải hạn (Nhân ngày Rằm tháng Giêng) Nam mô a di Đà Phậ t! Nam mô a di Đà Phậ t! Nam mô a di Đà Phậ t Hôm nay là ngày Rằm th áng Giêng năm…………….. Tín chủ (chúng) con là:……………. ………………………… Ngụ tạ i:………………………………….. Chúng con thành tâm có lời kính mờ i: Nhật cung Thái Dương Thiên Tử tinh quân Nam Tào Bắc Đẩ u tinh quân Thái Bạch, Thi Tuế tinh quân Bắc cực Tử vi Đại Đứ c tinh quân Văn Xương Văn Khúc tinh quân Nhị thập Bát Tú, Ngũ Hành tinh quấ n La Hầu, Kế Đô tinh quân Giáng lâm trước án, nghe lời mời cẩn tấ u: Ngày rằm Nguyên Tiêu, theo lệ trần tục, tín chủ con thành tâm sắm lễ, quả cau lá trầu, hương hoa trà quả thắp nén tâm hương dâng lên trước án, kính mời các vị lai lâm hâm hưởng, phù hộ cho toàn gia chúng con luôn luôn mạnh khoẻ, mọi sự bình an, vạn sự tối lành, gia đình hoà thuận, trên bảo dưới nghe. Cói xin c¸c tinh qu©n phï hé ®é tr× cho gia trung chóng con:Tai qua n¹n khái.V¹n sù b×nh an.§¾c phóc, ®øc, léc, thä.CÇu nh­ ý, chÝ nh­ t©m . C”ng thµnh danh to¹i . Đèn trời sán lạ n. Chiếu thắp cõi trầ chúng tôi các tinh quân.Lưu ân lưu phúc. Lễ tuy mọn bạ c.Lòng thành có dư. Mệnh vị an cư.Thân cung khang thái.

Người xưa cho rằng: Mỗi người vào mỗi năm có một ngôi sao chiếu mệnh, tất cả có 9 ngôi sao, cứ 9 năm lại luân phiên trở lại. Mỗi người vào mỗi năm có một ngôi sao chiếu mệnh. Có sao tốt có sao xấu. Nếu gặp sao xấu thì phải cúng dâng sao giải hạn.

+ Sao Chiếu mệnh: Theo nguyên lý Cửu diệu, các nhà Chiêm tinh xưa cho rằng mỗi năm mỗi người đều có 1 trong 9 sao chiếu.

– 3 sao Tốt: Thái dương, Thái Âm, Mộc đức.- 3 sao Xấu: La hầu, Kế đô, Thái bạch.

– 3 sao Trung: Vân hớn, Thổ tú, Thủy diệu.

Khi ở những tuổi nhất định (có Bảng tính sẵn phía dưới) mà gặp sao hạn sẽ không may, cần giải hạn. Do đó dân gian thường làm lễ Dâng sao giải hạn đầu năm hoặc hằng tháng tại nhà hoặc hằng tháng tại Chùa. Khi giải hạn mỗi sao có cách bài trí nến, mầu sắc Bài vị, nội dung Bài vị khác nhau với những ngày nhất định.

Cùng một tuổi, cùng một năm đàn ông và đàn bà lại có sao chiếu mệnh khác nhau. Trong 9 ngôi sao có sao tốt, có sao xấu, năm nào sao xấu chiếu mệnh con người sẽ gặp phải chuyện không may, ốm đau, bệnh tật. . . gọi là vận hạn.

Để giảm nhẹ vận hạn người xưa thường làm lễ cúng dâng sao giải hạn vào đầu năm hoặc hằng tháng tại chùa, hay hằng tháng tại nhà ở ngoài trời với mục đích cầu xin Thần Sao phù hộ cho bản thân, con cháu, gia đình đều được khoẻ mạnh, bình an, vạn sự tốt lành, may mắn, thành đạt và thịnh vượng.

Theo quan niệm dân gian thì 9 ngôi sao chiếu mệnh chỉ xuất hiện vào những ngày nhất định trong tháng, từ đó hình thành tục dâng sao giải hạn vào các ngày như sau:

Sao Thái Dương: Ngày 27 âm lịch hàng tháng

Sao Thái Âm: Ngày 26 âm lịch hàng tháng

Sao Mộc Đức: Ngày 25 âm lịch hàng tháng

Sao Vân Hớn (hoặc Văn Hán): Ngày 29 âm lịch hàng tháng

Sao Thổ Tú: Ngày 19 âm lịch hàng tháng

Sao Thái Bạch: Ngày 15 âm lịch hàng tháng

Sao Thuỷ Diệu: Ngày 21 âm lịch hàng tháng

Sao La Hầu: Ngày 8 âm lịch hàng tháng

Sao Kế Đô: Ngày 18 âm lịch hàng tháng

Tính chất sao Cửu Diệu và lịch cúng sao giải hạn như sau :

Sao La Hầu là khẩu thiệt tinh : sao này ảnh hưởng nặng cho nam giới về tai tiếng, thị phi, kiện thưa, bệnh tật tai nạn. Mỗi tháng hay vào tháng Kỵ là tháng 1, 7 âm lịch nên cúng giải vào ngày 08 âm lịch, là sao La Hầu giáng trần.

Khi cúng viết bài vị dùng giấy màu vµng như sau : “Thiên Cung Thần Thủ La Hầu Tinh Quân”. Thắp 9 ngọn đèn lạy 9 lạy về hướng Chánh Bắc. Cúng làm lễ lúc 21 đến 23 giờ .

Sao này kỵ nhất nữ giới, nhớ cúng giải hạn mỗi tháng hay vào tháng Kỵ là tháng 1, 3, 9 âm lịch nên cúng giải vào ngày 18 âm lịch ngày sao Kế Đô giáng trần. Khi cúng viết bài vị dùng giấy màu vàng như sau : “Địa cung Thần Vỉ Kế Đô tinh quân”, thắp 21 ngọn đèn, lạ y 21 lạy về hướng Tây .

Cách Khấn : Cung thỉnh Thiên Đình Bắc vỉ cung Đại Thánh Thần v ỉ Kế đô Tinh quân vị tiền. Cúng lễ vào lúc 21 đến 23 giờ.

Sao Thái Dương: Mỗi tháng cúng ngày 27 âm lịch, khi cúng phải có bài vị màu vàng, được viết như sau : “Nhật Cung Thái Dương Thiên Tử Tinh Quân”. Thắp 12 ngọn đèn, lạy 12 lạy về hướng ĐÔNG mà cúng. Làm lễ lúc 21 tới 23 giờ.

Sao Thái Dương là tinh quân Tốt nhất trong các Sao Hạn như Rồng lên mây, chiếu mệnh tháng 6, tháng 10, lộc đến túi đầy tiền vô. Mệnh ai chịu ảnh hưởng của sao này, đi làm ăn xa gặp nhiều may mắn, tài lộc hưng vượng, phát đạt.

Sao Thái Âm: Hàng tháng vào lúc 19 tới 21 giờ tối vào ngày 26 âm lịch, dùng 07 ngọn đèn, hương hoa trà quả làm phẩm vật, cúng day mặt về hướng Tây vái lạy 7 lạy mà khấn vái. Khi cúng phải có bài vị màu vàng, được viết như sau :”Nguyệt Cung Thái Âm Hoàng Hậu Tinh Quân”. Hạp tháng 9 âl – Kỵ tháng 11 âl.

Sao Mộc Đức tức sao Mộc Tinh. Mỗi tháng cúng ngày 25 âm lịch, sao Mộc Đức giáng trần. Khi cúng có bài vị màu vàng (hoặc xanh) được viết như sau : “Đông Phương Giáp Ất Mộc Đức Tinh Quân”. Lúc cúng thắp 20 ngọn đèn, đặt bàn day mặt về hướng chánh Đông lạy 20 lạy. Cúng lễ lúc 19 -21 giờ.

6- Sao Vân Hớn, hoặc Văn Hán (Hỏa tinh) : Tai tinh, chủ về tật ách, xấu vào tháng hai và tháng tám âm lịch. Nam gặp tai hình, phòng thương tật, bị kiện thưa bất lợi; nữ không tốt về thai sản.

Sao Vân Hớn tức Hỏa Dực Tinh. Một hung tinh, đến năm hạn gặp sao này Nữ giới sinh sản khó, vào tháng 2, tháng 8 xấu, nên đề phòng gặp chuyện quan sự, trong nhà không yên, khó nuôi súc vật.

Mỗi tháng hoặc tháng 4 và 5 âm lịch cúng ngày 29 âm lịch, viết bài vị màu đỏ : “Nam Phương Bính Đinh Hỏa Đức Tinh Quân”. Thắp 15 ngọn đèn day về hướng Chánh ĐÔNG mà cúng. Lạy 15 lạy. Cúng lúc 21 đến 23 giờ.

Sao Thổ Tú tức sao Thổ Tinh. Khắc kỵ vào tháng 4 và tháng 8 âm lịch, trong nhà nhiều chuyện thị phi, chiêm bao quái lạ, không nuôi được súc vật, chẳng nên đi xa và đêm vắng. Mỗi tháng cúng ngày 19 âm lịch, lúc 21 giờ, dùng 5 ngọn đèn , hương hoa, trà quả làm phẩm vật day về hướng TÂY mà khấn vái . Lạy 5 lạy . Bài vị mµu vµng viết như sau :”Trung Ương Mậu Kỷ Thổ Đức Tinh Quân”.

Thái Bạch: Sao Kim Tinh : Lại rất vui cho những người mang mệnh Thuỷ mệnh Kim, vì có quý nhân giúp, nên gặp sao này đi làm ăn xa có tiền tài của cải, trong gia đạo thêm người. Đối với người có mệnh Hỏa hay mệnh Mộc và nữ mạng sẽ gặp bất lợi, đề phòng tiểu nhân mưu hại hay hao tài tốn của, nhất là ở tháng 5 âm lịch .

Mỗi tháng vào ngày rằm (15 âm lịch) sao Thái Bạch giáng trần, khi cúng viết bài vị màu trắng như sau : “Tây Phương Canh Tân Kim Đức Tinh Quân”. Có thể thay 2 chử Kim Đức bằng 2 chữ Thái Bạch cũng được. Làm lễ cúng lúc 19 – 21 giờ . Thắp 8 ngọn đèn , lạy 8 lạy về hướng chánh TÂY .

Sao Thủy Diệu sao Thủy Tinh, là sao Phúc Lộc tinh. Nữ giới mang mệnh Mộc sẽ rất vui mừng , đi làm ăn xa có lợi về tiền bạc .Mỗi tháng hay vào tháng Kỵ tuổi là tháng 4 , 8 âm lịch, nên cúng giải hạn vào ngày 21 âm lịch, sao Thủy Diệu giáng trần. Khi cúng viết bài vị dùng giấy màu ®en như sau : “Bắc Phương Nhâm Quý Thủy Đức Tinh Quân”. Thắp 7 ngọn đèn , lạy 7 lạy về hướng Chánh Bắc. Cúng làm Lễ lúc 21 đến 23 giờ .

+ Còn về hạn mỗi người hằng năm sẽ gặp một hạn có năm tốt có năm xấu, cách xem như đã chỉ dẫn phần xem sao Cửu Diệu và hạn như bảng trên, còn về tính chất thì:

3- Ngũ Mô ̣ (Tiểu hạn) hao tiền tốn của.

4- Thiên Tin h (Xấu) bị thưa kiện, thị phi.

+ Cách Hóa giải Vận hạn do sao Chiếu mệnh:

Theo quan niệm dân gian thì 9 ngôi sao chiếu mệnh chỉ xuất hiện vào những ngày nhất định trong tháng, từ đó hình thành tục dâng sao giải hạn vào các ngày nhất định. Để hóa giải vận hạn, cổ nhân thường cúng hay làm Lễ Dâng sao giải hạn hằng tháng tại nhà hoặc tại chùa. Về thủ tục, mỗi tuổi khác nhau (về cách bài trí nến, mầu sắc Bài vị, nội dung Bài vị, ngày cúng nhất định) nhưng có những điểm chung và riêng như sau:

+ Lễ vật cúng sao đều giống nhau:

– Lễ vật gồm: Hương, Hoa, Quả (5 loại). Trầu, rượu, nước. Vàng, Tiền (10), Gạo, Muối.

– Lễ xong hóa cả tiền, vàng, văn khấn, bài vị.

+ Màu sắc bài vị và cách bố trí nến trên bàn lễ khác nhau về chi tiết cụ thể:

Khi gặp sao hạn chiếu, tùy tuổi, nam hay nữ mà Sao khác nhau. Tùy Sao mà cúng vào các ngày khác nhau, bàn đặt và hướng lạy, màu sắc Bài vị, nội dung chữ ghi trên Bài vị, số nến và sơ đồ cắm khác nhau, nội dung khấn cũng khác nhau.

+ Cách bố trí nến (đèn cầy) trên bàn cúng theo sơ đồ từng Sao như sau (còn màu sắc là của Bài vị):

Số nến trên của từng Sao được gắn khoảng giửa trên bàn lễ, bên trong cùng của bàn lễ là Bài vị.

Cập nhật thông tin chi tiết về Chu Giai Kinh Cung Tu Thoi trên website Apim.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!