Xu Hướng 3/2023 # Bàn Thờ Của Đạo Phật Giáo Hoà Hảo Thờ Gì ? 8 Điều Răn Cấm Phật Giáo Hòa Hảo ! # Top 6 View | Apim.edu.vn

Xu Hướng 3/2023 # Bàn Thờ Của Đạo Phật Giáo Hoà Hảo Thờ Gì ? 8 Điều Răn Cấm Phật Giáo Hòa Hảo ! # Top 6 View

Bạn đang xem bài viết Bàn Thờ Của Đạo Phật Giáo Hoà Hảo Thờ Gì ? 8 Điều Răn Cấm Phật Giáo Hòa Hảo ! được cập nhật mới nhất trên website Apim.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Rate this post

Để thực hiện đúng lời chỉ dạy của Đức Thầy đối với tín đồ Phật giáo Hoà Hảo nhằm bài trừ những những mê tín dị đoan, bỏ nghi lễ phiền toái, giản dị hoá nghi thức thờ phượng nay tôi xin trích lại Phần Thờ Phượng nằm trong Quyển 6 “Tôn Chỉ Hành Đạo” hay “Cách Tu Hiền Và Sự Ăn Ở Của Một Tín Đồ Phật Giáo Hoà Hảo”

Bàn Thờ Của Đạo Phật Giáo Hoà Hảo Thờ Gì ? 8 Điều Răn Cấm Phật Giáo Hòa Hảo ! 6

Để thực hiện đúng lời chỉ dạy của Đức Thầy đối với tín đồ Phật Giáo Hoà Hảo nhằm bài trừ những những mê tín dị đoan, bỏ nghi lễ phiền toái, giản dị hoá nghi thức thờ phượng nay tôi xin trích lại Phần Thờ Phượng và Hành Lễ nằm trong Quyển 6 “Tôn Chỉ Hành Đạo” hay “Cách Tu Hiền Và Sự Ăn Ở Của Một Tín Đồ Phật Giáo Hoà Hảo”

THỜ-PHƯỢNG

Từ trước đến nay, các chùa chiền đã tạo ra quá nhiều hình tượng. Đành rằng vìtôn kính đấng Từ-Bi mới làm ra thờ-phượng Ngài, nhưng cũng có kẻ lợi dụng để thủlợi. Bây giờ chúng ta không nên tạo thêm nữa. Làm thế, chúng ta không có ý hủy-bángsự phượng thờ của các chùa-chiền. Cách thờ phượng ấy tùy theo điều-kiện các nhàsư mà chúng ta cũng có thể sùng-ngưỡng đặng. Nhưng riêng về cư-sĩ ở nhà khôngnên tạo thêm nữa; nên thờ đơn-giản cho lòng tin-tưởng trở lại tâm hồn hơn ở vàocác sự hào nhoáng bề ngoài. Từ trước chúng ta thờ trần điều là di tích của ĐứcPhật Thầy Tây-An để lại. Nhưng gần đây có nhiều kẻ thờ trần điều tự xưng cùngtông-phái với chúng ta, làm sái phép, sái với tôn-chỉ của Đức Phật, nên toàn-thểngười trong Đạo đổi lại màu dà. Lại nữa, từ trước đến giờ các sư dùng màu dà đểbiểu-hiện cho sự thoát tục của mình, và màu ấy là sự kết hợp của tất cả các màusắc khác, nên có thể tượng trưng cho sự hòa-hiệp của nhân-loại không phân biệtchủng tộc và cá-nhân. Vì vậy chúng ta dùng nó trong chỗ thờ-phượng để tiêu-biểucho tinh-thần vô thượng của nhà Phật.

Đang xem: Bàn thờ của đạo phật giáo hoà hảo

Bàn Thờ Của Đạo Phật Giáo Hoà Hảo Thờ Gì ? 8 Điều Răn Cấm Phật Giáo Hòa Hảo ! 7

Tín đồ PGHH đang thiết lập 3 Ngôi Thờ Trang Nghiêmcho đồng đạo

Nếu trong nhà chật, nội bàn Thông-Thiên với một lư hương không cũng được, bởivì sự tu hành cốt ở chỗ trau tâm trỉa tánh hơn là do sự lễ-bái ở ngoài. Còn ngườinào có cốt Phật ở trong nhà để vậy cũng đặng. Hình tượng bằng giấy không nên chừalại và phải đốt đi. Kẻ nào phải ở chung đậu với người khác không có tu hiền haykhông cùng một Đạo với mình, hoặc nhà cửa nhỏ hẹp quá không có chổ phượng thờ,thì đến giờ cúng kiếng chỉ vái thầm và niệm Phật trong tâm cũng đặng.

Bàn Thờ Của Đạo Phật Giáo Hoà Hảo Thờ Gì ? 8 Điều Răn Cấm Phật Giáo Hòa Hảo ! 8

Tín đồ PGHH thượng 3 ngôi thờ trang nghiêm và an vị chân dung Đức Thầy

Bàn Thờ Của Đạo Phật Giáo Hoà Hảo Thờ Gì ? 8 Điều Răn Cấm Phật Giáo Hòa Hảo ! 9

3 Ngôi thờ trang nghiêm

Về cách cúng Phật, chỉ nên cúng nước lạnh, bông hoa và nhang thôi. Nước lạnhtiêu-biểu cho sự trong sạch, bông hoa tiêu-biểu cho sự tinh khiết, còn nhang,dùng đặng bán mùi uế-trược. Ngoài ra chẳng nên cúng một món gì khác cả. Bàn thờông bà cúng món chi cũng đặng.Ngoài sự thờ Phật, tổ-tiên, ông bà, cha mẹ và những anh hùng của đất nước,không nên thờ vị tà thần nào khác mà mình không rõ căn-tích.

Bàn Thờ Của Đạo Phật Giáo Hoà Hảo Thờ Gì ? 8 Điều Răn Cấm Phật Giáo Hòa Hảo ! 10

Thờ phượng trang nghiêm xong tín đồ có thể thực hiện công phu bái lại

HÀNH LỄ

TANG LỄ

Lúc ông bà cha mẹ từ trần, tục để tang chúng ta vẫn giữ theo cổ lệ, chỉ cần sửađổi các sự như sau đây:Bây giờ chúng ta đã qui-y đầu Phật thì phải do sự thành-tâm cầu-nguyện, và đemsức khấn vái của anh chị em trong Đạo cầu nguyện cho vong linh người chết đượcsiêu-sinh nơi cõi thọ. Chẳng nên rước những ông thầy dưng bông, đốt giấy-tiềnvàng-bạc, xá phướn lầu kho, vì đó là chuyện tốn tiền vô ích, bởi vì ta nên nhận-địnhrằng xác thịt là hư -hoại, thì trong lúc chết chỉ đem chôn cất cho kín đáo đừngđể hôi thúi có hại cho người sống, như thế là đủ rồi. Còn hiếu-sự do hồi cònsanh tiền và do sự tu hành, sự thành tâm cầu nguyện chớ không phải có tiền rướcngười khác cầu nguyện mà đạt được hiếu-thuận nhơn-nghĩa. Chỉ vọng bàn giữa nhàhay giữa trời mà cầu nguyên, rồi im-lặng đi chôn.Về việc cúng kiến ông bà cha mẹ, có chi cúng nấy, trong những ngày kỷ-niệm theonhư tục lệ. Còn về việc đãi đằng hương-đảng thì tùy ý. Những điều nào xét ra giảntiện, ít lãng phí cứ làm.

CÁCH CẦU NGUYỆN CHO NGƯỜI CHẾT

Mỗi người đứng trước bàn thờ Phật niệm “Nam-mô Bổn-sư Thích-Ca Mâu-Ni Phật”(ba lần), và Nam-Mô A-Di-Đà Phật (ba lần).Vái: “Phật-Tổ, Phật-Thầy, nay mình thành tâm cầu nguyện cho tên . . . . .. . . (tên người chết), nhờ ơn Đức Phật từ-bi cưú-độ vong-linh được thoát chốnmê-đồ, vãng- sanh miền Cực-lạc!” Trong lúc ở nhà hay trong lúc đưa đámtang gì cũng vậy, nếu có tổ-chức sắp hàng chắp tay niệm : “Nam-mô Tâyphương Cực-lạc thế giới tam-thập lục vạn ức, nhứt thập nhứt vạn, cửu thiên ngũbá đồng danh đồng hiệu đại-từ đại-bi tiếp dẫn vong linh A-Di-Đà Phật” (nếungười chết là nhà sư thì câu chót đọc : “Tiếp dẫn đạo sư A-Di-Đà Phật”).NÊN LƯU Ý: Tang-gia đừng nên khóc lóc, để tĩnh tâm cầu-nguyện cho người chết,vì khóc-lóc làm trở-ngại sự siêu-thoát anh-linh của người chết.

HÔN NHƠN

Bổn-phận cha mẹ phải chọn lựa đôi bạn cho con một cách xứng đáng bằng sựquan-sát tường tận về đức-tánh đôi trai gái. Không nên ép uổng con mình quáđáng, vì như thế làm cho khốn-khổ nó về sau, nhưng cũng không nên để chúng quátự-do mà sự thiếu kinh-nghiệm làm cho đời chúng phải hư-hỏng.Nên bỏ tục-lệ thách giá đòi tiền và đòi lễ vật. Thông-gia hai bên không nên làmkhó cho nhau. Cũng chẳng nên bày ra tiệc, lễ linh-đình tốn kém nhiều tiền, làmcho trở nên nghèo khổ.

Chuông Đồng Đạo Phật Giáo Hòa Hảo

Mẫu chuông đồng cho đạo phật giáo hòa hảo – Giáo hòa tự tại An Giang,

Quý thầy có nhu cầu đặt đúc chuông đồng xin liên hệ Cơ sở Phong Vân

Phong Vân nhận bao tiếng âm thanh, bao mẫu mã, bao vận chuyển tại Chùa.

Bảo hành chuông 2 năm

Nhận thiết kế, khắc hoa văn họa tiết chuông theo yêu cầu.

Chuông đồng đạo phật giáo hòa hảo – Giáo hòa tự

TÌM HIỂU VỀ ĐẠO HÒA HẢO:

Phật giáo Hòa Hảo, hay còn gọi là đạo Hòa Hảo, là một tông phái Phật giáo do Huỳnh Phú Sổ khai lập năm 1939, lấy pháp môn Tịnh Độ tông làm căn bản và chủ trương tu hành tại gia. Theo thống kê năm 2009 có khoảng 1.433.252 tín đồ Phật giáo Hòa Hảo khiến tôn giáo này trở thành tôn giáo có số tín đồ đông thứ 4 tại Việt Nam. Tín đồ Phật giáo Hòa Hảo tập trung chủ yếu ở miền Tây Nam Bộ. Đặc biệt là An Giang với 936.974 tín đồ Phật giáo Hòa Hảo là tỉnh có số tín đồ Phật giáo Hòa Hảo đông nhất cả nước chiếm 44% dân số toàn tỉnh và chiếm 65% tín đồ Phật giáo Hòa Hảo trong cả nước.[1] tiếp đến là Cần Thơ (227.117 tín đồ) và Đồng Tháp (196.143 tín đồ). Hiện nay, trong thư viện của hơn 30 quốc gia trên thế giới vẫn còn giữ những tài liệu sách báo về đạo này.

Huỳnh Phú Sổ, còn được gọi là “Thầy Tư Hoà Hảo”, tự nhận mình là bậc “sinh như tri”, biết được quá khứ nhìn thấu tương lai, được thọ mệnh cùng với Phật A-di-đà và PhậtThích-ca Mâu-ni, xuống hạ giới có nhiệm vụ truyền bá cho dân chúng tư tưởng Bửu Sơn Kỳ Hương để “Chấn hưng Phật giáo, cứu độ chúng sinh khỏi sông mê, biển khổ và đưa tới chốn Tây phương cực lạc”. Ông chữa bệnh cho người dân bằng các bài thuốc đã học trong lúc đi chữa bệnh, đồng thời qua đó ông truyền dạy giáo lý bằng những bài sám giảng (còn gọi là sấm giảng) do ông soạn thảo. Vì vậy chỉ trong vòng 2 năm từ 1937 đến 1939 số người tin theo ông đã khá đông và ông trở nên nổi tiếng khắp vùng.

Ngày 18 tháng Năm năm Kỷ Mão (tức 4 tháng 7 năm 1939), Huỳnh Phú sổ bắt đầu khai đạo, khi ông chưa tròn 20 tuổi. Nơi tổ chức lễ khai đạo chính là gia đình ông. Ông đã lấy tên ngôi làng Hòa Hảo nơi mình sinh ra để đặt tên cho tôn giáo mới của mình: đạo Hòa Hảo hay Phật giáo Hòa Hảo. Sau đó, ông được các tín đồ suy tôn làm giáo chủ mối đạo, và gọi ông bằng cái tên tôn kính là Huỳnh Giáo chủ.

Ngày 9/9/1945, những người đứng đầu Phật giáo Hòa Hảo lại tổ chức tuần hành ở thị xã Cần Thơ với lý do “đi rước Đức Thầy”, thực chất là dự định cướp chính quyền. Chính quyền tỉnh Cần Thơ giải tán cuộc biểu tình này, bắt những người cầm đầu, đưa ra tòa xét xử và kết án tử hình 3 người đứng đầu. Đối với tín đồ, chính quyền giải thích ý đồ của lãnh đạo Hòa Hảo, khuyên họ trở về nhà tiếp tục làm ăn, không để bị lợi dụng.[3]

Với chủ trương đại đoàn kết toàn dân, ngày 6 tháng 2 năm 1946, tại Chợ Mới (Long Xuyên), Nguyễn Hữu Xuyến, Trung đoàn trưởng Khu 8, đã kí với Trần Văn Soái (Năm Lửa), thủ lĩnh một nhóm Hòa Hảo Dân Xã, một thỏa ước nhằm gác bỏ mọi hiềm khích và hiểu lầm cũ, cùng nhau đoàn kết chống thực dân Pháp[3]. Thỏa ước này gồm 3 điều khoản:

Hai bên cam kết không chống lại nhau. Khi một bên bị Pháp tấn công thì bên kia ứng cứu. Hai bên phối hợp tổ chức đánh Pháp. Tháng 6 năm 1946 Hòa Hảo tổ chức lại lực lượng vũ trang lấy tên Nghĩa quân Cách mạng Vệ quốc Liên đội Nguyễn Trung Trực[5]. Sau một thời gian tạm hòa hoãn với Việt Minh, từ tháng 3-1947, nhóm Trần Văn Soái bỏ không tham gia kháng chiến do Việt Minh lãnh đạo nữa, mà cùng một tiểu đoàn lê dương Pháp mở cuộc càn quét lớn vào 5 làng ở vùng Tân Châu (Châu Đốc). Đại đội 65 Vệ quốc đoàn cùng dân quân du kích địa phương đã đánh trả quyết liệt, buộc lực lượng của Năm Lửa và quân Pháp phải rút lui.[3]

Cuối tháng 3 đầu tháng 4-1947 ở Tịnh Biên, Tri Tôn (Châu Đốc), lực lượng chống Việt Minh đội lốt Hòa Hảo và Cao Đài Tây Ninh liên tục đánh phá vùng Việt Minh kiểm soát, tàn sát dã man thường dân, đốt phá xóm làng, truy lùng cán bộ Việt Minh và quần chúng cốt cán của kháng chiến.[3]

Những người cầm đầu Dân xã Hòa Hảo phát động một cuộc tắm máu ở Tây Nam Bộ vào ngày 6/4/1947. Những người dân không theo Dân xã Hòa Hảo đều bị xem là kẻ thù, bị giết, buộc đá vào cổ, thả trôi sông. Dân chúng vô cùng phẫn uất trước hành động dã man của Dân xã Hòa Hảo.[3] Ngoài việc giết hại dân thường, quân Dân xã Hòa Hảo còn tổ chức các hành động cướp phá ở các tỉnh Long Xuyên, Châu Đốc, Cần Thơ.[3]

Ngày 16 tháng 4 năm 1947 Giáo chủ Phật giáo Hòa Hảo Huỳnh Phú Sổ đột ngột mất tích khi đến Tân Phú, Đồng Tháp Mười để hòa giải xung đột giữa Việt Minh và Phật giáo Hòa Hảo. Các tài liệu của phương Tây, Việt Nam Cộng hòa đều cho rằng Việt Minh thủ tiêu Huỳnh Phú Sổ.[6][7][8]

Sau khi Giáo chủ Phật giáo Hòa Hảo Huỳnh Phú Sổ mất tích, Pháp lợi dụng những người chống chính quyền của Việt Minh trong đạo Hòa Hảo, hỗ trợ trang bị và cung cấp tiền bạc cho họ[3]. Pháp mua chuộc những người đứng đầu Hòa Hảo có tư tưởng chống Việt Minh, lập ra nhiều đơn vị vũ trang mới ngoài những đơn vị vũ trang Hòa Hảo khác thành lập từ năm 1944, chiếm cứ một số vùng ở Tây Nam Bộ, gây ra nhiều tội ác với dân chúng.[3] Được Pháp trợ giúp, những người chống Việt Minh lập ra 4 nhóm nhằm mục đích để chống lại Việt Minh. Các nhóm này gồm:

Nhóm Trần Văn Soái (Năm Lửa), đóng tại Cái Vồn (Vĩnh Long). Nhóm Lâm Thành Nguyên (Hai Ngoán), đóng tại Cái Dầu (Châu Đốc). Nhóm Lê Quang Vinh (Ba Cụt), đóng tại Thốt Nốt (Long Xuyên). Nhóm Nguyễn Giác Ngộ, đóng tại Chợ Mới (Long Xuyên).[3] Năm 1947, các lực lượng Việt Minh vừa tổ chức tuyên truyền vũ trang, vừa mở một trận đánh lớn tại Kinh 13. Chỉ huy quân sự của Dân xã Hòa Hảo lừa dối tín đồ nói: “Súng Việt Minh bắn không nổ!”, xua tín đồ tràn vào trận địa của Việt Minh. Lực lượng vũ trang của Việt Minh một mặt giải thích cho các tín đồ hiểu, mặt khác đánh quân của Dân xã Hòa Hảo, diệt nhiều lính, thu nhiều súng, có 1 Bazoka. Ở khu vực giữa Phú An – Phú Lâm (Tân Châu), Đại đội 65 đánh bật lực lượng của Dân xã ra khỏi vùng này. Việt Minh mở rộng công tác vũ trang tuyên truyền về hướng Thoại Sơn, tiếp tục tiến công ở Ba Thê, đánh lính lê dương đi tàu sắt đổ bộ lên Mốp Văn và Núi Sập, diệt trên 200 lính.[3]

Tháng 6/1947, nhằm thu hút tín đồ Hòa Hảo tạo thành khối đoàn kết các lực lượng chống Pháp, Việt Minh thành lập Ban Hòa Hảo vận tại Chợ Mới – Nhà Bàn, tập trung hoạt động vùng Long Xuyên, Châu Đốc, tuyên truyền chính sách đại đoàn kết dân tộc, vận động tín đồ Hòa Hảo cùng toàn dân kháng chiến chống xâm lược Pháp.[3]

Do Phật giáo Hòa Hảo có tín đồ rất đông ở miền Tây, nhất là các tỉnh: Long Xuyên, Châu Đốc, Hà Tiên, Cần Thơ… Đạo này có tổ chức chính trị là Việt Nam Dân chủ Xã hội Đảng làm nòng cốt, nên có nhiều diễn biến phức tạp ngay cả trong nội bộ của đạo. Những người chống Việt Minh đã lợi dụng danh nghĩa đạo Hòa Hảo, tổ chức nhiều lực lượng vũ trang hợp tác với Pháp, áp bức khủng bố dân chúng, gây ra nhiều tội ác.[3]

Dù vậy, đa số tín đồ là nông dân, khi Việt Minh tích cực vận động thì lần lượt họ giác ngộ và tham gia cuộc kháng chiến do Việt Minh lãnh đạo. Sư thúc Hòa Hảo Huỳnh Văn Trí là người chỉ huy một đơn vị vũ trang trong kháng chiến đã có công lớn trong công cuộc vận động tín đồ Hòa Hảo tham gia kháng chiến. Trong những năm 1949 – 1950, nhiều đồn bót đã án binh bất động, “trung lập hóa”, không đàn áp dân chúng và tránh không đụng độ với lực lượng Việt Minh.[3]

Chính phủ Đệ nhất Cộng hòa sau khi thành lập năm 1955 thì mở những cuộc hành quân như “Chiến dịch Đinh Tiên Hoàng” rồi “Chiến dịch Nguyễn Huệ” để bình định các giáo phái hầu thống nhất quân lực. Các lãnh tụ Hòa Hảo như tướng Trần Văn Soái (biệt danh Năm Lửa) rút về cố thủ Đồng Tháp; tướng Lê Quang Vinh (Ba Cụt) thì đem quân về chống giữ ở Châu Đốc, Long Xuyên, Rạch Giá. Bị truy nã Trần Văn Soái ra hàng còn Lê Quang Vinh thì bị bắt, sau đem xử tử.[9]

Năm 1972 Lê Quang Liêm tách ra khỏi phái cũ của Lương Trọng Tường thành lập ban trị sự trung ương mới. Lúc này đạo Hòa Hảo có tới 3 ban trị sự trung ương cùng tồn tại cho đến thống nhất đất nước. Dù phân hóa, Phật giáo Hòa Hảo tiếp tục phát triển vào thời Đệ nhị Cộng hòa trong đó một sự kiện lớn là việc thành lập Viện Đại học Hòa Hảo năm1972 ở Long Xuyên. Tính đến thời điểm Việt Nam Cộng hòa sụp đổ, các nhóm Hòa Hảo điều hành tổng cộng sáu trường trung học phổ thông, một viện đại học và hai bệnh viện. Tất cả những cơ sở này sau đó đều bị chính quyền mới trưng dụng quốc hữu hóa.[10]

Hiện nay, Ban trị sự và chính quyền huyện Phú Tân có ý định xây dựng tượng đài Huỳnh Phú Sổ tại một địa điểm ở thị trấn Phú Mỹ, huyện Phú Tân[cần dẫn nguồn].

Phần thứ nhất: Sấm Giảng Giáo Lý: Phần này gồm 6 quyển giảng:

1. Quyển thứ nhất: Sấm giảng khuyên người đời tu niệm. Viết theo lối văn lục bát, dài 912 câu.

2. Quyển thứ nhì: Kệ dân của người Khùng. Viết theo lối văn thất ngôn trường thiên, dài 476 câu.

3. Quyển thứ ba: Sám Giảng. Viết theo lối văn lục bát, dài 612 câu.

4. Quyển thứ tư: Giác mê tâm kệ. Viết theo thể văn thất ngôn trường thiên, dài 846 câu.

5. Quyển thứ năm: Khuyến thiện Quyển này dài 776 câu, đoạn đầu và đọn cuối viết theo thể thơ lục bát, đoạn giữa theo lối thơ thất ngôn trường thiên.

6. Quyển thứ sáu: Những điều sơ lược cần biết của kẻ tu hiền. Quyên này viết theo lối văn xuôi (tản văn), trình bày toàn bộ tông chỉ, giới luật của Đạo.

Phần thứ hai: Thi Văn Giáo Lý Phần này bao gồm hơn 200 bài thi thơ do Đúc Huỳnh Giáo chủ viết từ năm Kỷ Mão (1939) đến năm Đinh Hợi (1947).

Có thể nhận thấy giáo lý Hòa Hảo là sự tiếp thu và nâng cao tư tưởng Bửu Sơn Kỳ Hương của Đoàn Minh Huyên, gồm phần “Học Phật” và phần “Tu nhân”:

Người tín đồ PGHH thờ cúng ba ngôi hương án tại nhà, bao gồm:

– Thứ nhất là Ngôi thờ Cửu Huyền Thất Tổ: thờ cúng tổ tiên, theo đạo lý uống nước nhớ nguồn.

– Thứ hai là Ngôi thờ Tam Bảo: thờ Thập phương Phật, Pháp, Tăng. Ngôi thờ này có đặt một tấm vải màu nâu (gọi là Trần Dà) tượng trưng cho sự thoát tục và sự đoàn kết. Chúng ta hãy xem qua lời dạy của Đức Huỳnh Giáo chủ:” Nhưng riêng về cư-sĩ ở nhà không nên tạo thêm nữa; nên thờ đơn-giản cho lòng tin-tưởng trở lại tâm hồn hơn ở vào các sự hào nhoáng bề ngoài. Từ trước chúng ta thờ trần điều là di tích của Đức Phật Thầy Tây-An để lại. Nhưng gần đây có nhiều kẻ thờ trần điều tự xưng cùng tông-phái với chúng ta, làm sái phép, sái với tôn-chỉ của Đức Phật, nên toàn-thể người trong Đạo đổi lại màu dà. Lại nữa, từ trước đến giờ các sư dùng màu dà để biểu-hiện cho sự thoát tục của mình, và màu ấy là sự kết hợp của tất cả các màu sắc khác, nên có thể tượng trưng cho sự hòa-hiệp của nhân-loại không phân biệt chủng tộc và cá-nhân. Vì vậy chúng ta dùng nó trong chỗ thờ-phượng để tiêu-biểu cho tinh-thần vô thượng của nhà Phật”.

-Thứ ba là Ngôi Thông Thiên: đặt ngoài trời.

“Về cách cúng Phật, chỉ nên cúng nước lạnh, bông hoa và nhang thôi. Nước lạnh tiêu-biểu cho sự trong sạch, bông hoa tiêu-biểu cho sự tinh khiết, còn nhang, dùng đặng bán mùi uế-trược. Ngoài ra chẳng nên cúng một món gì khác cả. Bàn thờ ông bà cúng món chi cũng đặng”. (lời Đức Huỳnh Giáo chủ).

Như trên thì, ngôi thờ Tam Bảo và ngôi Thông Thiên chỉ đặt lư hương, bình hoa, ly nước sạch, ngoài ra không cúng gì khác nữa. Bàn thờ Cửu Huyền Thất Tổ thì ngoài ba thứ trên có thể dâng cúng thêm thực phẩm: bánh trái, thức ăn nhưng nên cúng chay.

Người tín đồ Phật giáo Hoà Hảo hành lễ mỗi ngày hai thời vào buổi sáng và buổi chiều theo nghi thức đã được chỉ dạy trong quyển thứ sáu.

Ngày 1 tháng Giêng: Tết Nguyên Đán Ngày Rằm tháng Giêng: Lễ Thượng Ngươn Ngày 25 tháng 2: ngày Đức Huỳnh Giáo chủ bị ám sát[11] Ngày 8 tháng 4: Lễ Phật đản Ngày 18 tháng 5: Lễ Khai sáng Đạo Phật giáo Hoà Hảo Ngày Rằm tháng 7: Lễ trung Ngươn Ngày 12 tháng 8: Vía Phật thầy Tây An Ngày Rằm tháng 10: Lễ hạ Ngươn Ngày Rằm tháng 11: Lễ Phật A-di-đà Ngày 25 tháng 11: Lễ Đản Sinh Đức Huỳnh Giáo chủ. Ngày 8 tháng Chạp: Lễ Phật thành đạo

MUA NGAY Tùy chọn thời gian giao hàng

Từ khóa: chuong dong dao hoa hao Chuông đồng đạo phật giáo hòa hảo – Giáo hòa tự đại hồng chung đạo hòa hảo

Nét Đặc Sắc Của Phật Giáo Hòa Hảo

Vài nét đặc trưng về Đức Huỳnh Giáo Chủ: vừa học hết bậc Tiểu học thì đau ốm liên miên nên Ngài phải rời nhà trường về nhà dưỡng bịnh. Bịnh tình của Ngài không có một lương y nào trị được. Cho đến năm 1939, sau khi hướng dẫn thân phụ đi viếng các am động miền Thất Sơn và Tà-Lơn (vùng núi non linh thiêng hùng vĩ), Ngài tỏ ra đại ngộ và chính thức mở Đạo.

Bắt đầu là công việc chữa bịnh. Ngài có học thuốc với ai đâu, thế mà Ngài chữa đâu hết đó. Ngài chữa lành được các chứng bịnh hiểm nghèo với các phương pháp thật đơn giản là chỉ dùng lá cây, nước lã, giấy vàng, khiến các bác sĩ Tây y, các Đông y, các phù thủy có tiếng chữa các bịnh tà đều phải kinh dị.

Song song với việc chữa bịnh, Đức Huỳnh Giáo Chủ thuyết pháp thao thao bất tuyệt. Nhiều văn gia, thi sĩ cũng như trong giới luật gia đến chất vấn, đều công nhận Ngài là bậc siêu phàm.

Đây là lời nhận định của ông Nguyễn Xuân Thiếp tức thi sĩ Việt Châu: “Con người đó thật kỳ dị. Mỗi ngày ngồi xe hơi đi mấy trăm cây số, diễn thuyết hai ba nơi, mỗi nơi nói thao thao bất tuyệt trong hai ba giờ giữa trời trước một đám đông nông dân hằng ngàn người, ai nấy im phăng phắc như nuốt từng lời một, có kẻ khóc mướt nữa. Có lần đương diễn thuyết thì trời đổ mưa, Thầy Tư (tức Đức Huỳnh Giáo Chủ) vẫn nói mà dân chúng vẫn đứng nghe dưới mưa. Lần nào diễn thuyết xong rồi cũng lên xe đi nơi khác liền, không thấy mệt nhọc, vẫn ung dung làm thơ. Mà ăn rất ít, toàn đồ chay. Sinh lực sao mà dồi dào thế ! Sức lôi cuốn, thôi miên quần chúng sao mà mạnh thế”.

Văn chương của Đức Huỳnh Giáo Chủ rất bình dân, nhưng hàm súc, hấp dẫn với lối truyền giáo bằng thi ca là thích hợp nhất cho quần chúng đa số là nông dân ít học, vì dễ nghe, dễ nhớ, đơn cử một vài vần thơ sau đây:

Đức Huỳnh Giáo Chủ viết không cần giấy nháp và cũng để cho người đời thấy rằng Ngài là bậc siêu nhân, dù cho sự học ngoài đời chỉ hết Tiểu học, nhưng mà các bài Sấm Thi của Ngài dùng rất nhiều từ Hán-Việt, từ Phật học chứng tỏ một trình độ Phật học cao, một sự vận dụng kho từ Hán-Việt phong phú.

Giáo pháp của Đức Huỳnh Giáo Chủ là siêu thượng nhưng không kém phần thực tế, có thể áp dụng cho bất cứ không gian và thời gian trên cõi đời nầy. Ngài là một nhà cách mạng tôn giáo vĩ đại, vì trước khi Ngài ra đời khai Đạo, Phật Giáo Việt Nam bị đình đốn, sai lạc và đạo Phật thế giới chưa nói tới việc canh tân. Ngài chủ trương cắt bỏ những nghi thức phiền toái không đi đúng theo căn nguyên của Đức Phật Thích Ca Thế Tôn. Những nghi thức vô bổ cùng những hình thức lễ bái bề ngoài không phải là giá trị và ý nghiã thực sự của tôn giáo. Không có sự tin tưởng và thực hành một cách mù quáng. Mọi vật đều được trình bày và mở rộng ra để người tín đồ tự do lựa chọn và phán đoán. Họ được tự do nghiên cứu và tìm hiểu những lời dạy dỗ của vị Thầy và đồng thời họ cũng được tự do hỏi để hiểu thấu đáo những điều gì họ còn nghi ngờ. Phật Giáo Hòa Hảo còn canh tân nhiều điểm trong phương thức hành Đạo mà trước kia không hề có, Ngài nói: “Đối với toàn thể tín đồ Phật Giáo, tôi tin chắc rằng giáo lý giải thoát chúng sanh chẳng những được truyền bá ở Thiền lâm mà còn phải thực hiện trên trường chánh trị”. Ngài cũng nói: “Theo sự nhận xét của tôi về giáo lý nhà Phật do nơi Đức Thích Ca Mâu Ni Phật đã khai sáng lấy Chủ nghĩa từ bi bác ái đại đồng đối với tất cả chúng sanh làm nồng cốt thì tôi nhận Ngài là một nhà cách mạng triệt để về tư tưởng; vì những câu “Nhứt thiết chúng sanh giai hữu Phật tánh” và “Phật cũng đồng nhứt thể bình đẳng với chúng sanh”. Đã có những sự bình đẳng về thể tánh như thế mà chúng sanh còn không bằng được Đức Phật là do nơi trình độ giác ngộ của họ không đồng đều, chớ không phải họ không tiến hóa ngang hàng với chư Phật được. Nếu trong cõi nhơn gian nầy còn có chúng sanh tiền tiến áp bức những chúng sanh lạc hậu thì là một việc trái hẳn với những giáo lý chơn chánh ấy. Giáo lý đó, Đức Thích Ca Mâu Ni không áp dụng được một cách thiết thực trong đời của Ngài là do nơi hoàn cảnh xã hội của Ấn Độ xưa không thuận tiện. Thế nên Ngài chỉ phát dương cái tinh thần đó mà thôi. Ngày nay trình độ tiến hóa của nhơn loại đã tới một mực khả quan, đồng thời với tiến bộ về khoa học thì ta có thể thực hành giáo lý ấy để thiệt hiện một xã hội công bằng và nhơn đạo. Thế nên với cái tâm hồn bác ái, từ bi mà tôi đã hấp thụ, tôi sẽ điều hòa với phương pháp tổ chức xã hội mới, để phụng sự một cách thiết thực đồng bào và nhơn loại”.

Đức Huỳnh Giáo Chủ khẳng định cốt lõi giáo lý Phật Giáo Hòa Hảo chính là giáo lý của Đức Phật Thích Ca. Phật Giáo Hòa Hảo tự nhận là kế tục của đạo Phật:

Đức Huỳnh Giáo Chủ cho bá tánh vạn dân hiểu rõ về đời hành Đạo của Ngài như sau: “Với sự hành Đạo của tôi cảnh sống nào tôi cũng có thể sống được. Cái hành Đạo đúng theo ý tưởng xác thực của nó là làm thế nào phát hiện được những đức tánh cao cả và thực hành trên thiệt tế bằng mọi biện pháp để đem lại cái phước lợi cho toàn thể chúng sanh thì đó là sự thỏa mãn trong đời hành Đạo của mình, chớ những sự tùy tiện về vật chất đối với tôi, không có nghiã lý gì hết”.

Đức Huỳnh Giáo Chủ theo đúng phương châm “Ngôn hành hiệp nhứt”, nói gì làm vậy:

Trong thời gian kể từ ngày khai Đạo dạy đời cho đến khi Ngài tạm xa vắng tín đồ, có ai thấy Ngài xây chùa cao Phật bự hay Ngài ở nơi nhà cao cửa rộng có kẻ hầu người hạ không? Điều đó chứng tỏ rằng Ngài đã:

Và Ngài dạy: “Chỉ thờ lạy Đức Phật, tổ tiên, ông bà, cha mẹ lúc còn sống và các vị anh hùng cứu quốc. Với những kẻ khác, nên bỏ hẳn sự lạy lục người sống, cho đến THẦY mình cũng vậy, chỉ xá thôi”.

Đức Huỳnh Giáo Chủ không chỉ rao giảng giáo lý mà toàn bộ cuộc sống của Ngài là hiện thân của giáo lý đó. Không chỉ rao giảng hòa hiếu mà thực sự Ngài sống hòa hiếu, vì vậy lời giảng và cuộc sống hòa hiếu của Ngài đã đi sâu vào lòng của quần chúng, nên họ cũng muốn sống hòa hiếu như Ngài:

Dù xa quê hương, nhưng khi Tết đến Ngài cũng không quên chúc phúc tông gia. Ngài nói: “Ngày Tết đến, nương mực viết thay lời, trước kính bái tông đường, sau chúc mừng ông bà đặng muôn điều hạnh phúc. Sau có hai bài thơ xin ông xem chơi cho rõ điều tâm sự”, là bài thi Đức Thầy gởi ông Mười (chú Đức Ông):

Là người trên thế gian nầy, dù là tín đồ hay không tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo, ai lại không muốn sống hiếu thuận với tổ tiên, ông bà, cha mẹ, ai lại không muốn sống hài hòa với mọi người trong làng nước, láng giềng. Đức Huỳnh Giáo Chủ lấy tự thân mình làm gương sáng giáo dục cho người khác, cho nên mỗi tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo đều theo gương sáng của Đức Tôn Sư của mình, họ đều thực hành thuyết Tứ Đại Trọng Ân, sống hòa hiếu với mọi người trong gia đình cho đến ngoài xã hội. Mỗi tín đồ, họ cũng là nhà truyền giáo không chỉ bằng lời nói mà bằng cuộc sống cả đời của họ, cuộc sống hằng ngày của họ.

Nhờ giáo pháp thích thời đó mà chỉ trong một thời gian ngắn, Ngài thu phục được hàng triệu tín đồ ở miền Nam nước Việt và ảnh hưởng càng ngày càng thêm rộng ra. Đây là điểm thành công vượt trội của Phật Giáo Hòa Hảo.

Phật Giáo Hòa Hảo ra đời với sứ mạng cứu vớt, như lời của Đức Huỳnh Giáo Chủ:

Hãy đọc qua toàn bộ Sấm Giảng Thi Văn Giáo Lý của Đức Huỳnh Giáo Chủ với tấm lòng thiết tha yêu thương nòi giống, yêu thương nhơn loại, chúng ta thấy ở đó những gì cần phải học, cần phải biết, những gì cần cứu vớt. Mà việc trước tiên là tự cứu vớt bản thân chúng ta đang chìm đắm trong hôn mê, trong đường danh nẻo lợi, rồi đến cứu vớt dân tộc đang phân hóa do trào lưu tư tưởng tiến bộ Tây phương tràn vào xung đột lẫn nhau.

Trong hoàn cảnh đất nước bị thực dân Pháp đô hộ, những người tỏ ra yêu nước thương nòi là bị thực dân kềm chế hay bắt bớ tù đày. Còn đa số được gọi là dân trí thì mải mê theo danh lợi lãng quên sự nghiệp tổ tông. Chỉ khối dân quê đông đảo nhất, thuần phác, giữ được nhiều đức tính dân tộc thì lại dốt nát, sống cơ cực, làm chẳng đủ ăn, không người lãnh đạo. Vậy mà suốt dòng lịch sử, khối dân quê nầy là chủ động cho bao cuộc phục hưng dân tộc bằng cách cung cấp nhân lực, vật lực, tài lực.

Vì lý do đó, Phật Giáo Hòa Hảo xuất hiện ngay trong lòng nông dân để giác ngộ họ, giúp họ tiến lên tự giải thoát lấy mình, phóng giải dân tộc rồi góp phần vào việc giải thoát nhơn loại.

Cho nên việc đầu tiên phải gây cho họ một lòng tin ở mình, ở dân tộc mình bằng cách phác họa cho mọi người một lý tưởng nhơn sinh. Lý tưởng đó Đức Huỳnh Giáo Chủ Phật Giáo Hòa Hảo tổng hợp ba luồng tư tưởng lớn là Phật Giáo, Khổng Giáo và Lão Giáo. Tinh thần từ bi bác ái của nhà Phật, tinh thần nhơn ái của Khổng Tử, tinh thần tiêu dao không màng danh lợi của Lão Tử, được phô diễn trong lời vàng tiếng ngọc, khi thì như hiệu lịnh, khi thì như nhắn nhủ khuyên răn, khi thì như cảnh báo được nhìn thấy trong Sấm Giảng Thi Văn Giáo Lý của Ngài:

Đức Huỳnh Giáo Chủ dùng văn thơ đi thẳng vào lòng người, cho mọi người thấy cảnh khổ não của xã hội Việt Nam và toàn nhân chủng, rồi giác ngộ họ tìm đường giải thoát, đó là chủ trương đại bi và đại giác. Khi con người có giác ngộ rồi, ai nấy đều phải lo làm tròn bổn phận làm người đề tự cứu mình, gia đình mình, quốc gia dân tộc mình rồi đến nhơn loại, như Ngài hằng mong:

đó là chủ trương đại hành và đại Đạo.

Trong các hạnh thi thiết cứu đời, Ngài nhận thấy chỉ có hạnh Vô úy thí là cao quý nhất, nếu thực hành được sẽ tạo nên nhiều công đức, sớm hội đủ điều kiện trở nên người hiền. Với các hạnh Tài thí và Pháp thí phải tích lũy công đức lâu ngày e không đủ thời giờ để thành người hiền vì cơ hoại diệt gần kề. Một cơ hội hiếm có cho người tu hiền ở thời kỳ nầy lập lấy thân danh trong giai đoạn dân Việt Nam đứng lên hy sinh xương máu đấu tranh giành độc lập cho đất nước “Lập thân danh tuần trải nơi nơi, Chờ thời đại mới là khôn khéo” và Ngài đã nhận thấy:

Chúng ta may mắn được có chư Phật Thánh lâm trần dìu dắt trong cơn vận nước suy vong, trao cho chúng ta phương tiện để thực hành hạnh Vô úy thí.

Đức Huỳnh Giáo Chủ tuyên bố: “Tôi, một đệ tử trung thành của đạo Phật, một chiến sĩ trì chí của phong trào giải phóng dân tộc Việt Nam sẵn sàng cùng đoàn thể mình cuơng quyết đứng dậy đáp lại tiếng gọi của non sông cương quyết tranh đấu để bảo vệ quyền lợi chung cho nòi giống”. (Trích báo Quần Chúng 14-11-1944).

Ngài tha thiết kêu gọi thanh niên tráng sĩ rường cột của nước nhà, hăng hái cùng nhau đứng lên giết giặc giành lại tự do, hãy noi theo chí hướng của các bậc anh hùng tiền bối:

Ngài biểu hiện ý chí chiến sĩ bằng hạnh sống chung với binh sĩ, ngày ngày có mặt trong cơ ngũ, cùng ăn chung, cùng nghỉ chung với chiến sĩ, không phân biệt cấp bậc tớ Thầy. Ngài cũng băng đồng lội nước, xông pha vào đường tên mũi đạn, không có một cử chỉ nào cách biệt với anh em quân nhân.

Trong nhà Phật có từ ngữ “thân giáo”, là lấy tự thân làm gương sáng mà Đức Huỳnh Giáo Chủ là ngọn đuốc soi đường cho nhơn dân bá tánh thiệt hành Tứ Ân (Ân Tổ tiên Cha mẹ, Ân Đất nước, Ân Tam bảo, Ân Đồng bào và Nhơn loại), hòa vận mình vào vận mệnh của dân tộc, như Ngài tuyên thuyết:

Sự tăng trưởng con số tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo nhanh chóng không phải chỉ ở nội dung giáo lý dễ hiểu, dễ thực hành mà còn ở tác phong của người truyền giáo nói là làm đi đôi.

Chủ trương cách mạng của Phật Giáo Hòa Hảo khắp các mặt ngấm ngầm đề ra, mà vị cứu thế muốn dùng văn thơ đi thẳng vào lòng người. Chúng ta thấy Phật Giáo Hòa Hảo với chủ trương chấn hưng tôn giáo, cải tiến tâm lý quần chúng, cải thiện xã hội, để gây một tin tưởng lớn vào lòng người ở tương lai.

Phật Giáo Hòa Hảo chú trọng đến việc suy đồi của đạo Phật ở trong nước diễn ra trong các chùa chiền hay trong hàng ngũ tăng đồ mà chúng ta có thể thấy được trong Sấm Giảng Thi Văn Giáo Lý của Đức Huỳnh Giáo Chủ, như Ngài thống trách:

Trong dân gian nhiều người đi chùa chỉ hiểu mơ hồ rằng nếu năng tới lui lễ bái, dâng cúng lễ vật tiền bạc thì được phước, ngược lại thì gặp tai ương. Hầu như phần đông không hiểu rằng cốt tượng, chuông mõ chỉ là hình tướng giúp cho con người dễ tập trung tư tưởng mà suy gẫm về nền giáo lý nhà Phật, chỉ là để nhắc nhở mọi người tu khỏi xao lãng việc tu hành. Nó chỉ là phương tiện chớ không phải là cứu cánh.

Đức Huỳnh Giáo Chủ cũng khuyên dạy: “Thầy cảnh tỉnh giác ngộ điều gì chánh đáng thì khá vâng lời. Cần nhất ở chỗ giữ giới luật hàng ngày. Còn sự lễ bái là điều phụ thuộc là món trợ đạo để nhắc nhở các trò nhớ phận sự mà làm”.

Tu là phải hành, mà hành thì phải công trì bái sám. Vậy chúng ta nên biết lối tu hành của nhà Phật, buộc người tu xét nét từng Sát-na, phải giữ cái tâm cho tụ, không để cho “Tâm viên ý mã”, cũng giống như con buơm buớm chờn vờn bay từ hoa nọ đến hoa kia. Đức Huỳnh Giáo Chủ dạy:

Ngài cũng dạy trong mục Chánh Niệm: “Ghi nhớ sự chân chánh. Còn cũng tưởng, mất cũng tưởng, thành cũng tưởng, bại cũng tưởng, thương cũng tưởng, ghét cũng tưởng. Thất tình lục dục bắt buộc con người phải phí biết bao nhiêu tâm cơ, bao nhiêu trí não phụng sự nó. Danh lợi, cảm tình, uy quyền, phú quí… được hằng ngày ghi nhớ. Vì thế con người mãi mãi lăn lộn trong sáu đường không thoát khỏi vòng sanh tử.

Để thoát chỗ luân hồi bỏ cuộc đời lầm than hoạn họa, hãy rán tưởng niệm phương pháp hành Đạo, bỏ các điều phù phiếm, ghi nhớ công lao Đức Phật đối với quần sanh, bia tạc vào lòng những điều Phật giáo. Phải nhớ rằng xác thân do tứ đại (đất, nước, lửa, khí) tạo thành và sớm muộn gì nó cũng sẽ bị tan rã. Đặng vậy, ta mới bỏ được các sự xúc động, các mối dục tình tránh điều lụy khổ do nó gây nên”.

Phương pháp hành Đạo của Đức Huỳnh Giáo Chủ dạy có hiệu nghiệm là:

Hai câu nầy đủ để nói lên hết cái cách mạng về tu hành của Phật Giáo Hòa Hảo; thiết tưởng chúng ta không nên quá dài dòng cho lắm, e làm giảm cái cô đọng và bao quát của hai câu gồm mười bốn chữ nầy.

Đức Huỳnh Giáo Chủ phê phán việc tu hành của người tu theo đạo Phật đã làm sai lạc đường lối vô vi chánh pháp của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni:

Ngài cho chúng sanh thấy:

Ngài cảnh báo cho kẻ ưa làm điều dối mị, nếu không lo cải sửa sẽ chịu hậu quả khôn lường:

Thấy cái sai trái, Ngài khuyên nên sửa đổi:

Thế mà người đời có mấy ai giác ngộ sửa sai:

Nguyên nhân sâu xa đi sai lạc Chánh Pháp là vì:

Nhằm mục đích chấn hưng Phật Giáo “Tùy phong hóa dân sanh phù hạp, Chấp bút thần tả ít bổn kinh” và Đức Huỳnh Giáo Chủ “Dạy bổn đạo lấy câu trung đẳng, Chẳng nói cao vì sắp rốt đời” cũng như Ngài khuyên “Lời Ta dạy hãy nên suy nghiệm” và “Nghe cạn lời chớ có mờ hồ, Tìm hiểu nghĩa làm theo đắc Đạo”.

Sấm Giảng của Đức Huỳnh Giáo Chủ được truyền tụng, gây tin tưởng cho kẻ đang chịu nhẫn nại là được phước về sau. Chịu đựng ở đây không có nghĩa là ngồi một chỗ mà chờ ngày tận thế, nhưng phải nhập thế, phải sốt sắng lo làm ăn và lo tu hành, làm tròn bổn phận đối với Tổ tiên Cha mẹ, đối với đất nước, đối với Tam Bảo, đối với xã hội. Là tín đồ thì ai cũng thuộc ít nhiều về lời giảng dạy để khi gặp trường hợp khó khăn về sinh kế, về thiên tai thì đem ra mà dẫn chứng để lấy lòng tin.

Trong thời kỳ Pháp thuộc, dân Việt Nam bị băng hoại, con người bon chen theo danh lợi, ích kỷ, giả dối, không chí hướng và nhất là không nghĩ đến giống nòi mà chỉ nghĩ “Sớm lo lòn cúi chiều ăn ngủ, Nào biết liệu toan gỡ nợ nần”. Bởi vậy việc cấp thiết là thức tỉnh và hun đúc họ có một tinh thần “tri hành hợp nhứt”.

Về phưong diện tu hành, Ngài thức tỉnh người mê mau trở lại con đường chân chánh, làm cho họ có một đức tin trong sạch soi sáng bằng trí tuệ, mới khỏi mắc vào mê tín dị đoan, hầu vững bước tiến:

Phải có ý thức về bổn phận đối với Tổ tiên, đối với đất nước, nuôi chí hướng kiên cường:

Luôn luôn vững lòng chặt dạ “Rèn lòng giữ dạ sắt đinh”, không vì lời phê phán bất chánh của kẻ tiểu nhơn gièm pha mà bỏ việc dở dang “Dầu ai mua oán chác hờn mặc ai”, mà phải kiên định lập trường:

Đức Huỳnh Giáo Chủ khuyên tín đồ của Ngài phải đem cái ý chí kiên cường ra mà rèn luyện tình cảm:

“Phải điêu luyện khối tinh thần cho mạnh mẽ đặng tự lập con đường rõ ràng duy nhứt của mối Đạo mình đang theo đuổi để lấy đó làm cương mục mà bài trừ những thành kiến, cố chấp thói quen, sự chần chờ, lòng ham muốn, tánh kiêu ngạo, tật đố, gièm xiểm, dua nịnh, ích kỷ, tự tâm, sự mê đắm trong bể dục tình và sự phiền não nó làm cho náo loạn cõi lòng”. Vậy phải hiểu rõ vấn đề tình cảm cũng là quan trọng. Nếu không làm chủ được tình cảm mà để cho nó phóng túng thì dẫu cho kế hoạch có hay ho thế nào cũng không giúp ích gì cho ta.

Đức Huỳnh Giáo Chủ không chỉ chú trọng tới sự suy đồi của Phật Giáo mà còn chú trọng đến sự suy đồi của xã hội về nhiều phương diện. Xã hội Việt Nam trong thời kỳ Pháp thuộc băng hoại và thối nát; cuộc sống đạo đức theo quan niệm của Khổng Giáo không còn giữ được kỷ cương. Cờ bạc, rượu chè, đàng điếm nổi lên khắp mọi nơi, mê tín dị đoan đè nặng lên mọi tầng lớp xã hội.

Phật Giáo Hòa Hảo ra đời dùng quyền uy tinh thần để tâm phục mọi người bằng giác ngộ. Với tôn chỉ hành đạo của Phật Giáo Hòa Hảo: không được uống rượu, cờ bạc, á phiện, chơi bời theo đàng điếm. Các thứ vàng mã, thầy bùa, thầy pháp, làm chay đàn, bị xem như những thứ tin nhảm, mê hoặc lòng người làm sai lạc nền Chánh Tín trong đạo Phật:

Đọc Sấm Giảng Thi Văn Giáo Lý của Đức Huỳnh Giáo Chủ chúng ta thấy những chất liệu mà Ngài lấy ra để xây dựng nền giáo lý cho đạo Phật Giáo Hòa Hảo hoàn toàn Việt Nam, đơn sơ, thuần hậu, không cầu kỳ, không trí thức đến độ kiểu cách, không quá sâu sắc đến độ bí ẩn. Chất liệu đó rút tỉa từ cuộc sống bình dị của người nông dân miền Nam, từ căn bản Khổng Giáo, Phật Giáo được trộn lẫn vào nhau trong một tinh thần cởi mở tự nhiên. Chúng ta có thể nói rằng Phật Giáo Hòa Hảo là kết tinh trọn vẹn của văn hóa dân tộc vì trong Phật Giáo Hòa Hảo chúng ta thấy được mầu sắc Khổng Giáo trong đời sống đạo đức hằng ngày, tín ngưỡng Phật Giáo và thờ cúng Tổ tiên trong sinh hoạt tôn giáo cũng như tình tự quê hương dân tộc trong cuộc sống tình cảm.

Trong lúc nước nhà gặp khó khăn, xã hội băng hoại, lòng người chao đảo chia rẽ, lại thêm bị ảnh hưởng chiến cuộc bên ngoài gây cho nội tình không mấy tốt đẹp cho đất nước làm con người hoang mang sợ sệt. Trong tình cảnh đó Phật Giáo Hòa Hảo ra đời, là một thứ dầu mầu nhiệm nuôi ngọn lửa lòng cho dân Việt. Thế nên dù không ai bảo ai nhưng lòng của mỗi người đều tin tưởng rằng tuy nay nước nhà gặp cơn bĩ cực, nhưng rồi đây sẽ có một ngày tương lai sáng lạng “hết cơn bĩ cực tới hồi thái lai”.

Một cảnh thái bình được vẽ ra “Trên vua minh chánh cầm cân, Dưới quan liêm khiết xử phân công bình” và “Trên kẻ trí lấy công bình phán đoán, Dưới vạn dân trăm họ được im lìm”. Cái cảnh mà chúng dân lạc nghiệp, muôn nhà thạnh thới, nhơn vật hòa đồng “Cỏ cùng cây điểu thú chim muông, Nhơn với vật huờn lai bổn tánh”, mà ai muốn hưởng được cảnh đó ngay bây giờ phải trau tâm trỉa tánh, tu sửa thân tâm.

Đức Huỳnh Giáo Chủ Phật Giáo Hòa Hảo muốn đưa nhơn loại sống cảnh đại đồng “thế giới lân Hòa Hảo” và “gieo Đạo khắp đại đồng”. Nhơn loại không còn hiềm khích lẫn nhau, một lòng yêu thương đùm bọc, cùng nắm tay nhau trên đường tiến bộ “Ấy là xong bốn biển hiệp một nhà, Không ganh ghét dứt câu thù hận oán” và mãi mãi “đi vào vòng hạnh phúc”.

Tìm Hiểu Về Giáo Lý, Giáo Luật Và Lễ Nghi Của Phật Giáo Hòa Hảo

Về giáo lý

, Phật giáo Hòa Hảo tuy mượn danh Phật giáo nhưng không dùng giáo lý chính thống của Phật giáo, chủ yếu dựa vào tín ngưỡng dân gian và các câu sấm giảng của Trạng Trình để thu hút và gây niềm tin sâu sắc trong tín đồ. Ông Huỳnh Phú Sổ khuyên tín đồ ăn ngay ở lành, ra sức làm những điều thiện, bài xích bọn tham ô quan lại áp bức bất công, đả kích đồng bóng mê hoặc dân chúng làm tiền. Những lời giáo huấn, cầu nguyện, tiên tri do ông Huỳnh Phú Sổ truyền dạy được chép thành từng cuốn gọi là Sấm giảng viết theo dạng thơ hoặc văn vần, giản dị dễ nhớ.

Kinh sách của Phật giáo Hòa Hảo bao gồm phần Sấm giảng giáo lý và phần Thi văn giáo lý. Sấm giảng giáo lý chủ yếu dựa vào hình thức tín ngưỡng thần bí, vào các câu sấm giảng của Trạng Trình. Giáo lý của Phật giáo Hòa Hảo tóm gọn trong 4 chữ “Học Phật tu Nhân” và cốt lõi của học Phật tu Nhân là Tứ ân: Ân tổ tiên, cha mẹ; Ân đất nước; Ân tam bảo; Ân đồng bào nhân loại.

Sức lôi cuốn của Phật giáo Hòa Hảo với tín đồ về phương diện giáo lý chính là nêu cao đạo lý làm người, biểu hiện trước hết ở Tứ ân. Giáo lý Phật giáo Hòa Hảo chứa đựng các tư tưởng của Nho, Phật, Lão bởi “Tứ ân” là một hình thức “Tam giáo đồng nguyên”. Trong đó Phật giáo là tính trội. Theo Phật giáo Hòa Hảo học Phật tạo nên đức, tu nhân tạo nên công, có công có đức mới trở thành bậc hiền nhân.

Về giáo luật,

Phật giáo Hòa Hảo chủ trương niệm Nam Mô A Di Đà Phật (tức niệm lục tự Di Đà). Tín đồ thực hiện 8 điều răn của Đức Giáo chủ, xem đó như là giới luật của đạo:

Một là, không nên uống rượu, cờ bạc, thuốc phiện, chơi bời, đàng điếm, phải giữ trọng luân lý tam cương, ngũ thường.

Hai là, không nên lười biếng, phải cần kiệm, sốt sắng lo làm ăn và lo tu hiền chân chất, không nên gây gổ lẫn nhau, hãy tha thứ tội lỗi cho nhau trong khi nóng giận.

 Ba là, không nên ăn xài chưng diện thái quá và lợi dụng tiền tài mà quên nhân nghĩa đạo lý, đừng ích kỷ và xu phụng kẻ giàu sang, phụ người nghèo khó.

Bốn là, không nên kêu Trời, Phật, Thần, Thánh hoặc nguyền rủa, vì thần thánh không can phạm đến ta.

Năm là, không ăn thịt trâu, bò, chó và sát sinh hại vật mà cúng Thần, Thánh vì Thần Thánh không bao giờ dùng hối lộ mà tha tội cho ta, vì nếu ta làm tội sẽ chịu tội, còn những hạng ăn đồ cúng mà hết bệnh là Tà Thần; nếu ta cúng kiếng mãi thì chúng ăn quen sẽ nhiễu hại ta.

Sáu là, không nên đốt giấy, tiền, vàng, bạc, giấy quần áo mà tốn tiền vô lý, vì cõi Diêm Vương không bao giờ ăn hối lộ của ta, mà cũng không xài được nữa, phải để tiền lãng phí ấy cứu trợ cho những người nghèo khổ, tàn tật.

Bảy là, đứng trước mọi việc gì về sự đời, hay đạo đức, phải suy xét cho minh lý rồi sẽ phán đoán việc ấy.

Tám là, phải yêu thương lẫn nhau như con một cha, dìu dắc nhau vào con đường đạo đức, nếu ai giữ được trọn lành, trọn sáng về nơi cõi Tây phương an dưỡng mà học đạo cho hoàn toàn đặng trở lại cứu vớt chúng sinh.

Những lời khuyên răn trên phê phán mê tín dị đoan, dùng tà thuật bùa chú chữa bệnh và phê phán việc “hối lộ” Thần Thánh để chuộc tội là những tư tưởng tiến bộ của Phật giáo Hòa Hảo.

Thủ tục nhập đạo: người muốn vào đạo phải đủ 18 tuổi, tự nguyện viết đơn xin nhập đạo, có hai người tín đồ giới thiệu. Đến Ban Trị sự cơ sở ghi danh, học giáo lý, giáo luật và phải xin phép cha mẹ mình về tự nguyện quy y theo đạo.

Nếu muốn ra khỏi đạo, thì báo trước cho người tiến cử và Ban trị sự cơ sở để xóa tên trong danh sách.

Về nghi lễ,

tín đồ Phật giáo Hòa Hảo là cư sỹ tại gia, họ không thờ những thần thánh nếu không rõ xuất xứ, không có nghi thức hành lễ tập thể tại những nơi thờ tự chung mà chỉ có nghi thức hành lễ cá nhân trước bàn thờ Tổ tiên, bàn thờ Phật và bàn thông thiên. Tại các bàn thờ mỗi tín đồ đều có các hoạt động: xá, lạy, nguyện (bài đọc) và niệm Phật. Mỗi gia đình có 3 bàn thờ: bàn thờ Phật đặt nơi cao nhất chỉ treo Trần dà; bàn thờ Tổ tiên đặt dưới bàn thờ Phật; bàn thời Thông Thiên thờ ngoài trời ở trước cửa nhà. Sau này họ có thờ ảnh ông Huỳnh Phú Sổ, thường đặt dưới tấm trần dà. Đi làm ruộng khi xa nhà đến giờ cúng ngó về hướng Tây nguyện rồi xá 4 hướng. Đi xa nhà thì nguyện tưởng trong tâm cũng được.

Về lễ vật thờ cúng: Phật giáo Hòa Hảo thờ Phật, nhưng không bằng tượng cốt, tranh ảnh. Mà thờ Phật bằng tấm vải Trần dà thay cho tấm vải Trần Điều của Bửu Sơn Kỳ Hương, nhưng cùng một quan niệm là “Phật tức tâm, tâm tức Phật”. Đồ thờ cúng Phật, cúng trời đất ở bàn thờ thông thiên thường có nước lạnh, hoa và hương.

Lễ vật cúng ông bà tổ tiên là đồ chay hoặc mặn tùy ý. Không dùng vàng mã trong cúng giỗ, họ cho rằng đó là điều giả tạo, lãng phí không cần thiết.

Cập nhật thông tin chi tiết về Bàn Thờ Của Đạo Phật Giáo Hoà Hảo Thờ Gì ? 8 Điều Răn Cấm Phật Giáo Hòa Hảo ! trên website Apim.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!