Xu Hướng 2/2024 # Bàn Về Chuyện Tái Sinh, Đầu Thai Và Cúng Cơm # Top 4 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Bàn Về Chuyện Tái Sinh, Đầu Thai Và Cúng Cơm được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Apim.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

H. Bạn có tin tái sinh không? Nếu tin là có tái sinh thì vì sao bạn lại tin?

Đ. Tin vào Thánh ngôn lượng. Lịch sử Đức Phật cho biết chính Ngài đã có những kiếp sống quá khứ. Trong cuối bài Đức Phật có nói: ” Trải qua vô lượng kiếp Luân Hồi, Như Lai đã phải đi lạc đường, trong khi muốn tìm cho ra người thợ cất nhà này; khốn khổ thay, Như Lai đã phải sanh đi, sanh lại triền miên”. kinh Chuyển Pháp Luân (Dhammacakka sutta) Đức Phật đã thuyết: “Đây là kiếp sống cuối cùng của Như Lai. Từ đây Như Lai không còn tái sanh nữa”. Tương tự như trong Kinh Pháp Cú H. Nếu tin là có tái sinh, vậy có người nào chết mà không tái sinh không? Câu trả lời là có. Có người chết tái sinh và cũng có người chết không tái sinh.

H. Vậy điều kiện nào để một người được tái sinh và một người không được tái sinh?

H. Nếu tin là có tái sinh, vậy cái gì dẫn dắt chúng ta đi tái sinh?

Đ. Thân mạng của con người được được kết hợp bởi năm nhóm, mà Phật giáo gọi là ( “Năm uẩn“. Năm uẩn là những yếu tố vật chất và tinh thần, gồm: SắcThọThức( chỉ thân và sáu giác quan hay còn gọi là lục căn, bao gồm mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý, do Tứ đại chủng tạo thành, đó là bốn yếu tố đất, nước, gió, lửa. Sắc tạo nên các giác quan và đối tượng của chúng), là những hoạt động tâm lí sau khi có tưởng, ví dụ chú ý, đánh giá, vui thích, ghét bỏ, quyết tâm, tỉnh giác. Hành là đối tượng đã tạo nên nghiệp thiện ác...) và bao gồm sáu dạng ý thức liên hệ tới sáu giác quan: Ý thức của mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Thức phụ thuộc vào sáu căn tiếp xúc với sáu trần để hình thành nên sáu thức. Nếu không có thức người ta sẽ không phân biệt được màu sắc hay âm thanh v.v).

Khi mệnh chung, thân mạng mất đi, những nhóm đó tan rã, nhưng kết quả của những hành động do thân, khẩu, ý tạo nên vẫn còn tác động. Cái “còn tác động” sau đó Phật giáo gọi là “”, và nghiệp lực này dẫn dắt chúng ta đi tái sinh.

Mặc dù nghiệp lực dẫn dắt chúng ta đi tái sinh nhưng phải có một cái gì đó để mà đi tái sinh. Cái gì đó, theo Phật Giáo chính là cái thức tái sanh (Đạt Lai Lạt Ma là “một cái ý thức” xuất hiện ngay chính vào thời điểm thụ thai. ( Ngài trả lời trong một dịp trả lời phỏng vấn về ngừa thai)patisandhivinnâna), hay theo cách gọi của Đức

H. Vậy cái thức tái sanh này là gì và từ đâu ra, tại sao lại đợi đến lúc thụ tinh mới xuất hiện?

H. Khi được tái sanh trở lại làm người, vậy người trong kiếp này và người của kiếp sau có phải cùng là một người không hay là hai người khác nhau?

– Ví như kẻ trộm xoài, chủ nhà bắt được quả tang dẫn đến đại vương nhờ xử trị. Bị cáo cãi rằng: “Hạ thần không hái xoài của người ấy. Trái xoài của anh ta trồng hồi trước chỉ là hạt mầm ở dưới gốc còn trái mà hạ thần hái là trái to ở trên cành. Hạ thần không có ăn trộm.” Tâu đại vương! Với lý lẽ như thế, đại vương có xử phạt y được không?

– Thưa đại đức, dẫu có ngụy biện hay ho, trẫm vẫn xử phạt tên ăn trộm kia như thường!

– Sao lại thế được? Y đâu có hái cắp trái của người kia trồng đâu mà xử tội, hở đại vương?

– Đành rằng thế, nhưng mà trái cây y hái trộm ấy cũng do từ trái kia sanh ra, nó nẩy mầm, tăng trưởng mà thành.Cho nên người ki a cũng không thoát khỏi tội.

– Cũng như thế đó là danh sắc cũ và danh sắc mới, tâu đại vương. Việc tái sanh từ đời này sang đời kia cũng vậy. Các nghiệp thiện ác trong đời giống như đã gieo hạt giống, nẩy mầm, tăng trưởng, mai sau tất có quả báo.”

( http://thuvienhoasen.org/p19a1000/tu-cau-hoi-so-021-den-048 )

Nếu ta trong kiếp này và ta ở kiếp sau là một, thì ta là một linh hồn trường cửu bất biến. Đó là quan điểm của nhất thần giáo, tin có một đấng sáng tạo, có một linh hồn sống mãi.

Nói một cách khác dễ hiểu hơn, một người nào đó sau khi tái sinh thì sẽ không còn giống như trước nữa thế nhưng cũng không phải là hoàn toàn khác hẳn.

H. Khi con người chết đi, nghĩa là thân tâm () bị hoại diệt, ngũ uẩn tan rã, không còn gì cả, vậy xin hỏi rằng những lễ cầu siêu cúng cơm, thân nhân đã chết có được hưởng gì không?

Đối với một cơ thể đã chết, bộ phận cơ thể, là Căn, đã ngưng hoạt động, có nghĩa là bộ ba đã mất một phần, thế thì những sinh hoạt về vật chất như ăn uống, hiển nhiên là không thể tiếp tục.

Có người cho rằng sau khi đã qua đời, người chết vẫn còn ăn, gọi là Thức thực. Như chúng ta đã biết, Thức vốn vô hình, nếu có Thức thực thì cũng chỉ là “cảm” được những tâm niệm thương ghét, an ủi, v.v… không thể “ăn” được món ăn vật chất như xôi chè, hoa quả. Nếu quả thật là còn có sự thèm ăn, thấy thân nhân bầy những món ngon, mà thần thức lại không thể ăn được, thì chỉ thêm thèm thuồng đau khổ mà thôi!

H. Chúng sinh chết rồi tái sinh, tái sinh rồi chết, vậy khoảng thời gian dài ngắn sau khi chết để đi tái sinh là như thế nào?

Đ. Theo Phật Giáo Nam Truyền, việc tái sinh xảy ra tức khắc chỉ trong một sát na niệm tưởng, không để trống khoảnh khắc nào trong trạng thái lưng chừng giống như làn sóng điện lan trong không gian, tức khắc được phát sinh trong máy thu thanh hay thu hình. Sự sinh tử xảy ra cực kỳ nhanh chóng và được xem là một tiến trình liên tục.

Bàn Về Bộ Đôi Sao Thai Phụ

Sao Thai Phụ trong tử vi thuộc Dương Thổ, là sao có nhiệm vụ chuyên phụ giúp Tá Phụ. Trong khi đó sao Phong Cáo trong tử vi lại thuộc Âm Thổ, có nhiệm vụ chuyên phụ giúp sao Hữu Bật. Theo sách tử vi đẩu số, tính cách của Thai Phụ rất chính trực đường hoàng, có ý chí kiên cường, kiên quyết và rất có tài văn chương, nghệ thuật. Sao Tả Phụ chuyên phụ giúp về quý hiển.

Trong khi đó sao Phong Cáo có tính cách rất tinh tế và siêng năng, với khí độ trầm tĩnh, rất vững vàng và thông minh trong cách ứng xử hàng ngày. Ngoài ra còn có tinh thần yêu thích nghệ thuật. Phương cáo có nhiệm vụ chuyên phụ giúp sao Hữu Bật trở nên hiển quý hơn.

1. Ý nghĩa của sao Thai Phụ ở cung mệnh với Phong Cáo

– Rất tự đắc, có sự kiêu hãnh đến mức tự phụ (fierté)

– Rất háo danh và tính hay khoe khoang (vanité)

– Thường chuộng hình thức bề ngoài hơn (formaliste)

– Sao Thai Phụ, Phong Cáo có rất nhiều lợi ích cho việc thi cử và cầu danh bởi vì 2 sao này thường chủ về bằng sắc, huy chương và công danh.

Với 3 ý nghĩa đầu. Thai Phụ Và Phong Cáo giống nghĩa với Sao Hóa Quyền, nhưng có lẽ không mạnh mẽ bằng Hóa Quyền vì Quyền ở đắc địa chỉ thẳng vào sự uy lực thực sự hơn là những danh tiếng bề ngoài. Nếu như đi đôi cùng thì nhất định ý nghĩa phải mạnh hơn, đặc biệt là khi có Quốc An đi kèm.

2. Ý nghĩa sao Thai Phụ và sao Phong Cáo ở các cung

Phong cáo và Thai Phụ phải đi chung với nhau mới đủ mạnh, và đặc biệt nhất là khi đi cùng với các cát tinh khác lại càng đẹp.

Chủ mệnh sẽ là người rất cần cù, tỉ mỉ, kỹ lưỡng và đặc biệt cẩn thận, sạch sẽ, ngăn nắp. Đặc biệt nhất khi là thủ tại Nữ Mệnh. Là người cư xử phúc hậu, ăn ở tốt.

Hơi tự đắc, cần đi với các sao chủ quyền hành như Hóa Quyền thì đặc tính này mới rõ. Được hưởng phúc đức và công đức của tổ phụ, có tổ tiên truyền lại vì vậy do đó giảm thiểu cảnh u sầu trong cuộc sống:

Theo vinh hiển mỗi khi kết hợp với nhiều quyền tinh hoặc quý tinh hay cả văn tinh, đặc biệt với Lộc Tồn, Quốc Ấn

Sao Thai Cáo khi đi với văn tinh như Khoa hoặc với các cát tinh cũng sẽ rất có lợi cho con đường công danh, đường công danh thuận lợi nhưng lại ảnh hưởng gia tăng quý hiển không được mạnh lắm:

Theo bộ Thai Xương khi kết hợp với Bát Tọa thì chủ về sẽ được phong tặng:

Khi Thai Phụ hoặc Phong Cáo gặp phải Sao Quốc Ấn hay Tướng Ấn (cần chú ý rằng Sao Lộc Tồn, Tướng Quân và Quốc Ấn tam hợp nhau): sẽ mang lại kết quả rất tốt đẹp, tọa ở cung điền thì có nhiều điền sản, thủ tại Mệnh hoặc Quan Lộc thì có được nhiều quí hiển, sẽ được trọng dụng, và được huy chương, cùng bằng khen, sẽ là người mang ấn, và sẽ làm đến tận bậc Công Hầu, ý để nói về sự quyền cao chức trọng và cả sự phú quý:

Khi sao Thai Phụ ở mệnh và Phong Cáo gặp được Ấn, Tướng, và rất kỵ khi gặp Cự Đồng, nếu như được Khôi Xương hội họp thì khi tham gia thi cử dễ đỗ đầu bảng:

Khi Phụ Cáo ái giao với Ấn, Tướng, đố kị Cự Đồng, nhi ngộ Khôi Xương cử khoa ngao đầu tác chiến Thai Cáo, Tướng thêm Khoa, Quyền hay Quang Quí: phát lớn

Thai Cáo, Xương, Khoa, Quyền: vinh hiển tột bực (chú ý một số người ghi thêm Khúc không đúng vì Thai Cáo không hội với Khúc)

Khi Thai Cáo gặp được Nhật, Nguyệt: sẽ là quý cách

Theo như Việt Viêm Tử thì Tướng Cáo thủ ở Mệnh khi hội cùng với Hồng Loan, Sao Hoa Cái thì ngay từ thủa thiếu niên đã toại chí, và mong sớm thành đạt, sẽ có uy quyền võ nghiệp, khi lớn có thể giữ quyền chức chánh vị, về tài văn thì có thể làm đến chức quản đốc nha sở, để về lưu trữ thư tịch, hoặc những ngành nghề chuyên về thăng thưởng phong tặng huân công.

Phong Cáo khi đi với Lộc Tồn, Quốc Ấn và Quang Quý thì làm càng sẽ càng tốt đẹp, khi đi với Quan Phúc hoặc Âm Dương thì cũng sẽ tốt.

Người có Thai Phụ, Phong Cáo ở cung Phụ Mẫu sẽ có cha mẹ có nhiều chức vị.

Ở cung Phúc thì Phong Cáo có nghĩa là đại thọ. Cả 2 sao này khi gặp thêm Quốc Ấn, Quang Quí thì vinh hiển.

Cáo, Ấn, Thai Phụ: được ban cấp điền sản ăn lộc, hay khẩn hoang.

Thai Phụ hay Phong Cáo gặp Quốc Ấn: có điền sản, được ban cấp điền sản

Thai Phụ hay Phong Cáo gặp Quốc Ấn, Tử, Phủ: giàu điền sản

Thai Phụ hay Phong Cáo gặp Phượng Các: giàu nhà cửa

Chủ mệnh Thai Cáo: có vinh hiển

Sao Thai Phụ chủ mệnh hay Phong Cáo khi gặp Quốc Ấn, Quang Quý thì hiển đạt: hiển đạt Khoa, Xương, Cáo, Khúc giáp Quan, Khoa, Quyền thủ tại Mệnh thì càng ngày càng có tiếng vang (có danh tiếng)

Thai Phụ hoặc Phong Cáo khi gặp Tướng: con cái hiển đạt

Thai Phụ hoặc Phong Cáo gặp Quang Quí, Quốc Ấn: thì con hiển đạt

Thai Phụ gặp Thai: dễ sinh con quí tử

Vợ hay chồng đều là người có học vị

Anh chị em trong gia đình đều có học vấn

m) Tử vi sao Thai Phụ, Phong Cáo ở hạn

Thai Phụ hay Phong Cáo cũng sẽ có ý nghĩa như đắc tài, đắc quan, đắc danh, được danh tiếng khen và có huy chương.

Có sự thuận lợi cho con đường công danh, thi cử

Thai Phụ hoặc Phong Cáo khi gặp Long Trì: thăng quan

Tết Về Lại Bàn Đến Nghiệp Nạo Phá Thai

Nay xin phép nhà Thánh đăng đoạn kinh này thuộc “Chương 8 – Trang 521 – Âm phần dẫn lộ kinh thư chân giải thuộc cuốn: Đạo Mẫu Tứ Phủ Đình Thần Kinh Thư dẫn tu cơ sở – TU ĐẠO TẠI ĐỜI – LINH THIÊNG NƠI CÕI THỰC …..”.

Trích đoạn này để các bố các mẹ có lỡ bỏ các con và những người có tâm thương xót vong thai nhi cũng hiểu được phần nào về vong thai thi, nỗi oán hận đáng thương của các con cũng như hiểu rõ đâu mới là cách ĐÚNG ĐẮN để các con có thể ĐẦU THAI, SIÊU THOÁT thực sự.

Cha mẹ tụng đọc đoạn kinh này cũng để các con được an ủi mà vui vẻ đoàn tụ cùng gia tiên, gia đình ăn Tết âm lịch và sau đó yên lòng mà siêu đi.

Xin trích nguyên văn đoạn kinh như sau:

,,………. Tuệ Trần con ta giảng tiếp cho con :

“Nghiệp mà hiện nay đang làm khuấy đảo âm dương ta cũng giảng cho con biết mà giáo chúng tụng niệm cũng như các con ngộ ra mà hành đạo.

Này con ta, duy trì nòi giống có thể nói là nghĩa vụ thiêng liêng cao cả của mọi loài.

Đối với con người khi mang thai được là niềm hạnh phúc rất lớn của các cặp vợ chồng. Nhưng từ xưa vì một số lý do nào đó theo lẽ tự nhiên mà sự sẩy thai trụy thai chết lưu xẩy ra phù hợp với tự nhiên duyên nghiệp hay ngày nay do những lý do bắt buộc phải bỏ thai nhi trong quá trình mang thai như bị di chứng các loại khi bà mẹ mang thai như cúm sởi …. Việc bất khả kháng này còn có thể không gây oán nghiệp giữa mẹ và con.

Còn lại việc nạo phá thai là một hành động hết sức tội lỗi. Bởi các con đã phá hoại, hủy hoại một sinh linh. Khi thai nhi chết đi thường trở thành những oan hồn, mang trong lòng oán hận vì cha mẹ không cho con chào đời, tạo ra nhiều nghịch cảnh.

Từ xưa đạo ta với những thai nhi bị sảy trụy tự nhiên, hội đồng gia tiên và chúng ta đều dang tay gia trì năng lượng che trở cho vong linh bé bỏng xấu số đó có thể rong chơi quanh quẩn bên hội đồng gia tiên và bố mẹ để tìm cách đầu thai tiếp về nhà đó, như dân gian các con vẫn gọi là con lộn, những chân linh khi lộn lại đó các em bé này trên người hay có những nốt bớt để “đánh dấu”, cũng có bé không đầu thai được vào vợ chồng đó thì lại đầu thai vào những cặp vợ chồng khác cùng ruột thịt trong nhà.

Trật tự âm phần từ xưa về vấn đề này rất đơn giản như vậy.

Nhưng ngày nay, cùng với sự phát triển của xã hội hiện đại kéo theo nhiều vấn nạn đáng lo, đó là nạn phá thai. Một năm riêng cộng đồng Việt tộc các con có cả trăm ngàn đến cả triệu ca nạo thai, thậm chí có những kẻ vô giáo dục không còn nhân tính rất nhiều lần lập đi lập lại thậm chí có kẻ cả chục lần đi phá bỏ thai nhi. Việc này gây đảo lộn làm nhiễu loạn âm phần làm các quan tướng đạo ta nguyên đi thu oán khí với sát khí của các lần nạo thai cho môi trường dương phần thanh tịnh quá vất vả.

Các con biết đó, một linh hồn chân linh vào luân hồi để đầu thai thành người cần bao nhiêu thời gian và năng lượng, công đức lực và nguyện lực cùng biết bao đợi chờ để mà về thế giới hữu hình, để đầu thai thành nhân hình, thành con người.

Vậy khi một người mẹ chối bỏ một thai nhi nghĩa là chỉ trong một vài giây phút, họ đã phá đi sự cố gắng, tu tập một cách chân thành để vượt tạo hóa luân hồi của đứa trẻ đó.

Chính vì vậy, vong thai nhi khi bị phá bỏ thường chuyển từ duyên lành kết nối nhận sự yêu thương của tình nghĩa thiêng liêng mẫu tử sang sân hận nghiệp kết oán hờn nên rất khó buông bỏ.

Các con biết khi một người mẹ phá thai, tức là đã gần như đoạn đi một cuộc sống mới theo lẽ tự nhiên của tạo hóa. Tuy không thể so sánh như kẻ phạm tội giết người, nhưng cũng không kém tội sát nhân là bao. Người bố người mẹ đó mang nghiệp lực rất nặng.

Nghiệp lực này sẽ không thể tự nhiên mất đi mà cứ ràng buộc nhau mãi

Riêng về nạo thai do linh hồn chân linh đó đã qua cửa luân hồi cho nên oán nghiệp sẽ xẩy ra luôn không phải là kiếp sau mới sinh nghiệp mà ngay tại kiếp này sự giận giữ oán hận sự trách móc đã xẩy ra ngay tại trên dương thế. Các vong thai nhi theo đúng luật nhân quả có quyền đòi nợ những ông bố bà mẹ đã cố tình tước đoạt mạng sống của chúng, rời bỏ quyền và nghĩa vụ thiêng liêng mà tạo hóa an bài. Cũng có những chân linh bé bỏng đó trong thần hồn đầy thiện tính có thể buông bỏ và nhờ công đức lực của kiếp trước dẫn đi đầu thai lại ngay nhưng cũng có chân linh năng lượng khi qua luân hồi không còn nhiều lại không có được công đức lực làm ra từ tiền kiếp, khi đó chân linh bé bỏng đó đi theo báo nghiệp oán hận tuy rằng bởi năng lượng chân linh có hạn không gây hậu quả nghiêm trọng nhưng cuộc sống người bố người mẹ gặp muôn vàn trắc trở.

Người phá thai phải nhớ rằng, mình đã tạo nghiệp sát lớn bên cạnh cái nghiệp duyên chưa thanh toán giữa mình và đứa nhỏ chưa ra đời đó. Hai nghiệp chồng lên nhau sẽ rất là nặng nề, tạo nên vô số tình huống, nhiều bi kịch cho cả vong nhi lẫn bố mẹ nhất là khi có nhân tác động được nghiệp duyên chắp nối lúc này đối diện nhau mới sinh ra thêm loạn.

Tuệ Trần con ta,

Theo lẽ tự nhiên, chờ đợi là vậy, hi vọng là vậy, sung sướng là vậy, hạnh phúc là vậy nhưng lại bị nạo ra móc ra không cho thành người thì hậu quả giành cho vong thai nhi về tâm tính sân hận sẽ thế nào, ta không cần nói các con cũng hiểu.

Các con biết hạnh phúc nhất của một người con gái là được mang thai, được chờ đợi được vui mừng nhìn những đứa con của mình lớn lên từng ngày, được hạnh phúc khi nghe tiếng con khóc trào đời vậy mà ngược lại phải từ bỏ đứa con thì người mẹ cũng chẳng sung sướng hạnh phúc gì về lâu dài và luôn là một vết khắc đeo bám trong thần hồn chân linh.

Lại nói về vong thai nhi, khi bi nạo ra chân linh bé bỏng đó không đủ năng lượng và công đức cùng phúc duyên để được đi tiếp ngay tại dương thế, lúc đó chỉ quanh quẩn bên mẹ của bé suốt nhiều năm để cầu lấy năng lượng từ chính người cha người mẹ mong trụ lại cho chân linh khỏi tán lạc hoặc tái đầu thai vào bà mẹ đó.

Nhưng do có thể người mẹ đó nạo phá thai quá nhiều hoặc không sinh nở nữa hoặc sinh nở ít không đủ để tiếp dẫn cho các vong linh đó đầu thai lại.

Việc dẫn lộ giúp các chân linh bé bỏng tìm được người mẹ mới cho mình quả thật là khó khăn.

Các bé do cha mẹ cố tình phá bỏ khó đầu thai lại hơn những bé bị sẩy, việc cậy sở bề trên vô hình để xử lý việc này của những ông bố bà mẹ gây ra nghiệp ruồng bỏ hậu đại giống nòi đang nổi cộm. Chúng ta cũng đang cố sức sắp xếp việc này của nhân thế cho thuận tình và hợp lý lẽ âm dương.

Nhưng phải nói cho các con hiểu: Khi đã gây nghiệp thì phải gánh chịu trong nhân quả. Khi người mẹ và người bố phá thai là đã tạo tội, đã thiếu nợ với vong linh thai nhi ấy. Để giải quyết món nợ duyên nghiệp giữa thai nhi và người mẹ, không phải chỉ đơn giản là cầu siêu, hay gia trì năng lượng tín lực hương khói cho chân linh bé bỏng mà các bố mẹ đã trót làm ác như vậy cần phải tự làm ra công đức lực chân chính, hồi hướng bù đắp cho các chân linh bé bỏng để chúng đủ công đức lực tìm được nơi đầu thai mới.

Còn muốn buông bỏ được nghiệp đã kết với vong thai nhi còn cần có nguyện lực chân thành và sự sám hối nhân tính để bù đắp tình yêu thương của người mẹ như thương yêu người sống. Đặc biệt trong vô hình khi chưa xác định được giới tính khi mẹ nghĩ con là vong bị nạo đó là bé trai thì con sẽ là bé trai, khi mẹ tin vong con là bé gái thì con là vong bé gái, đó là sự liên kết vô hình, tâm linh giữa mẹ và vong bé nhỏ.

Không phải sự yêu thương là phải lập bàn thờ hay mang lên thờ cúng các chân linh bé bỏng đó, người là bố mẹ không được thờ cúng thai nhi.

Vì thờ cúng thai nhi là ngược luật hiếu đạo của loài người. Càng thờ cúng gia trì tín lực tốt xấu chúng càng có năng lượng bám trụ lại sinh những bất cập thậm chí tín nguyện lực nhận được tăng nhưng nhận thức tri thức của vong thai nhi còn non yếu, dễ bị tà ác dụ dỗ lôi kéo lợi dụng, nhân đó tà tính không chịu đi đầu thai.

Lúc này chỉ có sự yêu thương xuất phát từ tâm hồn sự hối hận chân thực.

Sự gia trì công đức lực bằng các hành động và việc làm thiện đức chân thực trên đời để hồi hướng cho các vong linh thai nhi bị phá bỏ đã được đặt tên mới giúp được chân linh thai nhi bé bỏng đó dần dần hết oán hận và tìm được nơi đầu thai mới.

Thông thường, đã qua cửa luân hồi các chân linh đều đã được xóa bỏ ký ức kiếp trước nên chúng rất ngây thơ và tâm thức linh hồn trong trắng chưa nhiễm bụi trần gian. Dù rằng bị bỏ rơi không còn làm kiếp người nhưng chúng vẫn cần cần tình yêu thương nồng ấm, sự quan tâm của người sống là bố mẹ không thành của chúng và gia tiên của dòng họ cõi vô hình.

Cửa Đình Thần chúng ta đã có sắc lệnh cho các hội đồng gia tiên, các dòng họ có con cháu phá bỏ thai chú ý chăm sóc các chân linh bé bỏng đó để chúng có đầy đủ sự giáo dưỡng và tính thiện chờ ngày nhận đủ công đức lực và năng lượng gia trì đi đầu thai lại. Thực ra bởi các vong chưa được nhận khí bản nguyên thiên tiên bản nguyên dương phần chính thức khi chưa ra đời vậy nên tạo hóa cho phép không cần một lần nữa vào luân hồi mà chỉ cần đầu thai lại ngay là đủ. Chúng chỉ bị chi phối bởi pháp tắc tạo hóa gạt đi ký ức không mong muốn khi bị nạo thai ra của thời gian đã tồn tại qua người mẹ cũ và cũng tránh cho các thế lực hắc ám lôi kéo dậy dỗ những tà pháp.

Nhưng dù vậy, bởi phá thai là làm trái quy luật tạo hóa nên vẫn có đầy bất cập.

Các con nên biết rằng, dù bé bỏng ngây thơ và vô minh nhưng các con có đi đâu, làm gì thì các chân linh bé bỏng đó theo sợi dây duyên nghiệp liên kết.

Bé thường hay đi theo người mẹ và người cha đã kết duyên nhiệp.

Trong đường nhân sinh nhân đạo của con người khi chúng nhìn nhận được vấn đề và biết rằng mình là kẻ bị bỏ đi, rồi khi có điều kiện quan sát các em bé được sinh ra được chiều chuộng chăm sóc vậy lòng sân hận càng cao thậm chí còn sinh ghen tỵ với anh chị em đã được sinh ra. Khi thấy những em bé với hình hài con người hữu hình được chăm sóc, yêu chiều, cũng có khi chúng ngồi cạnh nhìn các bé sống chơi đùa đấy nhưng cảm nghĩ lúc đó thế nào ta không cần nói các con cũng hiểu.

Với những người mẹ, người cha bị vong thai nhi oán giận như thế cũng rất dễ dàng giao lưu với vong con mình trong một số hoàn cảnh và điều kiện quy định. Mặc dù khi chết như trong trạng thái nạo, hút, phá thai bằng những biện pháp cực đoan, nhưng vong khi chưa đi đầu thai lại vẫn phát triển tư duy theo năm tháng, tuy rằng có chậm hơn các em bé được sinh ra.

Cũng cảnh cáo các con biết rằng có những chân linh vong thai nhi bé bỏng đó không những theo cha mẹ kiếp này mà còn theo cho đến những kiếp khác nữa.

Cuộc sống của các con trải qua mấy mươi năm rồi cũng lại bỏ cõi hữu hình dương gian, nhưng nếu lúc sống lỡ phạm vào nghiệp này nếu chưa hóa giải được, có thể “vong thai nhi” đó sẽ theo ta đến kiếp khác.

Phần trên ta giảng là việc duyên nghiệp nhìn thấy và hậu quả của việc nạo phá thai. Còn đối với luật quả tạo hóa tự nhiên công nhận việc bỏ thai thường gây sự phẫn nộ tạo nghiệp lớn mất hài hòa. Mỗi sai lầm trong quá khứ ấy sẽ tạo ra nhân quả gọi nghiệp nội kết huyết thống.

Nghiệp nhân quả nội kết ấy được tạo hóa công nhận.

Nghiệp nội kết này luôn bám theo cơ thể người cha và người mẹ, nghiệp này nhẹ thì tạo nên những lo lắng, ức chế vô hình những rào cản phúc vận.

Việc quan trọng khi đã gây ra các con phải dành thời gian trung thực với bản thân suy ngẫm, ngẫm ngộ về nhân quả ấy. Ngộ thấu đáo các sai lầm do cái tôi cái tính cái dục cái ham muốn của mình gây nên, không đổ lỗi cho khách quan. Chỉ cần làm tốt việc này, tự tâm thành sám hối không mắc phải nữa, nghiệp nội kết cũng hóa giải ít nhiều, nếu công đức lực đủ lớn nghiệp được hóa đi ngay lập tức. Lúc này thậm chí chỉ cần làm lễ cảm tạ trời đất tạo hóa gia tiên Thần Thánh trợ giúp là đã giúp được vong thai nhi đủ năng lượng đi đầu thai.

Những điều trên tự ghi nhớ lấy.

Nay ta nói cho các con mấy biện pháp cần thiết để cho các chân linh bé nhỏ bớt phải đi đường vòng mà có thể đầu thai chuyển sinh vào nơi mới.

Đối với những kẻ bần cùng bất đắc dĩ mà chuẩn bị phải đi nạo bỏ thai nhi cố gắng cả hai nam nữ thắp hương tại nhà thờ tổ hay ban thờ gia tiên nội ngoại xin thỉnh tổ tiên về, thành thật kể ra những khó khăn mà mình phải rũ bỏ quyền làm mẹ làm cha hay quyền trào đời của thai nhi như bệnh tật dị trạng hoàn cảnh của mình của thai nhi….. lấy đồng âm dương ra xin đài nếu gia tiên chấp nhận thì hãy bỏ, còn không thì nên giữ lại, không được phép nạo phá.

Nếu gia tiên đã chấp nhận thì hãy thành tâm mong gia tiên đón về gửi gắm gia tiên chăm sóc giáo hóa trong cõi vô hình. Bên cạnh đó, nên ra đình làng hay ngôi đền Thần đạo ta hay ra nhà Mẫu trong chùa gần nhất cậy sở Chư Thánh Đình Thần tiếp nhận chân linh bé bỏng đó giáo hóa sắp xếp cho chúng để có đủ điều kiện đầu thai lại, nhớ phải phát nguyện và phải làm những việc sinh công đức lực thật sự để hồi hướng cho chúng.

Còn những kẻ đã nạo phá thai rồi cũng làm cơm tại gia thỉnh gia tiên xin trình với gia tiên về trường hợp của mình tại sao lại nạo bỏ thai mong gia tiên giúp đỡ giáo hóa trong lúc này có thể xin phép gia tiên có thể đặt tên cho vong nhi đó.

Cũng có thể tự phát nguyện sau này sinh đẻ nữa đón chúng về hoặc không sinh đẻ nữa thì cũng phát nguyện làm đủ điều thiện đức cho cộng đồng cho xã hội để tích góp công đức lực gia trì hồi hướng cho chúng quay lại đầu thai cửa khác.

Để cầu cho các chân linh bé bỏng bớt sân hận và bớt oán khổ thì cha mẹ hãy nguyện làm một điều tốt đẹp, có phúc đức đầy công đức lực rồi hồi hướng cho con.

Thay vì cứ ngồi mà nói cha mẹ đã ăn năn thì hãy làm một việc gì đó có nghĩa thì ích lợi hơn nhiều.

Nếu trong nhân duyên người đời có thể gặp được vị đồng Thánh đủ quả đạo ta bắc ghế cung nghinh liệt giá gia trì năng lượng cho thần hồn chân linh dẫn lộ cho chúng đến cửa khác đầu thai lại là tốt nhất.

Hoặc trong họ có ai theo đạo Thánh ta mỗi vấn hầu khi người đó bắc ghế hãy nhờ vả họ xin gia trì năng lượng bạn nguyên cho vong linh mạnh lên và đi đầu thai.

Các con ta có đạo phải nhớ: pháp môn này về cơ bản giống như các pháp môn hầu vớt vong quấn nghiệp hay pháp môn bắc ghế cung nghinh liệt giá vớt trầm thủy, mà chỉ khác là vừa vớt vong gia trì năng lượng vừa khai lộ cho các chân linh bé bỏng đầu thai lại mà thôi. Nếu không đủ nhân duyên để tìm được các đồng quan lính Thánh đạo ta giúp đỡ bắc ghế dẫn lộ vớt vong thì cũng không phải là đường cùng.

Nay ta cũng truyền ra một câu chú dành riêng cho các vong linh bé bỏng để dẫn lộ cho chúng tìm được cửa đủ nhân duyên đầu thai lại: Bách Thánh gia hộ quán âm thanh chú linh dẫn công đức lực gia trì năng lượng cho vong nhi tên …. được đầu thai.

Ái tra da hình lai khứ ấm bất nhi ai ái lai khu lộ lai tụ á Ấm Ấm oa oa á á ha ha quy

Các con nếu ai đã gây nghiệp cố gắng tụng hàng đêm cho chúng.

Và nhớ phải làm việc công đức cho xã hội mà hồi hướng cho chúng.” ……………….

Trích trong phẩm 8 âm phần dẫn lộ kinh thư chân giải Pho đạo Mẫu tứ phủ đình thần dẫn tu cơ sở

TỰ TUỆ TRẦN

2 Câu Chuyện Về Bố Thí Và Cúng Dường Thiền Viện

Việc bố thí và cúng dường có thiết thực hay không, và sẽ giúp ích gì cho người khổ hạnh? Những câu chuyện về bố thí và cúng dường nhà Phật sẽ cho bạn câu trả lời. Mời bạn cùng đọc 2 câu chuyện về bố thí và cúng dường trong Phật giáo.

1. “Nhờ bố thí, sáu đời dòng họ sinh thiên” Truyền thống hành trì bố thí của dòng họ giàu có

Ngày xưa, khi vua Brahmadatta trị vì Ba-la-nại, Bồ Tát sinh vào một gia đình giàu có. Khi đến tuổi khôn lớn, ngài được hưởng tài sản và khi thân phụ mất đi, ngài tiếp nhận địa vị thương nhân của cha ngài.

Một ngày kia, khi xem xét lại sự giàu sang của mình, ngài suy nghĩ: “Tài sản của ta đây dĩ nhiên đầy đủ lắm. Song những vị đã tích lũy tài sản ấy nay ở đâu rồi? Ta phải phân chia tài sản ra và bố thí.”

Vì thế, ngài xây một bố thí đường. Trong lúc sinh thời, ngài bố thí rộng rãi. Và khi sắp mạng chung liền giao phó cho con trai ngài không được làm gián đoạn việc hành trì bố thí, còn ngài tái sinh là Sakka (Đế Thích) Thiên chủ ở cõi Trời Ba mươi ba. Con trai của ngài cũng bố thí như thân phụ đã làm, rồi giao trọng trách ấy cho con trai mình, và tái sinh lên làm Canda, Thần mặt trăng, giữa Thiên chúng.

Con trai vị này trở thành Suriya. Thần mặt trời, lại sinh ra một người con trở thành Màtali, Thần lái xe (của Thiên chủ Sakka hay Indra). Con trai vị này tái sinh làm Pancasikha (Ngũ kế) một vị Gandhabba (Càn-thát-bà), nhạc thần của Thiên chủ.

Người con trai đời thứ sáu lại rất tàn nhẫn, keo kiệt

Song người con trai thứ sáu trong dòng họ này lại không có tín tâm, tàn nhẫn, không thương người, keo kiệt. Người này phá hủy bố thí đường, đốt cháy hết, đánh đập các hành khất. Đuổi họ đi nơi khác làm ăn chẳng hề cho ai chút gì dù bằng một giọt dầu ở đầu ngọn cỏ.

Lúc ấy, Đế Thích Thiên chủ nhìn lại các việc của ngài trong quá khứ, tự hỏi: ” Truyền thống bố thí của ta có tiếp tục được chăng?”

Suy nghĩ thế, ngài nhận xét: ” Con trai ta tiếp tục bố thí, tái sinh làm Canda, con trai nó là Suriya, cháu nó là Màtali, và chắt nó là Pancasikha. Nhưng đứa con thứ sáu trong dòng họ đã phá bỏ truyền thống kia.”

Lúc ấy, ngài chợt có ý nghĩ này, ngài muốn đi điều phục con người độc ác kia. Và dạy cho gã kết quả của bố thí. Vì vậy ngài triệu tập Canda, Suriya, Màtali, Pancasikha đến gặp ngài và bảo:

– Này các Hiền giả, người con thứ sáu trong dòng họ ta đã phá bỏ truyền thống gia đình, nó đã đốt bố thí đường, đuổi đánh bọn hành khất đi chỗ khác, và không cho ai chút gì cả. Vậy ta phải điều phục nó.

Thế là ngài cùng các ông lên đường đi đến Ba-la-nại.

Đế Thích Thiên Chủ và gã thương nhân

Vào lúc ấy, thương nhân kia phải đến chầu vua. Và khi đã trở về, đang đi đi lại lại dưới tháp canh thứ bảy, nhìn theo con đường. Thiên chủ bảo các vị thần:

– Các Hiền giả, hãy đợi cho đến khi ta bước vào rồi hãy lần lượt theo sau.

Cùng với những lời này, ngài bước tới và đứng trước phú thương kia, bảo ông:

– Này Tôn ông hãy cho ta ăn với. – Này Bà-la-môn, chẳng có gì ở đây cho ngài ăn cả, hãy đi nơi khác. – Này Đại nhân, khi các Bà-la-môn khất thực thì chẳng nên từ chối. – Này Bà-la-môn, trong nhà ta chẳng có thức ăn nấu sẵn, cũng chẳng có thức ăn để nấu, hãy đi đi! – Này đại nhân, ta muốn đọc một câu kệ cho ngài, hãy lắng nghe.

Ta chẳng muốn nghe kệ gì cả, đi đi, đừng đứng ở đây.

Nhưng Thiên chủ không để ý lời ông và ngâm hai vần kệ:

Khi món ăn không có giữa nồi, Thiện nhân tìm, chẳng chối từ hoài, Còn ngài đang nấu, thì không tốt Nếu chẳng muốn chia xẻ với ai.2. Phóng dật, xan tham, kẻ chối từ Chẳng hề đem bố thí bao giờ, Còn người nào thích làm công hạnh, Là một trí nhân, phải biết cho.

Khi người này nghe nói vậy liền đáp:

– Thôi được, xin vào ngồi đó, ngài sẽ được ăn đôi chút.

Thần mặt trăng Canda và gã thương nhân

Thiên chủ Đế Thích vừa bước vào vừa ngâm các vần kệ ấy và ngồi xuống.

Kế đó là Canda bước lên xin thức ăn.

– Chẳng có thức ăn cho ngài đâu, đi đi!

Vị kia đáp:

– Thưa Đại nhân, có một vị Bà-la-môn ngồi trong đó. Ta đoán chắc hẳn có một bữa cơm bố thí cho Bà-la-môn. Nên ta cũng bước vào. – Chẳng có một bữa cơm nào bố thí cho Bà-la-môn cả, đi ngay đi!

Lúc ấy Canda nói:

– Thưa Đại nhân, xin nghe một hai vần kệ.

Rồi Ngài ngâm hai vần kệ (hễ khi một kẻ keo kiệt lo sợ không muốn cho ai cả, thì chính nỗi sợ hãi đó khởi lên trong lòng vì y không bố thí):

Sợ khi khát nước hoặc thèm cơm Khiến bọn xan tham phải hoảng hồn, Trong cõi đời này, đời kế nữa, Bọn ngu kia phải trả hoàn toàn.4. Vậy nên bố thí, tránh xan tham, Rửa sạch tâm nhơ ác dục tràn, Trong cõi đời sau, nhiều thiện nghiệp Sẽ là nơi trú tuyệt an toàn.

Sau khi nghe các lời như vậy xong, ông bảo:

– Thôi được, xin bước vào, và ngài sẽ được ăn một chút.

Vị kia bước vào ngồi xuống với Thiên chủ Đế Thích.

Thần mặt trời Suriya và gã thương nhân

Sau khi đợi một lát nữa, Suriya bước lên, và xin ăn bằng cách ngâm hai vần kệ:

Thực khó làm như các thiện nhân, Phát ban như các vị đem ban, Khó mà kẻ ác làm theo được Cuộc sống hiền nhân vẫn trú an.6. Vậy thì khi phải giã từ trần, Kẻ ác, người hiền bỏ thế gian, Kẻ ác tái sinh vào địa ngục, Người hiền sinh ở cõi thiên đàng.

Vị phú gia chẳng thấy cách gì thoát được chuyện ấy, đành bảo:

– Thôi được, xin bước vào, và ngồi với các Bà-la-môn này, rồi ngài sẽ được ăn đôi chút.

Đến lượt Thần lái xe Màtali tiến vào xin ăn

Và Màtali, sau khi chờ đợi một lát nữa, cũng bước lên xin ăn, và khi vị ấy được bảo là không có thức ăn, vừa mới nghe các lời ấy được thốt lên, liền ngâm vần kệ thứ bảy:

Có người ít của vẫn đem ban, Có kẻ không cho, dẫu của tràn, Người ít của cho không thể kém Kẻ kia ban phát cả trăm ngàn.

Ông bảo vị này:

– Thôi được, xin vào ngồi xuống.

Nhạc thần Pancasikha bước vào sau cùng.

Sau khi đợi thêm một lát, Pancasikha bước lên xin ăn. Kẻ kia đáp:

– Không có, đi đi!

Ông bảo:

– Ta đã đến thăm nhiều nhà rồi! Ở đây chắc phải có bữa cơm cúng dường các Bà-la-môn chứ, ta đoán thế.

Rồi ông bắt đầu nói với ông, vừa ngâm vần kệ thứ tám:

Dù sống chắt chiu, phải chánh chân, Con nhiều, của ít vẫn đem phân, Trăm ngàn đồng bạc người giàu cúng Chẳng sánh quà con của tiện dân.

Vị phú gia suy nghĩ lại khi nghe lời của Pancasikha. Rồi ông ngâm vần kệ thứ chín để yêu cầu vị ấy giải thích giá trị ít oi của các vật bố thí kia:

Sao dồi dạt lễ vật cao sang Giá trị không bằng vật chánh chân, Sao cả ngàn đồng từ phú hộ Chẳng bằng quà mọn kẻ cùng bần?

Pancasikha ngâm vần kệ kết thúc để đáp lời:

Nhiều người sống độc ác hung tàn, Đàn áp, giết rồi lại phát ban: Thí vật chua cay, tàn nhẫn ấy Thua xa quà tặng với chân tâm, Nên ngàn đồng bạc người giàu cúng Chẳng sánh quà con của tiện dân.

Nghe lời thuyết giáo của Pancasikha xong, ông đáp:

– Thôi được, xin ngài vào nhà ngồi xuống, ngài sẽ được ăn đôi chút.

Rồi ông cũng vào ngồi với các vị kia.

Gã thương nhân keo kiệt cúng dường thế nào?

Sau đó, phú ông keo kiệt Bilàri ra hiệu cho một tỳ nữ, bảo nàng:

– Hãy đem cho các Bà-la-môn đằng kia một đấu thóc còn vỏ.

Nàng ấy đem thóc đến gần các vị, bảo các vị rằng:

– Nhận thóc rồi đem nấu nơi khác mà ăn.

Các vị đáp:

– Ta chưa đụng đến thóc còn vỏ trấu. – Thưa ông chủ, các vị ấy bảo chưa hề đụng đến thóc còn vỏ. – Được, vậy thì cho các ông gạo đã xay.

Nàng ấy đem gạo đã xay, và bảo các vị nhận. Các vị bảo:

– Chúng ta không nhận thứ gì chưa nấu chín.

– Vậy thì nấu cho họ một ít thức ăn của bò trong cái nồi và đem ra mời khách.

Năm vị cầm lên mỗi người một miếng và đặt vào mồm, song để nó dính vào cổ họng rồi trợn mắt lên. Các vị bất tỉnh nằm đó như chết rồi. Cô nữ tỳ thấy thế nghĩ chắc các vị đã chết, nàng hoảng sợ chạy đi báo phú ông:

– Thưa ông chủ, các Bà-la-môn này không nuốt nổi thức ăn của bò, nên chết cả rồi!

Ông suy nghĩ: ” Bây giờ dân chúng sẽ trách mắng ta. Bảo gã độc ác này đem đống thức ăn trâu bò cho các Bà-la-môn yếu đuối và các ông không nuốt nổi nên đã chết.” Sau đó, ông bảo cô nữ tỳ:

– Mau đi chôn cất hết thức ăn trong bát của các ông, rồi nấu cho họ một ít món đủ thứ gạo ngon nhất.

Nàng tuân lời. Phú ông tìm một số khách qua lại trên con đường gần đó, khi đã tập hợp số người ấy lại với nhau, ông bảo:

– Ta đã cúng dường các Bà-la-môn này thức ăn giống như các thức ta vẫn ăn, nhưng các vị tham lam nuốt từng miếng lớn và vì ăn như vậy nên thức ăn mắc ở cổ họng và phải chết. Ta mời các ngài đến làm chứng cho ta vô tội.

Lật mặt sự dối trá của thương nhân nọ

Trước đám đông đang tụ tập như vậy, các vị Bà-la-môn đứng dậy, vừa bảo vừa nhìn vào đám đông:

– Các vị hãy xem sự dối trá của thương nhân này. Ông bảo cho chúng ta thức ăn của ông đấy! Một đống tạp nhạp thức ăn cho bò là những thứ ông đã đem cho chúng ta trước tiên. Sau đó sau khi chúng ta nằm như chết, ông bảo người nhà nấu thức ăn này đây.

Rồi các vị ấy nhả ra từ miệng những thứ đã ăn rồi chỉ thứ đó. Đám đông trách mắng vị thương gia, thét lớn:

– Đồ ngu si, mù quáng! Ông đã phá bỏ phong tục gia đình ông. Ông đốt bỏ thí đường, ông đã nắm cổ các hành khất tống ra đường. Giờ đây khi bố thí các Bà-la-môn yếu đuối này, ông lại cho một đống thức ăn trâu bò. Đến lúc ông sang thế giới bên kia, chắc ông sẽ mang hết tài sản trong nhà buộc thật chặt quanh cổ đấy!

Vào lúc ấy, Đế Thích Thiên chủ bảo đám đông:

– Các người có biết tài sản này là của ai chăng? – Chúng tôi không biết.

Ngài bảo:

– Chắc các người có nghe một đại phú thương ở Ba-la-nại, ngày xưa sống ở thành này, đã xây một bố thí đường, và bố thí rất rộng rãi? – Thưa có. Chúng tôi có nghe nói về ông.

Ngài bảo:

– Ta chính là vị thương gia đó, nhờ các vật tài thí ấy ta được là Đế Thích Thiên chủ bây giờ đây. Và con trai ta đã không phá vỡ truyền thống gia đình, trở thành thần Canda, con trai nó là Suriya và cháu trai của nó là Pancasikha. Trong các vị này, đằng kia là Canda, đó là Syriya. Và đây là Màtali, thần lái xe, còn đây nữa là Pancasikha, nhạc thần. Ngày xưa là cha của kẻ độc ác đằng kia ấy. Bố thí tạo công đức lớn như vậy, cho nên người có trí phải làm công đức.

Đế Thích Thiên chủ điều phục Bilàri Kosiya

Nói vậy xong với ý định đánh tan các mối nghi hoặc của dân chúng đang tụ tập tại đó. Các ngài bay lên không gian và đứng vững trên không. Nhờ thần lực của các ngài hiện ra một đám tùy tùng đông đảo vây quanh, toàn thân các ngài sáng rực lên vì thế toàn thể kinh thành như ở trong đám lửa. Sau đó Đế Thích Thiên chủ bảo đám đông:

– Chúng ta đã rời vinh quang thiên giới để đến đây và chúng ta đến chỉ vì kẻ độc ác Bilàri Kosiya này. Người cuối cùng trong dòng họ, người tàn phá cả giống nòi mình. Vì chúng ta biết ác nhân này đã phá bỏ truyền thống gia đình. Đốt bố thí đường, nắm cổ hành khất tống ra ngoài. Vi phạm phong tục của nhà ta, và do từ bỏ bố thí, nó sẽ tái sinh vào địa ngục.

Ngài thuyết giáo cho đám đông như vậy, xong lại nói về công hạnh của bố thí. Bilàri Kosiya chấp hai tay thỉnh cầu và phát nguyện.

– Tâu Thiên chủ, từ nay trở đi, con xin nguyện sẽ không phá bỏ phong tục gia đình nữa. Mà con sẽ bố thí. Bắt đầu ngay hôm nay, con quyết chẳng bao giờ ăn mà không chia phần cho kẻ khác. Các vật dụng của riêng con, ngay cả nước uống và cả tăm xỉa răng con dùng cũng vậy.

Đế Thích thiên chủ đã điều phục ông như vậy, làm cho ông biết xả thân, và an trú ông trong Ngũ giới, rồi trở về cõi của ngài. Còn vị thương nhân cứ bố thí suốt cả đời nên được tái sinh vào cõi trời Ba mươi ba.

2. Câu chuyện về bố thí, Cúng dường Đức Phật, được làm Hoàng hậu

Bậc Đạo Sư kể chuyện này trong lúc trú tại Kỳ Viên về Hoàng hậu Mallikà (Mạt-lợi).

Nàng nguyên là con gái của vị trưởng nghiệp đoàn bán vòng hoa, cực kỳ diễm lệ và hiền thục. Khi nàng được mười sáu tuổi, trong lúc đi đến vườn hoa cùng các thiếu nữ khác, nàng mang theo ba phần cháo sữa chua trong giỏ hoa.

Nàng Mallikà hoan hỷ cúng dường đức Thế Tôn ba phần cháo

Khi nàng rời thành phố, nàng trông thấy đức Thế Tôn vào thành, tỏa hào quang rực rỡ và được Tăng chúng vây quanh, nàng đem cúng dường Ngài ba phần cháo ấy.

– Này Ànanda, cô gái này hôm nay sẽ trở thành chánh hậu của vua Kosala do phước báo ba phần cháo này.

Còn cô gái tiếp tục bước đến vườn hoa. Ngay chính hôm ấy vua Kosala giao chiến với vua Ajàtasattu (A-xà-thế) và thất bại phải đào tẩu. Trong khi đang đi ngựa, vua nghe tiếng nàng hát rất hấp dẫn liền thúc ngựa vào khu vườn. Công đức của cô gái đã đến thời chín muồi, vì thế khi thấy vua, nàng không chạy trốn mà đi đến cầm lấy dây cương nơi mũi ngựa.

Vua ngồi trên lưng ngựa hỏi nàng đã có chồng chưa. Khi nghe nàng đáp chưa, ông xuống ngựa và đang mệt mỏi vì nắng gió, ông nằm nghĩ chốc lát trên đùi nàng. Sau đó ông đưa nàng lên ngựa, cùng đạo quân hùng hậu đi vào thành, đưa nàng đến tận nhà riêng.

Chiều hôm ấy vua phái một vương xa trong cảnh vô cùng vinh quang lộng lẫy đến rước nàng từ nhà nàng về đặt lên một bảo tọa đầy châu báu, làm lễ quán đảnh (rảy nước thánh lên đầu) cho nàng và phong nàng làm chánh hậu.

Công đức chư Phật thật vĩ đại dường nào

Từ đó trở đi, nàng trở thành hoàng hậu thân thiết tận tụy được vua sủng ái, nàng có đầy đủ năm vẻ yêu kiều của nữ nhi. Lại có đủ đám nô tỳ trung thành và nàng lại là một tín nữ được nhiều hồng ân của chư Phật. Cả kinh thành loan tin rằng nàng được mọi vinh hoa ấy là vì nàng cúng dường Bậc Đạo Sư ba phần cháo.

– Này các Hiền giả, Hoàng hậu Mallikà cúng dường đức Phật ba phần cháo, và do phước báo này, ngay chính hôm ấy bà được làm lễ quán đảnh phong ngôi hoàng hậu: Công đức chư Phật thật vĩ đại dường nào.

– Này các Tỳ-kheo, không lạ gì nàng Mallikà trở thành chánh hậu của vua Kosala nhờ cúng dường đức Phật Chánh Đẳng Giác ba phần cháo mà thôi, vì cớ sao? Đó là nhờ đại hồng ân của chư Phật: Các trí nhân ngày xưa cúng dường các vị Độc Giác Phật cháo không có muối hay dầu nữa. Song nhờ thế trong đời sau đạt được vinh quang của đế vương tại Kàsi rộng ba trăm dặm.

2 câu chuyện về bố thí và cúng dường ở trên làm sáng tỏ phước báo của người hành thiện. “Bố thí một cách lễ độ, bố thí với tự tay, bố thí có suy tư kỹ lưỡng, bố thí vật cần dùng, bố thì có nghĩ đến tương lai.” Ngoài chân tâm ra thì đây là những điều mà chúng sanh nên ghi nhớ.

Đôi Điều Về Chuyện Cúng Sao, Giải Hạn

Có bạn trẻ hỏi: Con nghe quý thầy giảng pháp là người có chánh kiến thì không nên cúng sao giải hạn, mà đầu năm chỉ cần lên chùa dự lễ cầu an, tụng kinh Dược Sư thì mới là đúng pháp. Nhưng thực tế con thấy có nhiều chùa những ngày đầu năm (khoảng từ mùng 8 đến rằm) vẫn làm lễ cúng sao giải hạn cho những ai đến ghi danh. Theo thầy thì con có nên cúng sao hay không?

Chưa tới Tết mà chúng ta có vẻ “lo lắng” về việc cúng sao giải hạn rồi. Tôi nghĩ vấn đề này quý thầy trụ trì các chùa thừa biết việc cúng sao chỉ là “phương tiện”. Những năm gần đây, tôi nhận thấy khá nhiều chùa (cả 3 miền) đều quyết tâm (bản lĩnh) bỏ tập tục cúng sao, giảm bớt việc đốt vàng mã, đây là một tín hiệu tốt, tuy nhiên vẫn còn khá nhiều chùa chưa mạnh dạn bỏ được.

Đức Phật có dạy (trong kinh , tập 4, HT. Thích Minh Châu dịch):

“Chờ đợi các vì saoKẻ ngu hỏng điều lành,Điều lành chiếu điều lành,Sao trời làm được gì?”.

Theo cách hiểu xưa nay, khi bàn về thờ tự trăng sao, cụ thể là tín niệm cúng sao giải hạn, phần lớn đều cho rằng đó là một tín niệm có nguồn gốc từ Trung Hoa. Tuy nhiên, căn cứ theo William Monier, William Edward Soothill, thì tập tục phụng cúng các vì sao cũng như quan điểm về chín vị sao (Cửu diệu) vốn có mặt từ lâu trong triết học về thiên văn và ngành chiêm tinh của Ấn giáo. (…)

Nói thật thì hay mất lòng, tôi xin kết lại bằng lời kinh xưa mà Đức Phật đã căn dặn:

“Môn đệ của ta sẽ không ếm bùa chú,không giải mộng, không chiêm tinh, không đoán lành dữ từ tiếng thú kêu, không làm phép chữa bệnh, hay trị vô sinh”. (trích “Tuvataka Sutata” Kinh Lối đi nhanh chóng)

Mong mọi người luôn vững đạo tâm, tìm hiểu thấu rõ hơn pháp Phật, để hạn chế niềm tin lệch lạc.

Câu Chuyện Truyền Thông Về Dâng Sớ Cúng Sao

Kính bạch chư Tôn đức Tăng Ni, quý Phật tử và quý vị yêu mến đạo Phật.

Những năm gần đây, cứ sau tết Nguyên Đán, từ ngày mùng 4 cho đến hết tháng Giêng, các trang tin điện tử lại đăng lên câu chuyện Dâng sớ cúng sao. Nay chuyện Dâng sớ còn phát triển mạnh ở các trang mạng xã hội, như là một lập trình chuẩn bị sẳn, như là một chiến dịch truyền thông sau tết vậy.

Chúng ta không phủ nhận có vài nơi đã lạm dụng tín ngưỡng này đã gây ra những hình ảnh không đẹp làm cho nhiều vị không hiểu đúng về những giá trị tốt đẹp, Trí tuệ mà đức Phật đã dạy cho người con Phật.

Những hoạt động đầu năm của người con Phật rất phong phú như: đi chùa lễ Phật đầu năm, các lễ hội cầu an, cầu nguyện Quốc thái dân an, các chương trình từ thiện, lễ chúc thọ ông bà và các vị lớn tuổi tại các đạo tràng tu học, các chương trình thuyết giảng… đều là những hoạt động tốt đẹp. Những hoạt động này hướng dẫn tín đồ Phật tử nỗ lực làm điều thiện tránh xa điều ác. Như là một định hướng để mọi người cùng nỗ lực thực hiện. Từ đó, tự nhiên sẽ đẩy lùi những hoạt động không phù hợp với chánh pháp và không đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng của người dân. Tại sao lại không tuyên truyền những điều này để tạo nên sự lan toả mạnh trong cộng đồng mạng mà lại luôn tìm các sự thiếu sót của Dâng sớ cúng sao để tấn công ở mọi góc độ. Có một số vị đã hưởng ứng điều này như một phong trào nếu không muốn nói là đang cố gắng thể hiện với cộng đồng mình mới là chơn chánh, mình mới là tu đúng và làm đúng lời Phật dạy.

Đi chùa đầu năm là nét đẹp từ ngàn xưa của dân tộc

Tín ngưỡng Dâng sớ cúng sao đâu phải mới có hôm nay. Chẳng lẽ bao thế hệ các bậc tiền bối, cha ông chúng ta không hiểu cái gì đúng, cái gì không đúng, cái gì cần, cái gì không cần. cái gì là chánh pháp, cái gì là phi pháp.

Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật Phật tử đến chùa tụng Kinh Dược Sư để vượt qua tâm bệnh, hận thù và vô minh

Dâng sớ cúng sao mặc dù không phải là giáo lý nhà Phật, nhưng nó chính là phương tiện để biết bao ngôi chùa từ thành thị đến những làng quê hẻo lánh vùng sâu, vùng xa đã dẫn dắt biết bao gia đình đến với đạo Phật. Hàng năm, sau tết Nguyên Đán thì tập tục tín ngưỡng này đã dẫn dắt biết bao người có khi cả năm chưa từng đến chùa thì lại đi chùa lễ Phật vào những dịp này. Qua đó, chúng ta có cơ hội tiếp cận thuyết giảng và hướng dẫn họ thực hiện điều lành, lánh xa điều ác và đã trở thành những người Phật tử chân chánh. Đó là một phương tiện khá hữu hiệu đối với một số nơi đã thực hiện. Sao ta lại cứ đem hình ảnh của một vài nơi chưa khéo vận dụng rồi kết luận cho là mê tín dị đoan để đẩy họ ra khỏi chùa, để họ đừng đến chùa nữa? Nhiều tổ chức xã hội, đoàn thể dùng nhiều hình thức, nhiều phương tiện để tập hợp quần chúng, còn ta thì sao? Chư Tổ dạy “CHÁNH NHƠN DỤNG TÀ PHÁP, TÀ PHÁP QUY CHÁNH … CHỦNG CHỦNG PHƯƠNG TIỆN ĐỘ THOÁT CHÚNG SINH, HÀM LINH LY NHIỄM” (người có tâm chơn chánh thì pháp tà nào mà chẳng quy thuận … tất cả đều là phương tiện hóa độ chúng sanh).

Hiện nay các chùa trong cả nước đang nổ lực chuyển hoá cho dù cái tên là cúng sao nhưng nghi thức là đọc kinh Dược Sư, đây cũng là hình thức DĨ HUYỄN ĐỘ CHƠN (lấy đó làm pháp phương tiện để dẫn đắt). Chúng ta nên đánh giá cao sự nỗ lực vận dụng phương tiện này mới đúng chứ ? Sao lại cứ chụp mũ là mê tín. Cái gì không đúng không phù hợp với xã hội, không đáp ứng được nhu cầu của xã hội thì nó sẽ tự đào thải. Điều này đã trở thành một định luật tất yếu trong cuộc sống. Ta đâu cần năm nào cũng lập đi, lập lại. Thậm chí có rất nhiều bài viết của năm nay chẳng khác gì của những năm qua, cứ xào nấu lại rồi đăng tải để trở thành người hùng khơi màu cho chiến dịch truyền thông này.

Qua xác minh thực tế cho thấy, hiện nay có rất nhiều tài khoản giả danh nick là của tu sĩ và các chùa đang quyết liệt mượn cớ vào những bài viết về đề tài này để tuyên truyền, tạo thành chiến dịch truyền thông đánh vào dịp đầu năm. Những ý đồ xấu này đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến tâm tư, tình cảm của những người đi chùa, lễ Phật cầu an đầu năm. Vì cho đây là mê tín, có thể với ý đồ phá hoại truyền thống tốt đẹp của người Việt Nam đi chùa, lễ Phật đầu năm, Hay còn là những ý đồ sâu xa khác nữa…

Do vậy, mong rằng chư Tôn đức Tăng Ni, quý Phật tử và quý vị yêu mến đạo Phật. chúng ta cần cẩn thận khi chia sẻ những thông tin này, để không trở thành những người tiếp tay cho những nhóm người có ý thức xuyên tạc đánh phá hình ảnh tốt đẹp của ngôi chùa và Tăng Ni, làm cho quần chúng hoang mang trước niềm tin đối với Phật giáo và hàng Tăng bảo.

Vĩnh Khương

Cập nhật thông tin chi tiết về Bàn Về Chuyện Tái Sinh, Đầu Thai Và Cúng Cơm trên website Apim.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!