Xu Hướng 2/2023 # 19. Bộ Sưu Tập Các Bài Kệ Cúng Thí Cô Hồn # Top 2 View | Apim.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # 19. Bộ Sưu Tập Các Bài Kệ Cúng Thí Cô Hồn # Top 2 View

Bạn đang xem bài viết 19. Bộ Sưu Tập Các Bài Kệ Cúng Thí Cô Hồn được cập nhật mới nhất trên website Apim.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

KỆ CÚNG THÍ CÔ HỒN – CHÙA HOẰNG PHÁP

(Thí thực cô hồn I)

Trước cửa Phật lập đàn phổ thí,

Cho trọn đều quân lợi âm dương,

Quang minh tỏ khắp mười phương,

Kính dâng một nén tâm hương ngạt ngào.

Cơn mưa tuệ dồi dào tưới khắp,

Bóng mây từ che rợp mọi nơi,

Lọt đâu dưới đất trên trời,

Từ bi tế độ muôn đời viên thông.

Trên đức Phật rất công rất chính,

Dạy cho đời luyện tính tu tâm,

Thương người đọa kiếp tối tăm,

Giáo Hội chỉ dẫn khỏi lầm khỏi mê.

Lòng từ mẫn mọi bề thương hết,

Nay gặp ngày Ðản tiết nên quy,

Trước Ðàn tề chỉnh oai nghi,

Tuyên dương để chứng quy y thực hành.

Hạnh giải thoát chúng sinh khổ não,

Cõi Ta bà sáu đạo loanh quanh,

Âm ty địa ngục đã đành,

Dương gian địa ngục nỗi tình thêm thương.

Nói không xiết trăm đường đày đọa,

Rồi mang tai trát họa vào thân,

Không sao khỏi nghiệp tham sân,

Ăn quanh, ăn quẩn muôn phần thiết tha.

Nào những hạnh ranh ma quỉ quái,

Dối lừa nhau chẳng nghĩ nên chăng?

Bo bo giữ thói ở xằng,

Cái dây oan nghiệt chằng chằng ngày đêm.

Nào những hạng lòng chim dạ thú,

Ghét ghen nhau làm đủ tội tình,

Khư khư quen thói chẳng lành,

Cái vòng cương tỏa loanh quanh buộc vào.

Nào những kẻ yếu đau què quặt,

Phận hẩm hiu trời bắt chịu đày,

Thật là khổ ách không may,

Nào ai có muốn thân này thế đâu!

Nào những kẻ âu sầu lòa lẫm,

Số cưu mang câm điếc phải đành,

Thực là khốn khổ thương tình,

Ý ai chẳng muốn thân mình phong quang?

Vì túc trái ngỡ ngàng sao đó,

Hoặc tiền nhân nghiệp thọ thế nào,

Thực lòng luống những lao đao,

Cửa từ bi nỡ để ngơ sao đành.

Thầy nay dạy thực hành chánh đạo.

Dòng Thiền học Phật giáo chủ trương,

Quang minh quảng đại vô lường,

Ba thừa giáo hóa mọi phương thi hành.

Giữ một mực chí thành tinh tiến,

Dập các duyên hư huyễn hão huyền,

Những môn tà đạo lưu truyền,

Nay quy Phật đạo cấp liền bỏ đi.

Trước Ðàn ngoại lễ nghi các thưùc,

Trên đài sen tỏ đức huyên minh,

Thầy đây lập nguyện chí thành,

Tuyên dương diệu pháp chúng sinh thỏa nguyền.

Hiện nay có chư Thiên hậu thổ,

Cửa từ bi tế độ không cùng,

Ðạo tràng Thiền học lưu thông,

Tu hành chân thật thủy chung một lòng.

Ðàn phổ thí phẩm vật nghi tiết,

Thầy dạy thêm cho biết công duyên,

Những người quỳ trước Phật tiền,

Ðem câu nhân quả phổ truyền rộng ra.

Dặn hết thảy gần xa thiện tín,

Nên thành tâm phát nguyện quy y,

Nương nhờ Tam bảo hộ trì,

Ăn chay niệm Phật mà quy cho tròn.

Xem nhân thế càn khôn che chở,

Nhứt hoàn hương duyên nợ phong trần,

Hỡi ai kết quả tạo nhân,

Xem cơ mầu nhiệm muôn phần không xa.

Muốn xét lại cho hay nghiệp trước,

Hiện thọ đây thấy được tỏ tường,

Muốn mong kiếp nữa vẻ vang,

Sự hành trì phải sửa sang tự giờ.

Nhân mấy quả trong cơ chuyển hóa,

Nhân có đầy thì quả mới nên,

Thầy nay chỉ dẫn căn nguyên,

Cõi dương gian đó hiển nhiên rõ ràng.

Ơn đức Phật lời vàng khuyên nhủ,

Dạy chúng sinh tín thụ cho hay,

Phúc thời vui vẻ như đây,

Họa thời khổ não đọa đầy như trên.

Nam Mô Sinh Tịnh Ðộ Bồ-tát Ma ha tát.

-Trích Kinh Nhật Tụng, chùa Hoằng Pháp xb, Sàigòn, 1971

SÁM TRIỆU CÔ HỒN – THÍCH CA TỰ

(Thí thực cô hồn 2)

Hỡi linh hồn trước sau tề tựu,

Nghe lời khuyên để rũ tội mình,

Quan Âm Ðịa Tạng oai linh,

Thích Ca Phật Tổ câu kinh giải nàn.

Hỡi uổng tử hồn oan phưởng phất!

Noi tâm lành của Phật làm gương,

Diêm La cực khổ trăm đường,

Mau tu thì đặng Tây phương thâu về.

Hỡi linh hồn chết chìm đáy biển,

Và bao người độc dược bỏ thân!

Tiếng chuông tỉnh thức dần dần,

Ðừng ham cõi tục trầm luân luân hồi.

Hỡi các hồn chết thiêu chết chém,

Hổ giảo thân bị yểm bị trù!

Kíp tìm kinh kệ sớm tu,

Khỏi vòng xích sắt tội tù nghiệp oan.

Hỡi hồn thác trong cơn binh lửa,

Chết phong ba chết giữa núi non!

Nếu nghe chuông dục bon bon,

Mùi hương tỏa khắp hồn còn nghe kinh.

Hỡi hồn ơi! Vì tình chư Phật,

Ta khuyên hồn đất Phật là nơi,

Các hồn sẽ đặng thảnh thơi,

Hưởng mùi hương Phật suốt đời đặng an.

Hỡi hồn đã lỡ làng trót dại,

Theo đàng taø quỉ quái yêu tinh,

Nay đây khẩn nguyện chân kinh,

Khuyên hồn phải rán sửa mình cho tinh.

Hỡi hồn ở đầu ghềnh cuối bãi,

Nương gió mây thừa thải từ xưa!

Hồn ơi! Hồn hỡi! Tránh chừa,

Những người gian ác dối lừa Phật tiên.

Hỡi hồn tỉnh trông đèn Phật Tổ,

Ngài ra ơn gột khổ sanh linh.

Hỡi hồn bị bịnh bỏ mình,

Và hồn dậy phá chân kinh loạn trần.

Nghe ta kinh kệ giải phân,

Cầu cho hồn đặng muôn phần yên vui.

Hỡi hồn ơi! Muốn vui muốn sướng,

Ta khuyên hồn đừng tưởng tà tâm,

Mùi hương lư ngọc bổng trầm

Khéo tu hồn sẽ an tâm giữa trời.

Các hồn bị cá xơi, rắn cắn,

Cùng những hồn số vắn vô danh,

Hãy nghe kinh kệ ăn năn,

Rồi đây hồn sẽ vô ngần thảnh thơi.

Hỡi những hồn vì lời gièm xiểm,

Nên hủy mình chết lụn căm gan,

Sớm nghe kinh, chiều sẽ an nhàn,

Phật kia dẫn lối chỉ đàng hồn tu.

Nam mô độ hộ muôn hồn,

Vì hồn trót dại quáng mù từ xưa.

Kinh là phước, cầu đưa tội lỗi,

Tu là lành, sám hối ngàn năm.

Lạy cầu chư Phật từ tâm,

Khẩn van Bồ-tát giáng lâm cứu hồn.

Tiếng chuông ngân hương thơm giải thoát.

Nước nhành dương rảy mát xác phàm,

Hỡi hồn cư ngụ muôn am!

Về đây hưởng thực cầu van sửa mình.

Nam Mô Bộ Ðộ Ðế Rị Già Rị Ða Rị Ðát Ða

Nga Ða Gia (3 lần)

-Trích Tam Bảo Tôn Kinh, Thích Ca Tự xb, Sàigòn, 1974

-Bài dùng để cúng thí thực cô hồn trong các buổi lễ.

SÁM VĂN CHIÊU HỒN CA – NGUYỄN DU

(Thí thực cô hồn 3)

NGUYỄN DU

Tiết tháng bảy mưa dầm sùi sụt,

Toát hơi may lạnh ngắt xương khô;

Não người thay buổi chiều thu!

Ngàn lau khóm bạc, lá ngô dòng vàng,

Ðường bạch dương bóng chiều man mát,

Ngọn đường lê lác đác mưa sa,

Lòng nào lòng chẳng thiết tha?

Cõi dương còn thế huống là cõi âm.

Trong trường dạ tối tăm trời đất,

Xót khôn thiêng phảng phất u minh!

Thương thay thập loại chúng sinh,

Phách đơn, hồn chiếc, lênh đênh quê người.

Hương khói đã không nơi nương tựa,

Phận mồ côi lần lữa đêm đêm;

Còn chi ai khá ai hèn,

Còn chi mà nói kẻ hiền người ngu!

Tiết đầu thu dựng Ðàn giải thoát,

Nước tịnh bình rưới hạt dương chi.

Muôn nhờ Phật lực từ bi,

Giải oan cứu khổ hồn về Tây phương.

Nào những kẻ tính đường kiêu hãnh,

Chí những lăm cướp gánh non sông;

Nói chi đương thuở thị hùng,

Tưởng khi thế khuất vận cùng mà đau!

Bỗng phút đâu mưa bay, ngói lở,

Khôn đem mình làm đứa sất phu;

Giàu sang càng nặng oán thù,

Máu tươi lai láng, xương khô rã rời.

Ðoàn vô tự lạc loài nheo nhóc,

Quỷ không đầu van khóc đêm mưa;

Ðã hay thành bại là cơ,

Mà u hồn biết bao giờ cho tan!

Nào những kẻ màn loan, trướng huệ,

Nhưõng cậy mình cung quế Hằng nga;

Một phen thay đổi sơn hà

Mảnh thân chiếc lá biết là làm sao?

Trên lầu cao dưới dòng nước chảy,

Phận đã đành trâm gãy bình rơi;

Khi sao đông đúc vui cười,

Mà khi nhắm mắt không người nhặt xương!

Thảm thiết nhẽ không hương, không khói,

Hồn ngẩn ngơ dòng suối, ngàn sim;

Thương thay chân yếu tay mềm,

Càng năm càng héo, càng đêm càng rầu.

Nào những kẻ mũ cao áo rộng,

Ngòi bút son thác sống ở đây;

Kinh luân chất một túi đầy,

Ðã đêm Quản, Cát, lại ngày Y, Chu.

Thịnh mãn lắm oán thù càng lắm,

Trăm loài ma mồ nấm chung quanh;

Nghìn vàng không đổi được mình,

Lầu ca, viện xướng, tan tành còn đâu?

Kẻ thân thích vắng sau vắng trước,

Biết lấy ai bát nước nén nhang?

Cô hồn thất thểu dọc ngang,

Mạng oan khôn nhẽ tìm đường hóa sinh.

Nào những kẻ bày binh bố trận,

Ðem mình vào cướp ấn Nguyên nhung.

Gió mưa sấm sét đùng đùng,

Rải thây trăm họ, làm công một người.

Khi thất thế cung rơi, tên lạc,

Bãi sa trường, thịt nát máu rơi;

Bơ vơ góc biển chân trời,

Nắm xương vô chủ biết vùi nơi nao?

Trời thăm thẳm mưa gào gió thét,

Khí âm huyền mờ mịt trước sau;

Ngàn cây nội cỏ rầu rầu,

Naøo đâu điếu tế nào đâu chưng thường?

Cũng có kẻ tính đường trí phú,

Làm tội mình nhịn ngủ bớt ăn;

Ruột rà không kẻ chí thân,

Dẫu làm nên nữa dành phần cho ai?

Khi nằm xuống không người nhắn nhủ,

Của phù vân dù có như không;

Sống thời tiền chảy bạc ròng,

Thác không đem được một đồng nào đi.

Khóc ma mướn thương gì hàng xóm,

Hòm gỗ đa, bó đóm đưa đêm;

Ngẩn ngơ nội lộc đồng chiêm,

Tàn hương, giọt nước, biết tìm vào đâu?

Cũng có kẻ rắp caàu chữ quí,

Dấn mình vào thành thị lân la;

Mấy thu lìa cửa, lìa nhà,

Văn chương đã chắc đâu mà chí thân?

Dọc hàng quán phải tuần mưa nắng,

Vợ con nào nuôi nấng khem kiêng?

Vội vàng liệm sấp chôn nghiêng,

Anh em thieân hạ láng giềng người dưng.

Bóng phần tử xa chừng hương khúc,

Bãi tha ma kẻ dọc người ngang;

Cô hồn nhờ gởi tha hương,

Gió trăng hiu hắt, lửa hương lạnh lùng.

Cũng có kẻ vào sông ra bể,

Cánh buồm mây chạy xế gió đông;

Gặp cơn giông tố giữa dòng,

Ðem thân chôn giấp vào lòng kình nghê.

Cũng có kẻ đi về buôn bán,

Ðòn gánh tra chín dạn hai vai;

Gặp cơn mưa nắng giữa trời,

Hồn đường phách sá lạc loài nơi nao?

Cũng có kẻ mắc vào khóa lính,

Bỏ cửa nhà gồng gánh việc quan;

Nước khe cơm vắt gian nan,

Dãi dầu nghìn dặm, lầm than một đời.

Buổi chiến trận mạng người như rác,

Phận đã đành đạn lạc tên rơi;

Lập lòe ngọn lửa ma chơi,

Tiếng oan văng vẳng tối trời càng thương.

Cũng có kẻ nhỡ nhàng một kiếp,

Liều tuổi xanh buôn nguyệt bán hoa;

Ngẩn ngơ khi trở về già,

Ai chồng con tá biết mà cậy ai?

Sống đã chịu một đời phiền não,

Thác lại nhờ hớp cháo lá đa;

Ðau đớn thay phận đàn bà,

Kiếp sinh ra thế biết là tại đâu?

Cũng có kẻ nằm cầu gối đất,

Rồi tháng ngày hành khất ngược xuôi;

Thương thay cũng một kiếp người,

Sống nhờ hàng xứ, chết vùi đường quan.

Cũng có kẻ mắc đoàn tù rạc,

Gởi mình vào chiếu rách một manh;

Nấm xương chôn rấp góc thành,

Kiếp nào cởi được oan tình ấy đi.

Kìa những đứa tiểu nhi tấm bé,

Lỗi giờ sinh lìa mẹ lìa cha;

Lấy ai bồng bế xót xa.

U ơ tiếng khóc, thiết tha nỗi lòng.

Kìa những kẻ chìm sông lạc suối,

Cũng có người sẩy cỗi sa cây;

Có người gieo giếng thắt dây,

Ngược trôi nước lũ, kẻ lây lửa thành,

Người thì mắc sơn tinh thủy quái,

Người thì sa nanh sói ngà voi;

Có người hay đẻ không nuôi,

Có người sa sẩy, có người khốn thương.

Gặp phải lúc đi đường nhỡ bước,

Cầu Nại hà kẻ trước người sau;

Mỗi người một kiếp khác nhau,

Hồn xiêu phách lạc biết đâu bây giờ?

Hoặc là ẩn ngang bờ, dọc bụi,

Hoặc là nương ngọn suối chân mây;

Hoặc là điếm cỏ bóng cây,

Hoặc là quán nọ, cầu này bơ vơ.

Hoặc là nương thần từ Phật tự,

Hoặc là nhờ đầu chợ, cuối sông;

Hoặc là trong quảng đồng không,

Hoặc nơi gò đống, hoặc vùng lau tre.

Sống đã chịu mọi bề thảm thiết,

Ruột héo khô, dạ rét căm căm;

Dãi dầu trong mấy mươi năm,

Thở than dưới đất, ăn nằm trên sương;

Nghe gà gáy tìm đường lánh ẩn,

Lặn mặt trời lẩn thẩn tìm ra;

Lôi thôi bồng trẻ dắt già,

Có khôn thiêng nhẽ! Lại mà nghe kinh.

Nhờ pháp Phật siêu sinh Tịnh độ,

Bóng hào quang cứu khổ độ ưu;

Rắp hòa tứ hải quần chu,

Não phiền trút sạch, oán thù rửa không.

Nhờ đức Phật thần thông quảng đại,

Chuyển pháp luân tam giới thập phương,

Nhởn nhơ Tiêu Diện đại vương,

Linh kỳ một lá dẫn đường độ sinh.

Nhờ Phật lực uy linh dũng mãnh,

Trong giấc mê khuya tỉnh chiêm bao;

Mười loài là những loài nào,

Gái trai, già trẻ đều vào nghe kinh.

Kiếp phù sinh như bào như ảnh,

Có chữ rằng: vạn cảnh giai không;

Ai ơi lấy Phật làm lòng,

Tự nhiên siêu thoát khỏi trong luân hồi.

Ðàn chẩn tế vâng lời Phật giáo,

Của có chi bát nước nén nhang;

Gọi là manh áo thoi vàng,

Giúp cho làm của ăn đường thăng thiên.

Ai đến đấy dưới trên ngồi lại,

Của làm duyên chớ ngại bao nhiêu:

Phép thiêng biến ít thành nhiều,

Trên nhờ Tôn giả chia đều chúng sinh.

Phật hữu tình từ bi phổ độ,

Chớ ngại rằng có có không không;

Nam mô Phật, Nam mô Pháp, Nam mô Tăng,

Nam mô nhất thiết siêu thăng thượng đài.

-Trích Tập san Hoằng Pháp số 2, Tổng Vụ Hoằng Pháp xb. Sàigòn, 1973

VĂN TẾ CÔ HỒN – TRA AM VIÊN THÀNH

(Thí thực cô hồn 4)

TRA AM VIÊN THÀNH

Tượng nghe đại địa sơn hà,

Luống trong sinh tử cửa nhà vốn không.

Cô hồn hoạnh tử yểu vong,

Nương thuyền Bát nhã thoát vòng mê luân.

Trên thì tướng tướng, vương công,

Dưới thì công, cổ, sĩ, nông chư vì.

Gái trai những kẻ tôn ti,

Hoặc là tử trận, có khi oan tình.

Hoặc là vương pháp gia hình,

Uống trúng độc dược hại mình tự nhiên.

Sa cơ sống gió chìm thuyền,

Lỡ làng lời hẹn, cưu phiền mang chung.

Xà thương hổ đả hải hùng,

Huyết hồ sản nạn(1) phút trông sẩy rồi!

Hoặc là mắc phải thiên lôi,

Vong thân chú trớ bồi hồi mạng chung.

Hoặc là đường sá lỡ làng,

Mắc phải dịch lệ ôn hoàng chẳng dung.

Hà sa phẩm loại khôn cùng,

Lòng thành tín chủ mời chung các loài.

Từ rằng theo bóng Như lai,

Ðã không cứu vớt lấy ai nương nhờ.

Từ đường đâu có phụng thờ,

Cô đơn độc lập, bơ phờ cỏ cây.

Thảm thương mặt nước cung mây,

Rả rời xương thịt, hồn bay lạc loài.

Chẳng hay thử vãng hàn lai,

Bốn mùa cốt nhục không ai kiếm tìm.

Thân bằng ít kẻ tri âm,

Lấy ai cứu vớt mà hòng thoát ly!

Thảm thương về chốn thổ ty,

Luôn trong diểu diểu lấy gì mà ra!

Nương nhờ tín chủ toàn gia,

Thọ tài hưởng thực mà qua Liên trì.

Từ rằng vâng phép từ bi,

Siêu phàm nhập thánh liễu kỳ oan thân.

Sớm khuya cửa Phật ân cần.

Phù trì gia chủ thừa ân những ngày.

Ðừng còn theo thói mê say,

Tham lam quyết đoạn, từ rày lánh xa.

Nam mô đức Phật Di Ðà,

Phóng quang tiếp dẫn hà sa cô hồn.

Trước triệu thỉnh lủy triều đế chủ,

Trên ngai vàng trải nối hầu vương.

Chín tầng điện các đài gương,

Nước non muôn dặm, mười phương cầm quyền.

Nghìn năm vương khí danh truyền.

Xe loan để tiếng oán phiền chưa thôi!

Tiếng quyên kêu nguyệt bồi hồi,

Gành đầu huyết nhiễm, hận thôi chín trường.

Tiền vương hậu bá khôn lường,

Nghe lời triệu thỉnh đáo đường lai lâm.

Lại thỉnh kẻ Ngũ lăng tài tuấn,

Ðấng hiền lương trí dũng khôn ngoan.

Giá trong tieát trắng làm quan,

Một lòng báo quốc nên trang đan thành.

Nam châu bắc huyện thơm danh,

Theo nơi tang thác bỏ đành quê hương.

Thiên nhai hải giác khôn lường,

Sa cơ tạo hóa theo đường Bồng lai.

Than ôi! Những đấng anh tài,

Theo dòng thệ thủy cách đài dương quan.

Lại thỉnh kẻ đăng đàn bái tướng,

Chức phong hầu đứng trước muôn dân.

Sức dời bảo đỉnh nghìn cân,

Trường thành muôn dặm vinh thân tháng ngày.

Trước hùm sương nhiễm, ghê thay!

Sa cơ một phút đổi thay công hầu.

Thương ôi người ngựa ở đâu,

Xui nên họa cả thảm sầu khôn dung.

Xiết bao tướng súy anh hùng,

Lánh nơi vinh hiển theo cùng âm ty.

Những người sa trụy bất kỳ,

Nghe lời triệu thỉnh đồng thì đến đây.

Lại thỉnh kẻ văn nhân tài tử,

Chốn thư phòng cửa Khổng vào ra,

Bút nghiên kinh sử ngâm nga,

Văn chương tu luyện đợi khoa nương mình.

Mơ màng lấp lóa đèn huỳnh,

Công phu khổ dụng đăng trình gặp khi.

Mười năm tân khổ mong thi,

Naøo hay một phút xa kỳ công danh!

Hồng lô tính tự rành rành,

Ðất vàng một nấm lấp thành văn chương.

Văn nhân tài tử không lường,

Nghe lời triệu thỉnh đáo đường lai lâm.

Lại thỉnh kẻ xuất trần thượng sĩ,

Nương rừng Thiền lánh chỗ phàm phu.

Cao Tăng quyết chí tinh tu,

Trăm năm giới luật công phu dùi mài.

Giữ gìn phạm hạnh hôm mai,

Tỳ-kheo Ni chúng khác người thế gian.

Hoàng hoa, thủy trúc luận bàn,

Không đàm bí mật nên mang thế tình.

Bóng đèn lấp lóa hư minh,

Than ôi! Một phút dứt tình Thiền lâm.

Nghe lời Bát nhã, Phạm âm,

Truy y Thích tử lại lâm đáo đàn.

Lại thỉnh kẻ hoàng quan dã cảnh,

Chốn Bồng lai sớm luyện đan tiên.

Nương theo thạch động đào nguyên,

Tu tâm luyện tính chu truyền thảnh thơi.

Danh thơm chưa nức trong đời.

Vô thường khi đã đổi dời công phu.

Thương ôi! Sương tuyết dãi dầu,

Tiêu điều gió thảm hoa sầu hơi sương.

Huyền môn đạo sĩ khôn lường,

Nghe lời triệu thỉnh đáo đường lai lâm.

Lại thỉnh kẻ nhung y chiến sĩ,

Với những kẻ lâm trận kiện nhi.

Cầm bạch tiết, vác hồng kỳ,

Tức gan quyết chí trận kỳ hơn thua.

Trung thành hết sức phò vua,

Nào hay một phút xa đưa dặm trường.

Thương ôi! Huyết lụy sa trường,

Thà ôm xương trắng để đường cho ai!

Trận vong binh sĩ an tài,

Nghe lời triệu thỉnh đáo đài lai lâm.

Lại thỉnh kẻ cung phi mỹ nữ,

Chốn lâu đài khuê các vào ra.

Ướp xông hương xạ diềm dà,

Phấn thoa sáp đánh màu da khác người.

Mặt hoa mày liễu tốt tươi,

Hình dung yểu điệu, miệng cười như hoa,

Hồn tiên kim ốc vào ra,

Hoa tàn nguyệt khuyết phút đà thấy đâu!

Thương ôi! Ngọn gió thổi sầu,

Ðống xương khô héo dãi dầu cỏ sương.

Quần thoa phụ nữ khôn lường,

Nghe lời triệu thỉnh đáo đường lai lâm.

Lại thỉnh kẻ giang hồ kỵ lữ,

Trải tháng ngày mua bán tranh đua.

Ðổi dời lừa tráo hơn thua,

Ðào công nối nghiệp bán mua so lường.

Chẳng ngờ nổi trận phong sương,

Mình vào ngư phúc dương trường, khốn thay!

Hồn dời bể bắc dặm dài,

Phách về đông hải ngàn ngày thảnh thơi.

Tha hương lữ khách lỡ thời,

Nghe lời triệu thỉnh lại nơi Pháp đàn.

Lại thỉnh kẻ hoài thai thập nguyệt,

Chịu đắng cay tọa thảo tam triêu;

Bằng khi loan phụng hòa yêu,

Hùng bi hiệp mộng xiết bao tháng ngày.

Gái trai còn hãy chưa hay,

Ðêm trường mẫu tử, phút này giai quy.

Thương ôi! Hoa nở chính kỳ,

Nào hay một phút gặp khi mưa dầm.

Huyết hồ sản nạn lỗi lầm,

Nghe lời triệu thỉnh lai lâm pháp đàn.

Lại thỉnh kẻ nhung di man địch,

Tiếng chẳng thuần ngọng lịu như câm.

Lại còn trong dạ hiểm thâm,

Cưu điều hung dữ lưu tâm hại người.

Khinh khi Tam bảo chê cười,

Tội khiên chất để bằng mười hà sa.

Ngổ ngang mắng mẹ khinh cha,

Ác cao như núi chết mà không tha.

Chẳng may hồn phách la đà,

Mịt mờ vũ trụ bao là đớn đau!

Thương ôi! Ẩn ẩn phương nào,

Ngày xuân chẳng thấy ra vào u quan!

Hỡi người bội nghịch si ngoan,

Nghe lời triệu thỉnh lai quang pháp đàn.

Lại thỉnh kẻ cơ hàn cái giả,

Bị lao tù mắc phải gia hình.

Gặp cơn thủy hỏa bất bình,

Một đời bỗng chốc vô tình mệnh vong.

Nghìn năm oan khí chưa xong,

Linh hồn nhất điểm nhạn mong mơ màng.

Trời xanh tiếng hạc rộn ràng,

Gió lay hoa rụng lỡ làng, thương thay!

Mấy người hoạnh tử xưa nay,

Nghe lời triệu thỉnh đến ngay pháp đàn.

-Trích Tra Am và Sư Viên Thành, Nguyễn Văn Thoa, Tra Am ấn hành. Nha Trang, 1972

1 Câu này thỉnh kẻ cô hồn hoạnh tử khi lâm sản hoạc bị sẩy thai, sút thai.

SÁM VĂN THÍ THỰC HỒI HƯỚNG – CHÙA NIỆM PHẬT BÌNH DƯƠNG

(Thí thực cô hồn số 5)

Sắm sanh ẩm thực đủ đầy

Gọi hồn về hưởng an bày đủ đông

Tiệc chay cúng thí vừa xong

Canh gà văng vẳng giọt rồng thậm thâm

Trước đàn ngưỡng vọng thiền âm

Bình hoa lợt bóng, đỉnh trầm phai hương

Cam lồ rưới khắp mười phương

Ao sen nay đã tỏ tường sang chơi

Cô hồn ơi ! Chiến sĩ ơi !

Mau mau nhẹ bước tách dời Tây thiên

Từ rày bá tánh bình yên

Phước lành để lại trong miền nhân gian

Tuổi đời lộc nước chứa chan

Gót lân nổi dấu, cầm loan in dần

Nghinh ngang cõi thọ đài xuân

Dấu ma lẳng bặt châu trần tiêu diêu

Vinh hoa phú quí đủ điều

Tu hành đạo đức thương yêu giống nòi

Ngày ngày niệm Phật hẳn hòi

Ðèn từ đuốc huệ sáng soi cõi lòng

Ðến khi trăm tuổi mạng chung

Ðược về cõi Phật thoát vòng tử sanh

A Di Ðà Phật phóng quang

Nguy nguy kim tướng muôn ngàn ảnh trung

Khổ đau biển cả chập chùng

Hãy mau niệm Phật mà cùng bước lên

Ðài sen hoa nở vãng sanh

Bạn cùng Bồ Tát chung quanh vui đùa

Từ đây bỏ việc hơn thua

Nương nhờ tự lực cửa chùa quy y.

Nam Mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Tiếp Dẫn Ðạo Sư A Di Ðà Phật.

– Trích soạn lại theo “Pháp Thí Thực Khoa Nghi” – chùa Niệm Phật Bình Dương ấn hành 1974.

VĂN TẾ CÔ HỒN

(Thí thực cô hồn số 6)

Hỡi ôi !

Miền U cảnh lạnh lùng tăm tối,

Chốn Huỳnh tuyền nhiều lối nhọc nhằn.

Ẩn dạ đài đợi dứt kiếp căn,

Cõi Tịnh độ siêu thăng chưa được.

Ấy bởi tội lỗi gây kiếp trước,

Nhiều nghiệt oan, ít phước đức công.

Nên phải mang phiền não dập dồn,

Chịu thống khổ, phách hồn xiêu lạc.

Cầu chư Phật oai thần tế bạt,

Lên Thiên đàng, siêu thoát trần ai.

Nay trai diên đạm bạc kỉnh bày,

Xin chư vị tề lai thọ hưởng.

Giúp lê thứ quốc gia thạnh vọng,

Hộ đạo tràng tăng trưởng cơ duyên,

Ðộ mười phương sanh chúng bình yên,

Cùng thí chủ diên niên hạnh phúc.

Lụy trào đế hầu vương đáng kính,

Vận nước vong khó tính mưu thành.

Xưa cửu trùng điện các liệt oanh,

Rủi một phút tan tành cơ nghiệp.

Chư tướng soái binh cơ quyền nhiếp,

Chốn chiến trường nhiều dịp tận trung.

Vì sa cơ hồn xuống Diêm cung,

Nơi dương thế âm dung đà khuất.

Tài bút nghiên văn thần báo quốc,

Tấm lòng son công chất nhà vàng.

Nào hay đâu dị lộ tìm đàng,

Rồi một thuở danh vang tể tướng.

Nhà cơ cẩn thấy trời bốn hướng,

Lo bút nghiên vụ tưởng công danh.

Mười năm ngồi cửa sổ lạnh tanh,

Ba thước đất vùi danh tài tử.

Nhàm cuộc thế lánh thân am tự,

Nương Phật đường gắng giữ kệ kinh.

Ðèn tắt khuya Thiền thất hư minh,

Hồn theo gió đăng trình âm cảnh.

Thảm cho đấng tu chơn dưỡng tánh,

Chốn lâm tòng đói lạnh không màng.

Lòng dốc trông nhập đặng Tiên bang,

Chí chưa toại tầm đàng Ðịa phủ.

Những sĩ tốt tùng chinh đội ngũ,

Tại trận tiền củ củ oai hùng.

Chịu tuyết sương mưa nắng lạnh lùng,

Lằn tên đạn không dung tánh mạng.

Lo đồ lợi thương hồ buôn bán,

Nương thủy triều ngày tháng kinh thương.

Sóng ba đào phong võ khó lường,

Thân trôi nổi gởi xương bụng cá.

Mười tháng chẵn mang con trong dạ,

Lúc lầm bồn mạng đã tìm Tiên.

Thị huyết hồ nạn sản chi khiên,

Hoa mới nở vội liền mưa gió.

Tánh ngỗ nghịch hiếu trung chẳng có,

Công sanh thành chưa rõ cao dày.

Hoặc huyền lương độc dược ra tay,

Bị lôi chấn đọa đày ngục thất.

Người bóng quáng thêm mang bịnh tật,

Thác giữa đàng không đất gởi thây.

Hồn dật dờ theo gió theo mây,

Thành Uổng tử đêm ngày đói lạnh.

Người nghèo khó đốn cây non lãnh,

Chịu nhọc nhằn khổ hạnh cơ hàn.

Bị độc trùng ác thú hổ lang,

Hoặc hỏa thán tầm phong dị lộ.

Người lương thiện tao phùng tật đố,

Bị ngọt ngon dụ dỗ hại thầm.

Oan hồn tìm đến chốn u thâm,

Còn mắc phải gian cầm gìn giữ.

Gái khuê các giai nhơn mỹ nữ,

Chẳng trọn tình cư xử nợ khiên.

Xưa hương xông phấn ướp phấn duyên,

Nay đến chốn Huỳnh tuyền sở ỷ.

Kẻ tù tội mắc vòng lao lý,

Chúng tôi đoài nô tỷ khổ thân.

Thêm phạt hành độc thủ bất nhân,

Hồn lìa cách dương trần rất thảm.

Bị hỏa hoạn tâm hồn mê ám,

Lúc kinh hoàng khổ thảm biết bao !

Tìm đường ra khỏi ngọn lửa cao,

Rủi một phút thân thiêu tro bụi.

Cơn thủy nạn hoảng kinh bối rối,

Họa lụt tràn trôi nổi cửa nhà.

Mạng số suy, thần tử chẳng tha,

Theo dòng nước hồn ma vĩnh biệt.

Khi bão tố đá cây ngã liệt,

Sập cửa nhà đè chết nào hay.

Hồn dật dờ theo cảnh gió mây,

Chịu đau đớn đọa đày nẻo tối.

Cuộc tang thương tuần hoàn thay đổi,

Chấn động miền non núi đất liền.

Bị lấp chôn hồn phách đảo điên,

Chịu muôn nỗi não phiền đau đớn.

Bị xe cán nát thây rùng rợn,

Vận kiếp xui họa lớn nào hay.

Bà con trông than khóc thảm thay,

Cơn hoảng hốt hồn lai uổng tử.

Vì ái dục si tình tự tử,

Cơn đắm mê nào sợ tội mang.

Gieo mình nơi biển nghiệp sông oan,

Hồn phách chịu muôn vàn lạnh lẽo.

Ít phước đức họa tai lôi kéo,

Ðời lao công nhiều nẻo hiểm nguy,

Trên giàn cao ngã té bất kỳ,

Thân tan nát hồn phi phách tán.

Nơi chiến địa lâm cơn tạc đạn,

Thi hài tiêu tứ tán khó nhìn.

Thảm thương cho hồn phách linh đinh,

Miền âm cảnh muôn nghìn khổ não.

Người lương thiện chết oan điên đảo,

Vì đạn tên lạc náo xóm làng.

Oan hồn cam vào chốn nguy nan,

Chịu u ám, xa đàng giải thoát.

Bị khổ bức vì tình đen bạc,

Tự hủy mình cam chác nghiệp sâu.

Mũi đạn xuyên, muôn kiếp khổ sầu,

Hồn phưởng phất biết đâu nương dựa !

Bị cướp giặc lòng tham hung dữ,

Ðoạt của rồi giết chủ thác oan.

Hồn dật dờ thảm khổ muôn đàng,

Kết thù oán khôn toan siêu độ.

Ðời mạc kiếp loạn ly tội lỗi,

Bị hiếp dâm đến nỗi bỏ mình.

Phách hồn oan lạc lối u minh.

Lòng khổ bức muôn nghìn oán hận.

Ðời giặc giã nghịch thù vô tận,

Chôn sống người giữa đám đồng hoang.

Tiếng khóc la oán khí đầy tràn,

Trong giây phút dương gian cách biệt.

Giặc bất lương giết người chẳng tiếc,

Trói lương dân thù ghét quăng sông.

Lặn hụp nơi nước cuốn giữa dòng,

Thân trôi nổi, oan hồn thơ thẩn.

Bị oán chạ chém đâm tàn nhẫn,

Hoặc thù hiềm giết lẫn mạng vong.

Hồn phất phơ nơi chốn long đong,

Biết bao thuở thoát vòng khổ não.

Xe lật đổ, đụng nhau táo bạo,

Chết giữa đàng khôn bảo toàn thi.

Thây nằm phơi, hồn đã biệt ly,

Bà con thấy, ai bi thống thiết !

Người tắm biển tắm sông biệt tích,

Kẻ lội chìm, tê liệt tay chân.

Cơn rủi ro dòng nước gởi thây,

Hồn lạnh lẽo tháng ngày thảm khổ.

Trong cơ xưởng nhơn công phục vụ,

Bị máy lôi vào chỗ hiểm nguy.

Hoặc điện hơi giựt ngã cấp kỳ,

Rủi một phút hồn phi phách tán.

Còn nhiều loại hồn oan ta thán,

Nơi suối vàng thê thảm ngậm ngùi,

Các hồn chưa mãn kiếp Phong đô,

Ðương xiêu lạc khắp nơi khổ não.

Lời thiển bạc nay đà trần tố,

Thương xót thay nỗi khổ các vì.

Hồn linh thiêng hiển hích chứng tri,

Xin sám hối tiền phi hậu quá.

Xét tội lỗi oan khiên vay trả,

Giác ngộ tua diệt cả ác duyên,

Ý tịnh thanh dứt sạch não phiền,

Giữ ba nghiệp vẹn tuyền trong sạch.

Quy y Phật tịnh yên hồn phách,

Nhẫn tâm tồn, giải sạch cừu oan.

Phật dạy rằng tạo tội, tội mang,

Luật nhân quả rõ ràng khó tránh.

Muốn giải thoát, noi gương Phật Thánh,

Chưởng Bồ đề, xa lánh tội căn.

Nguyện Từ Tôn Tam Bảo mười phang,

Ðộ chư vị thoát đàng khổ não.

Dẫn Hồn Vương lòng thương khuyên bảo,

Thập Ðiện đồng mở đạo Từ bi.

Giảm phạt hành, ân huệ bố thi,

Ðức Ðịa Tạng đại bi cứu rỗi.

Linh hồn đặng xa nơi ngục tối,

Vãng sinh miền Tịnh Ðộ thảnh thơi.

Hết lòng thương nay tỏ mấy lời,

Xin chư vị khắp nơi chứng chiếu.

Nam mô A Di Ðà Phật.

VĂN TẾ CHƯ CHIẾN SĨ TRẬN VONG – CHƯ LƯƠNG DÂN TỬ NẠN

(Thí thực cô hồn số 7)

Hỡi chư chiến sĩ trận vong !

Hỡi chư lương dân tử nạn !

Nhơn sanh tự cổ thùy vô tử,

Lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh.

Người sanh trên thế ai không chết,

Ðể tấm lòng son rạng sử xanh.

Ngọc tuy nát vẫn còn trong sạch,

Tre cháy tiêu, mắt nọ cũng còn.

Chí trung cang nghĩa khí sắc son,

Gương Thánh Ðế nay còn nêu đó !

Nợ nước non ai ai cũng có,

Phận công dân giao phó phải mang.

Hễ đứng làm nghĩa sĩ anh trang,

Phải đáng bực trung thần liệt nữ.

Chí Quang Trung đâu màng sanh tử,

Chuyện Trưng Vương thanh sử còn ghi.

Nay tuy là u hiển biệt ly,

Lòng tưởng nhớ các vì tha thiết,

Tưởng là tưởng đức dày oanh liệt,

Chốn chiến trường sương tuyết hy sinh.

Nhưng chẳng may vì nước bỏ mình,

Ấy cũng bởi trọn gìn trung đạo.

Thôi nợ nước nay đà tận báo,

Xin hồi đầu chánh đạo tu thân.

Nương cửa thiền phủi sạch trược trần,

Sớm kinh kệ chiều lần chuỗi hột,

Lấy cam lộ nhành dương nước Phật,

Rửa cừu oan diệt tất não phiền.

Khá nguyện về Cực lạc Tây thiên,

Mà an dưỡng thiêng liêng Bổn giác

Sen chín phẩm nở ra trước mắt,

Hết tử sanh quả Phật thấy liền.

Hỡi các vì hồn có linh thiên,

Nơi chín suối khá liền sám hối,

Cầu Trời Phật xá tha tội lỗi,

Dắt dìu ra khỏi lối u minh.

Một lòng thiềng Phật Pháp trọn gìn,

Hộ thí chủ khương ninh phước thọ.

Giúp lê thứ, trợ an quốc tộ,

Lập đức công báo bổ tứ ân,

Lời thiết tha đạo đức phân trần,

Xin liệt vị hiển linh chứng chiếu.

Nam Mô A Di Ðà Phật.

VĂN TẾ CHIẾN SĨ TRẬN VONG – ÐỒNG BÀO TỬ NẠN.

(Thí thực cô hồn số 8)

Hỡi ôi !

Cơn tạo hóa xoay vần khó tránh,

Cuộc trần gian hết thạnh đến suy,

Chúng sanh phải chịu khổ nguy,

Sanh già bịnh tử biệt ly thảm sầu.

Việc may rủi biết đâu chọn lánh,

Nhận làm người mang gánh sự trần,

Tam cang mới nặng muôn cân,

Ngũ thường xử vẹn là phần tu mi.

Lẽ sống thác là tùy số phận,

Nghĩa vụ tròn đâu quản gì thân,

Mình là bổn phận con dâu,

Quốc gia hữu sự báo ân đã đành.

Vì tổ quốc lợi quyền chủng tộc,

Giận quân thù chí dốc tòng quân,

Ra đi dạ luống bâng khuâng,

Màn sương gối tuyết vô chừng gian nan.

Khi lặn suối trèo non vượt bể,

Khi lên truông qua ải xuống đèo,

Ðai cơm, bầu nước, gươm đeo,

Chút thân sống thác do theo số trời.

Ra nhập ngũ thân thời chẳng kể,

Khổ thay vì cha mẹ ở nhà,

Nhớ con thổn thức canh gà,

Thương con dựa cửa trông mà sầu đau.

Khi sớm tối ai vào thăm viếng,

Lúc ốm đau lo chuyện thuốc thang ?

Ðêm ngày giọt lệ chứa chan,

Cầu trời con đặng thoát nàn đao binh.

Chữ trung đặng, mất tình hiếu thảo,

Ðánh liều theo máy tạo vần xoay,

Trước cờ da ngựa bọc thây,

Tiếng kêu cứu nước làm khuây sao đành!

Còn thương hỡi gia đình thảm cảnh,

Vợ cùng con hiu quạnh trước sau,

Con thơ vợ yếu lao nhao,

Lấy ai bảo bọc đói đau cơ hàn ?

Ðêm tủi phận dở dang duyên nợ,

Ngày gượng vui qua đỡ thời gian,

Trông cho chiến thắng khải hoàn,

Dưỡng nuôi con dại hiệp đoàn phu thê.

Nhớ đến cảnh ủ ê tấc dạ,

Cùng anh em chung chạ một nhà,

Xóm làng cô bác ông bà,

Nguyện cầu binh cách hết mà về quê.

Người muốn vậy không hề được vậy,

Bãi trường sa thịt nát máu tơi,

Tên rơi đạn lạc hết đời,

Nắm xương vô chủ lạc nơi chiến trường!

Người nằm chết ngổn ngang bờ bụi,

Dưới hố hầm chân núi cội cây,

Kẻ thời ngọn lửa thiêu thây,

Người thời trôi lấp sông nầy rạch kia.

Ai có phước thi hài chôn lấp,

Kẻ nợ phần phó mặc cá chim,

Hỡi ơi ! Nợ nước trọn niềm,

Ðến ngày chung cuộc xác tìm đâu ra ?

Vợ con với mẹ cha đâu biết,

Chừng hay tin thì việc đã rồi,

Nợ trần phủi sạch ai ôi,

Ghi vào lịch sử muôn đời ngợi khen !

Khen anh dũng xông pha tên đạn,

Liều thân sinh cứu nạn quốc dân,

Sống làm Tướng, thác làm Thần,

Non sông gánh vác tử phần đao binh.

Chùa thỉnh Phật lập đàn chẩn tế,

Tụng cầu siêu cáo lễ Phật trời,

Trận vong chiến sĩ vì đời,

Thoát vòng lục đạo về nơi trai đàn.

Nén hương đốt gội nhuần trước án,

Tế anh linh tỏ rạng danh thơm,

Ít nhiều hoa quả kỉnh đơm,

Gọi là tưởng nhớ người ơn giúp đời.

Dạ thương tiếc anh hùng dũng cảm,

Nguyện vong hồn sinh ký tử qui,

Hồi đầu nương cửa từ bi

Về miền Cực lạc Liên trì hoá sinh.

Chúng tôi đã lòng thành khấn vái,

Phật mười phương quảng đại độ siêu,

Nương đàn chẩn tế tiêu dao,

Chư vong chiến sĩ đồng bào chứng tri.

SÁM VĂN THÍ THỰC HỒI HƯỚNG – CHÙA NIỆM PHẬT BÌNH DƯƠNG

(Thí thực cô hồn số 9)

Sắm sanh ẩm thực đủ đầy

Gọi hồn về hưởng an bày đủ đông

Tiệc chay cúng thí vừa xong

Canh gà văng vẳng giọt rồng thậm thâm

Trước đàn ngưỡng vọng thiền âm

Bình hoa lợt bóng, đỉnh trầm phai hương

Cam lồ rưới khắp mười phương

Ao sen nay đã tỏ tường sang chơi

Cô hồn ơi ! Chiến sĩ ơi !

Mau mau nhẹ bước tách dời Tây thiên

Từ rày bá tánh bình yên

Phước lành để lại trong miền nhân gian

Tuổi đời lộc nước chứa chan

Gót lân nổi dấu, cầm loan in dần

Nghinh ngang cõi thọ đài xuân

Dấu ma lẳng bặt châu trần tiêu diêu

Vinh hoa phú quí đủ điều

Tu hành đạo đức thương yêu giống nòi

Ngày ngày niệm Phật hẳn hòi

Ðèn từ đuốc huệ sáng soi cõi lòng

Ðến khi trăm tuổi mạng chung

Ðược về cõi Phật thoát vòng tử sanh

A Di Ðà Phật phóng quang

Nguy nguy kim tướng muôn ngàn ảnh trung

Khổ đau biển cả chập chùng

Hãy mau niệm Phật mà cùng bước lên

Ðài sen hoa nở vãng sanh

Bạn cùng Bồ Tát chung quanh vui đùa

Từ đây bỏ việc hơn thua

Nương nhờ tự lực cửa chùa quy y.

Nam Mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Tiếp Dẫn Ðạo Sư A Di Ðà Phật.

– Trích soạn lại theo “Pháp Thí Thực Khoa Nghi” – chùa Niệm Phật Bình Dương ấn hành 1974.

VĂN TẾ LIỆT SĨ – CHÙA NIỆM PHẬT BÌNH DƯƠNG

(Thí thực cô hồn 10)

Hỡi chư Liệt sĩ ôi!

Họa đao binh từng đốt nung đất Việt

Nạn xâm lăng đã giày xéo trời Nam

Phận làm trai, đành gánh vác nợ non sông

Người chiến sĩ, phải hy sinh đời oanh liệt

Nhớ những anh hùng xưa!

Vì chánh nghĩa, mất còn nào tiếc

Rửa nhục chung, sống chết đâu màng

Chốn sa tràng, trải mật phơi gan

Nơi chiến địa, nóng sôi nhiệt huyết

Gió đạn, mưa bom ào ạt, xông pha bắn giết

Núi xương, biển máu lăn mình, dày đẫm đau thương

Màn trời chiếu đất, lướt trời nồng, dãi nắng dầm sương

Vó ngựa sa trường, dày gió bụi, mang sao đội nguyệt

Vì nước vì dân, trước cái chết, vươn mình quyết tiến

Thương nòi thương giống, giữa đời trai, nung chí anh hùng

Ðạn nổ súng rền, gió hơi bom,

long trời lở đất, thi gan tiến tiến xung phong .

Cờ phất còi reo, tiếng trống dục,

chật đất tràn đồng, gắng sức đùng đùng tử chiến.

Dưới làn bom, thịt nát xương tan,

Ðành ngã gục không hề khuất tiếc.

Trước mũi súng, ruột tuông máu đổ,

cam lụy mình chẳng khứng phục hàng.

Người chiến sĩ, đền xong nợ nước,

trang sử xanh đánh dấu hiên ngang.

Ðấng anh hùng, rửa sạch nhục chung,

đài liệt sĩ nêu gương trung liệt.

Than ôi!

Vì nước quên mình, sống oanh liệt chết càng oanh liệt.

Xả thân báo quốc, sống vinh quang chết cũng vinh quang

Cảm thương người, tai nạn tràn lan

Thương xót kẻ, uổng oan mất tích

Nhờ đức Phật độ về cõi tịnh

Nương tiếng Kinh thoát kiếp đao binh

Nơi dạ đài, người tử si có linh

Nương thể phách, về trai đàn chứng giám

Hỡi ơi! Thương thay!

Có linh xin chứng! Có linh xin chứng!

– Trích soạn “Kinh Nhựt tụng” – Chùa Niệm Phật Bình Dương 1994.

VĂN TẾ CÔ HỒN (II) – CHÙA NIỆM PHẬT BÌNH DƯƠNG

(Thí thực cô hồn 11)

Từng nghe đạo cả, kỉnh thuật lời quê

Cõi nhơn gian thủy lục ê chề

Nỗi hồn phách tử vong ngao ngán

Trên đến bực vương hầu khanh tướng

Dưới đến người sĩ cổ nông công

Nào kẻ ty, nào người tôn

Nào là nam, nào là nữ

Hoặc có kẻ buộc mình trong linh ngữ

Hoặc có người sẩy bước chốn sa tràng

Hoặc sa hầm sa hang

Hoặc trúng thang trúng dược

Ðau ngang, dây buộc, sản nạn, huyết bồn

Hoặc nước bệnh dịch ôn, hoặc suông búa sấm

Phép vua giảo trảm, trù ẻo vong thân, loài ấy rất nhiều

Nhiều đã quá nhiều, dẫu muốn kể, kể sao cho xiết

Kìa nương dựa, mả mồ đà mất biệt,

Nào từ đường, nơi chỗ có chi chi

Bơ vơ bên bụi dưới cây, lài lạc chốn đầu gành cuối biển

Khổ nhiều nỗi gió mưa xao xuyến,

Biết mấy thu lạnh nắng đổi thay

Chẳng bốn mùa nào kẻ lạc trai

Mãn tám tiết vắng người đơm quảy

Rầu rầu rỉ rỉ, cõi u minh biết mấy xuân thu

Mù mù mịch mịch, đường xuất lý m

ảng đợi trông ngày tháng

Hội vô giá may vừa gặp khoản,

Nương theo công bí mật hôm nay

Này hà sa Phật tử là ai, rày gặp lúc tiêu diêu cõi thánh

Nọ lụy thế oan thân mấy kẻ, lại nhờ ơn giải thoát nợ trần

Chiến sĩ ôi! Cô hồn ôi!

Ngôi liên đài quanh quất bên thân

Miền tịnh độ chán chường gần trước mặt

Ngón tay búng chẳng phiền nhọc sức

Ðã chứng vào trong bực vô sanh

Lòng hởi lòng, lòng vốn hư minh

Ấy rõ thấu, ngôi Quan Âm Phật.

Nam Mô Siêu Lạc Ðộ Bồ Tát Ma Ha Tát.

– Trích soạn theo Kinh Nhật Tụng – Bồ Tát Như Nguyện Thích Thiện Huê – Chùa Niệm Phật – Bình Dương 1974.

HỒI HƯỚNG TẾ VĂN – CHÙA NIỆM PHẬT BÌNH DƯƠNG

(Thí thực cô hồn 12)

Kiến văn như huyển ế

Tam giới nhược không hoa

Văn phục, ế căn trừ

Trần tiêu, giác viên tịnh

Phục dĩ,

Nguyên chơn như thanh tịnh

Tội tánh vốn là không

Biển khổ rộng mênh mông

Sóng quanh theo đuổi mãi

Bởi nghiệp cảm chúng sanh mang phải

Khiến trầm luân kiếp nọ chịu đọa đày

Ðịa ngục đà thọ báo đắng cay

Ngạ quỉ lại chuyển sanh đói khát

Ðã chẳng có ngày giải thoát

Ắt là không chỗ đặng siêu thăng

Ví chẳng nhờ từ nguyện đức kim thân

Ðể mở đặng đảo huyền dây ác thú

Chơn thuyên ấy, niệm đôi câu chú

Thí ra trên tiệc cam lồ

Bảo cự kia, thắp một ngọn đèn

Soi khắp trong đường minh giới

Nào những mấy dòng mê cả thảy

Khiến đều về cực lạc phương tây

Buổi đạo tràng nay, khắp thỉnh vào viên thí thực

Ðem công đức ấy, trở về trong núi Thiết vi

Diệm nhiên Ðại sĩ một tay

Thống lãnh cả ba mươi sáu bộ chúng

Ngạ quỉ hằng hà sa số

Vô lượng vô biên xiết kể biết bao

Cúi xin từ kiếp bỏ liền

Cho đến ngày tái thế

Tiêu nghiệp chướng chẳng còn chút để

Rửa tội khiên phút đã sạch rồi

Vạc nóng dầu sôi, biến làm bồn liên trì bát đức

Lò hừng lửa cháy, hóa thành tòa hương cái thất trân

Kìa mũi gươm trần, kiếm thọ hóa ra ngọc thọ

Nọ con dao sắc, đao sơn đổi lại bửu sơn

Khắp nơi bủa chật thiết sàng

Hiện pháp tòa Bồ đề là đó

Với chảo đựng đầy đồng trấp đỏ

Sái đề hồ cam lộ vào đây

Gặp người trái chủ hôm nay

Buổi đó hết đòi hết hỏi

Nhóm kiếp oan gia buổi trước,

Cùng nhau thôi vấn thôi vương

Dạ hưng từ ngục chủ yêu thương

Lòng từ thiện minh quang bảo hộ

Thân phụ mẫu đa sanh kim với cổ

Nay thời nhập Thánh siêu phàm

Nợ nhơn thân lụy thế hết còn

Rày đã thừa ân giải thoát

Cõi thiên thượng ngũ si chẳng hiện

Miền nhơn gian tứ tướng có chi

Tu la đà bỏ cả sân si

Ðịa ngục lại hết điều khổ não

Hồn ngạ quỉ nhộn nhàng sáu đạo

Hứng gió thanh khỏi chốn lửa hồng

Giống làm sanh chật nức mười loài

Lên bờ giác lánh nơi đường tối

Khắp xin cả hữu tình một nỗi

Quốc độ này, quốc độ nọ

Và vô lượng các quốc độ thảy

Cùng nhau chung chứng chơn thường

Lại nguyện cùng hàm thức mấy loài

Thế giới đó, thế giới đây

Và vô lượng các thế giới nào

Buổi đó đều nên Phật đạo

Tứ ân khắp báo

Tam hữu đều nhờ

Người trong pháp giới bao giờ

Ai ai cũng đồng nên chưởng trí.

– Trích soạn “Kinh Nhựt Tụng ” Chùa Niệm Phật – Bình Dương 1974.

SÁM CẦU SIÊU THỦY LỤC VỚT VONG – NIẾT BÀN TỊNH XÁ

(Thí thực cô hồn 13)

Nam mô Từ phụ Di Ðà,

Xin ngài cứu khổ Ta bà trầm luân.

Thương đời bá tánh vạn dân,

Các hồn hoạnh tử cõi trần thác oan.

Thế gian mong được an nhàn,

Khai đàn Thủy lục làm đàn vớt vong.

Chết ao, khe, biển, suối, sông,

Linh đinh trôi nổi số đông quá nhiều.

Gió giông bão tố thủy triều,

Thảm thương thân xác dập dìu nổi trôi.

Hồn phi phách lạc mất rồi,

Cá ăn, sấu nuốt, khổ thôi đủ điều.

Cõi đời sanh tử mơi chiều,

Sống nơi hầm lửa đốt thiêu thân mình.

Lại còn giặc giã đao binh,

Trúng nhằm súng đạn thình lình mạng vong.

Núi rừng đồng rộng biển sông,

Các hồn oan ức nguyện đồng tiêu diêu.

Hôm nay khẩn đảo cầu siêu,

Những hồn chìm đắm thủy triều tai ương.

Sông sâu biển rộng bốn phương,

Sa chơn đắm đuối vấn vương khổ sầu.

Thành tâm lạy Phật khẩn cầu,

Ðộ hồn lên khỏi biển sâu vào bờ.

Linh đinh hồn vía mịt mờ,

Nương nhờ Phật lực kịp giờ cứu an.

Cầu cho hồn đặng nhẹ nhàng,

Thủy Long thần nữ dẫn sang hồn về.

Hồn về cảnh Phật đề huề,

Kíp nghe kinh kệ trầm mê khỏi nàn.

Quan Âm đại sĩ từ hàng,

Cứu hồn ra khỏi sáu đàng trầm luân.

Nguyện cho hồn đặng vui mừng,

Khỏi nơi lạnh lẽo gian truân khổ sầu.

Nương nhờ Phật lực nhiệm mầu,

Thả đèn thủy lục, bắt cầu vớt vong.

Vớt vong khỏi chốn suối sông,

Về nơi no ấm non bồng tiêu dao.

Ðưa vong khỏi biển ba đào,

Ðến nơi bờ giác lên mau lạ thường.

Nam Mô Ðịa Tạng Minh Vương,

Vì lời đại nguyện xót thương Ta bà.

Chúng sanh chìm đắm hải hà,

Cầu ngài cứu vớt vượt qua biển trần.

Nổi trôi khổ sở tấm thân,

Âm nhơn lạnh lẽo muôn phần thiết tha.

Nam mô đức Phật Thích Ca,

Cầu ngài tế độ vớt mà vong linh.

Ở trong thế giới U Minh,

Dẫn qua Cực lạc vãng sanh Liên trì.

Nguyện ngài giáo chủ A Di,

Ðộ vong trầm nịch đồng qui Liên thành.

Ở yên mát mẻ tu hành,

Cầu cho giải thoát hóa sanh sen vàng.

Nam mô Tịnh độ Lạc bang,

Ðộ vong hồn đặng Tây phang mau về.

– Trích xuất từ “Pháp môn tu Tịnh Ðộ” Niết Bàn Tịnh Xá – Vũng Tàu ấn hành, 1970, Tr. 313-315.

– Bài này dùng để tụng trong đàn thủy lục vớt vong ở bờ biển, bên sông, có thêm nghi thức vớt vong và cầu siêu chư linh. Vì thế nên không phải là bài phổ biến. Tuy nhiên, có thể dùng tụng ở các đàn kỳ siêu, chẩn tế, thí thực ở chùa, ở nhà cũng được.

VĂN HỒI HƯỚNG CÚNG THÍ – HÒA THƯỢNG BÍCH LIÊN

(Thí thực cô hồn 14)

Bích Liên Pháp Sư

Nguồn chơn trong văn vắt,

Tánh tội vẫn là không,

Biển khổ rộng thênh thang,

Sóng quanh theo đuổi mãi.

Bởi nghiệp cảm chúng sanh kia mang phải,

Khiến trầm luân kiếp nọ chịu đọa đày,

Ðịa ngục đà thọ khổ đắng cay,

Ngạ quỉ lại chuyển sanh đói khát.

Ðã chẳng có ngày giải thoát,

Ắt là không ngõ siêu thăng,

Ví chẳng nhờ từ nguyện đức kim thân,

Ðể mở đặng đảo huyền dây ác thú.

Chơn thuyên ấy niệm đôi câu thần chú,

Thí thực ra trên tiệc cam lồ,

Bảo cự kia thắp một ngọn đèn,

Soi khắp cả trong đường minh giới.

Nào những mấy dòng mê cả thảy,

Khiến đều về Cực lạc phương Tây.

Bảo đạo tràng nay,

Khắp thỉnh vào diên thí thực.

Ðem công đức ấy,

Trở về trong núi Thiết Vi,

Diện Nhiên đại sĩ một tay,

Thống lãnh cả ba mươi sáu bộ.

Chúng ngạ quỉ hằng hà sa số,

Biết bao nhiêu vô lượng vô biên,

Cúi xin từ kiếp bỏ liền,

Cho đến ngày lai tái thế.

Tiêu nghiệp chướng chẳng còn chút để,

Rửa tội khiên phút đã sạch rồi,

Vạc nóng dầu sôi,

Biến thành ao Liên trì bát đức.

Lò hừng lửa cháy,

Hóa nên tòa Hương cái thất trân.

Kìa mũi gươm trần.

Kiếm thọ hóa ra Ngọc thọ.

Nọ con dao sắc,

Ðao sơn đổi lại Bảo sơn.

Khắp nơi bày chật đất thiết sàng,

Hiện pháp tọa Bồ đề ra nơi đó.

Khắp chỗ dựng đầy nước đồng sôi,

Rưới cam lộ Ðề hồ vào nơi đấy.

Gặp những người trai chủ bấy nay,

Ðó đói khát, hết đòi hết hỏi.

Nhóm kiếp oan gia thuở trước,

Cùng nhau thôi dứt vấn vương.

Dạ hưng từ, ngục chủ yêu thương,

Thân phụ mẫu đa sanh kim với cổ,

Hồn nay thì nhập thánh lại siêu phàm.

Nợ nhơn thân lụy thế, trả hết rồi,

Rày thừa ân giải thoát, miễn trần duyên.

Cõi thiên thượng, ngũ si chẳng hiện,

Miền nhân gian, tứ tướng chẳng có,

Ðã biết tu, là bỏ cả tham sân si,

Thì địa ngục, sẽ hết điều khổ não.

Hồn ngạ quỉ, nhộn nhàng trong sáu đạo,

Hứng gió thanh, khỏi chốn lửa hồng.

Giống hàm sanh, sực nức mười loài,

Lên bờ giác, lánh nơi đường tội.

Khắp xin cả hữu tình một nỗi:

Quốc độ này quốc độ nọ,

Và tất cả vô lượng quốc,

Thảy cùng nhau đồng chứng chơn thường.

Lại nguyện cùng hàm thức giống nòi:

Thế giới đó thế giới đây,

Và các vô lượng thế giới,

Tất cả đều nên Phật đạo.

Tứ ân khắp báo,

Tam hữu đều nhờ.

Người trong pháp giới bao giờ,

Ai ai cũng đồng viên chủng trí.

– Bài do Hòa Thượng Bích Liên – Bình Ðịnh, diễn nôm khoảng năm 1940.

– Trích soạn từ “Nghi chẩn tế cô hồn nghĩa” của Hòa Thượng Thành Lệ, chùa Tiên Linh, Bến Tre tàng bản.

SÁM TÁN KHÔ LÂU – BÍCH LIÊN PHÁP SƯ

(Thí thực cô hồn 15)

Bích Liên Pháp Sư

Hôm qua đồng vắng ngoạn du

Thấy liền Ðại đức khô lâu một vùng

Bốn bên ghê gốc bịt bùng

Mồ hoang cỏ mọc, mây trùng xanh xanh

Dàu dàu âm khí lạnh tanh

Lá sen thổi ngọn, gió quanh đưa sầu

Khô lâu ơi hỡi! Khô lâu

Quê người ở mé giang đầu thiu thiu

Nằm phơi ngọn gió, chìu hiu

Cỏ giăng nệm đất, trăng khêu đèn trời

Phèo phèo khí lạnh đòi nơi

Anh em lai vãng, có người nào đâu

Khô lâu ơi hỡi! Khô lâu

Ấy người quân tử ở đâu bên đường

Nhà ai vang vọng đêm trường

Mưa tuôn gió thổi, tuyết sương khác nào

Ðau thay gan ruột như bào

Chan chan hạt lụy, như trào dòng châu

Khô lâu ơi hỡi! Khô lâu

Ðôi khuôn con mắt, thấy đâu chốn này

Xiết thay, người thế ra chi

Kiếp phù sanh gởi tháng ngày bao lăm

Ác vàng thỏ bạc xa xăm

Bóng quang âm thoắt, trăm năm mấy hồi

Dần dà chi nữa người ơi

Sớm lìa biển khổ, cho rời kiếp ma

Hôm nay thiện tín trai gia

Nghi diên mở hội, gọi là “minh dương”

Lò vàng vừa bén mùi hương

Ðạo tràng mời khắp mười phương cô hồn

Bao nhiêu tội chướng để dồn

Bây giờ tiêu hết chi còn nữa đâu

Ân triêm phước lợi thắm mầu

Mau mau dời bước lên chầu Tây phương.

– Bài do Hòa Thượng Bích Liên – Bình Ðịnh, diễn nôm khoảng năm 1940.

– Chép lại từ bản thảo “Nghi cúng cô hồn” của Hòa Thượng Thành Lệ, Bến Tre – Bản tặng Hòa Thượng Hiển Tu, chùa Xá Lợi, TP HCM, 1998.

TRẠO VĂN DIỄN ÂM – BÍCH LIÊN PHÁP SƯ

(Thí thực cô hồn 16)

Bích Liên Pháp Sư

Hôm nay cúng thí trai đàn,

Dây nhân duyên gặp A Nan cơ lành.

Quan Âm cứu khổ đã đành,

Hiện làm Tiêu Diện quỉ hình lạ thay.

Niệm câu Mô Phật từ bi,

Tuyên lời bí mật đức dày công cao.

Ðộ người thập loại nao nao,

Mùi cam lồ ấy hưởng vào một phen.

Trước đây triều đại còn truyền,

Lên ngôi đế chúa sẵn quyền tôn vinh.

Hầu vương huân thích vang danh,

Cây vàng lá ngọc tập tành tiếng sang.

Trung cung, Tể chấp, đại quan,

Kìa trang thể nữ, nọ hàng tần phi.

Ðiềm hoa tươi đã vứt đi,

Mùi cam lồ hưởng tiệc này phải chăng.

Hàng quốc sĩ, bậc triều thần,

Dọc ngang trong cõi hồng trần giúp xong.

Chăn dân bủa hóa giữa giòng,

Nào hay chưa toại tấm lòng trung lương.

Ðau lòng một chiếu thôi thương,

Phải khi trích án sa trường biên bang.

Hồn còn trìu mến giang san,

Tiệc cam lồ hỡi, vội vàng đôi chân.

Người võ sĩ, kẻ nhung thần,

Một tay thống lãnh ba quân nhộn nhàng.

Băng xông trăm trận mũi vàng,

Trống rầm rộ đất, chiêng vang rân trời.

Ðánh Nam dẹp Bắc tơi bời,

Chiến trường phút sẩy chân người vào trong.

Tấm lòng vì nước mà vong,

Tiệc cam lồ chứng hội đồng đêm thanh.

Những người học cổ cùng kinh,

Chức văn chương khéo như hình gấm thêu.

Bóng quang, hột tuyết dòm theo,

Chí trong cửa sổ nghiệt nghèo xiết bao!

Ta đà mạng vận làm sao,

Bảng vàng chẳng thấy lúc nào đề danh.

Hương hồn uất uất chi linh,

Mùi cam lồ đã sẵn dành tiệc xuân.

Những người cắt ái từ thân,

Cửa không sớm đã chân lần vào trong.

Tầm thầy hỏi đạo Thiền tông,

Chút vì muốn thoát khỏi vòng tử sanh.

Trải bao lạnh nắng xoay quanh,

Sự vô thường đã đến mình nào hay!

Hồi quang soi chút bóng dày,

Mùi cam lồ hưởng đêm nay bỉ bàng.

Những người võ phục huỳnh quan,

Sớm đã quyết chí theo đàng tu chơn.

Luyện hoàn thuốc, nấu lò đơn,

Dưỡng trong cái tánh, cho hoàn khí nguyên.

Lao thần khổ hạnh đòi phen,

Chỉ mong lên đặng ngôi tiên mới đành.

Thôi đừng tiếc chút dị hình,

Tiệc cam lồ đã sẵn dành vị thanh.

Những người con thảo cháu lành,

Với người nghĩa dũng trung thành xưa kia.

Những người liệt nữ trinh thê,

Cái thân coi chết như về đâu đâu.

Với người trọng tiết vong xu,

Khí tinh anh để ngàn thu còn truyền.

Hồn còn chói lọi linh thiêng,

Ðến đây hưởng thọ một diên cam lồ.

Những người đạo nữ Ni đồ,

Chốn huỳnh môn ấy năm mùa gởi thân.

Phụng loan bỏ khống duyên phần,

Nhơn gian chẳng nhiễm sự trần chút chi.

Còn chưa liễu đặng vô vi,

Nước trôi sóng lãng ra gì tử sanh!

Hồn người thăm thẳm thanh thanh,

Vị cam lồ đã phỉ tình cho chăng?

Những người địa lý thiên văn,

Nghề hay y dược chứa thầm âm dương.

Bói qui, dịch sủ qui vàng,

Kẻ tinh coi gió, người tường bủa sao.

Mách người hung kiết biết bao,

Vô thường để khỏi mang vào hoạn thân.

Thôi rày xả ngụy qui chân,

Cam lồ bảo mãn mười phần tiệc hương.

Những người tọa mãi hành thương,

Cả bao nhiêu món ngoài đường kinh doanh.

Lắm hay nghề nghiệp mưu sanh,

Toan phường tài lợi trong vành bán buôn.

Quê xưa hương tỉnh bỏ luôn,

Chết chôn đất khách, theo phương cảnh người.

Một niềm lữ mộng vơi vơi,

Mùi cam lồ đã khắp rời u minh.

Những người phạm pháp tạo hình,

Ngục tù buộc mãi lấy mình vào nơi.

Hại người toan lấy của người,

Oan gia trái chủ trả đời nào xong!

Người tật ác, kẻ tai hung,

Hoặc là đói khát lạnh lùng vong thân.

Suối vàng kíp kíp đôi chân,

Mùi cam lồ ấy, thọ phần thanh lương.

Những người ngựa đạp, xe thương,

Vách đè thân nát như tương rã rời!

Kẻ suông roi quỉ, sấm trời.

Kẻ cam tự vận, người thời huyền lương.

Hoặc là thủy hỏa tai ương,

Kẻ suông độc rắn, người vương miệng hùm.

Hồn người bất hạnh trầm trầm,

Một cam lồ rưới dầm dầm xiết bao.

Những người âm huyết dương mao,

Chỗ sanh trưởng vốn ẩn vào man di.

Thi công mà trả nợ đày,

Kẻ làm lẽ mọn, người thì tớ tôi.

Hoặc người ngọng, lịu, điếc, đui,

Tật nguyền chẳng có nơi chui đụt nào.

Hồn người oan khổ biết bao,

Mùi cam lồ hưởng dạt dào tiệc hoa.

Những người ngỗ nghịch mẹ cha,

Oán rủa trời đất, mắng la đốt bằm.

Những người chê Phật khinh Tăng,

Ðốt hủy kinh tượng hung hăng nhiều bề.

Lắm điều tà kiến trầm mê,

Chịu trong khổ báo ê chề chẳng thôi.

Hồn người thật ác, thương ôi,

Mùi cam lồ hưởng cho rồi tiệc hoa.

Cửa nhà đại thí mở ra,

Hãy xin tiến bạt cho ma cô hồn.

Tiên vong hòa tổ hòa tôn,

Oan gia trăm họ cũng dồn về đây.

Ðường ba, nạn tám thiếu chi,

Bao nhiêu bình đẳng, đêm này siêu thiên.

Cậy chưng Phật Pháp quang miên,

Mùi cam lồ hưởng một diên ê hề.

A Di Ðà Phật Bồ Ðề,

Xưa kia sẵn có lời thề vô biên,

Ðường mê trông thấy nhãn tiền,

Ðắm phiêu biển khổ liền liền thảm thay!

Ngậm ngùi vội duỗi hai tay,

Thuyền từ chống thẳng vớt ngay mọi người.

Nguyện cho khắp chỗ ai ơi,

Chúng sanh đều đến nhập nơi Liên trì.

– Ðây là bài diễn nôm của Hòa Thượng Bích Liên – Bình Ðịnh soạn, khoảng năm 1940.

– Bài này dùng để tán trạo, một loại tán có nhạc hòa cùng sử dụng trong lễ chẩn tế cô hồn, thay cho 12 câu thỉnh trong Du Già Trung Khoa.

– Tạng bản Nôm của Ðại Ðức Thích Lệ Trang, chùa Viên Giác – Tân Bình, TP HCM.

– Diễn Quốc ngữ của Hòa Thượng Thành Lệ, chùa Tiên Linh, Bến Tre – Bản tặng Hòa Thượng Hiển Tu, chùa Xá Lợi, Sài Gòn, 1998.

– Có hiệu đính sửa chữa lại một số câu chữ cho phù hợp, và để nâng cao tính giá trị của văn phong.

VĂN THỈNH THẬP LOẠI CÔ HỒN – BÍCH LIÊN PHÁP SƯ

(Thí thực cô hồn 17)

Bích Liên Pháp Sư

Dấu người thập loại biết là đâu?

Hồn phách mơ màng trải mấy thu,

Cồn biển nghinh ngang bầu thế giới,

Những mồ vô chủ thấy mà đau!

Tịch mịch dạ canh thâm,

Hoa Ðàm bá phạm âm,

Cô hồn văn triệu thỉnh,

Bộ bộ tốc lai lâm.

– Nhứt tâm triệu thỉnh:

Ác vàng tên ruỗi,

Thỏ bạc thoi dong,

Ôm lòng đau, cốt nhục nỗi xa trông,

Sửng mắt nhắm, anh hùng còn đâu đó!

Lò bảo đảnh, màu hương nhen mới tỏ,

Giọng thiền lưu, rày ngõ với vong linh,

Nghe lời triệu thỉnh đành rành,

Hồn chơi trong cõi U minh xin về.

– Nhứt tâm triệu thỉnh:

Màu non lờ lạc,

Dòng nước thầm thì,

Xuân đi rồi, hoa hỡi còn đây,

Người mới đó, chim rày đã lặn.

Vài lượt thắp, hương trầm bay tứ tán,

Ðôi phen mời, linh sản ở đâu đây,

Vong linh ơi hỡi có hay,

Nghe lời triệu thỉnh, kíp day cõi trần.

– Nhứt tâm triệu thỉnh:

Biển trần lênh láng,

Sóng nghiệp lao xao,

Người mê man trong giấc chiêm bao,

May tỉnh đặng, phân hào trong huyền diệu.

Sống chẳng niệm Di Ðà Phật hiệu,

Uổng một vòng chơi nẻo nhân gian,

Ðầy ba phen, hương thắp bảo đàn,

Ba lần triệu thỉnh, suối vàng hồn linh.

Xin vâng Tam Bảo pháp lành,

Nương lời bí mật, đêm thanh trở về.

Về đây hưởng thọ hương huê,

Cam lồ pháp thực, ê chề thiếu chi.

– Trước thỉnh kẻ, hoàng vương đế bá,

Triều đại xưa, trải quá biết bao!

Ðền đài chín lớp ở cao,

Non sông muôn dặm chiếm vào một tay.

Thuyền chiến phút đổi thay vượng khí,

Xe loan còn rầm rĩ vắng thinh,

Ðỗ quyên kêu trót tàn canh,

Mây buồn đượm mãi trên cành đào hoa.

Trước sau vương bá những là,

Hồn hương xin chứng tiệc hoa sẵn sàng.

– Lại thỉnh kẻ đăng đàn bái tướng,

Dựng ngọn cờ bảo thưởng hầu quan,

Ngàn cân, lực cử đảnh vàng,

Thân trường thành vững trăm ngàn dặm khơi.

Trướng hùm lạnh, luống đời Hạng Mã,

Khói lang tàn, nào gã Phàn Long,

Ngựa xe chiến tướng vắng không,

Hoa lùa cỏ nội mấy vùng buồn thiu!

Anh hùng tướng soái bao nhiêu,

Pháp diên hãy chứng ít nhiều phải chăng?

– Lại thỉnh kẻ: Ngũ lăng tài tuấn,

Phẩm hiền lương, bách phận danh thần.

Ba năm thanh tiết làm quan,

Lòng son một tấm, trung quân rõ ràng.

Nhà châu huyện, xa làng phụ mẫu,

Xóm nước trời, theo dấu thần tiên,

Chinh chinh biển loạn sóng ngàn,

Mờ mờ hồn bướm ly miền dương quang.

Văn thần xiết kể muôn ngàn,

Chốn này xin chứng Pháp đàn kính dâng.

– Lại thỉnh kẻ: Tao ông mặc khách,

Lối cửa hoàng, nhà bạch vào ra,

Rừng văn nhẹ bước, Thám hoa,

Ngàn cung bút chiến, chơi trò các vi.

Tan bữa đốm, tiếc dày công học,

Mòn dĩa nghiên, uổng nhọc chí bền,

Lụa hồng bảy thước đề tên,

Ðất vàng một cụm, lấp nền văn chương.

Văn nhân biết mấy đâu lường,

Hồn hoang xin chứng tiệc hương mấy phần.

– Lại thỉnh kẻ: Xuất trần phi tích,

Thượng sĩ kìa với khách Cao Tăng,

Trai tinh ngũ giới, đạo hằng,

Gái Tỳ khưu, lại đủ ngằn nét tu.

Làn hoa trúc, vài câu mật đế,

Nhà hổ-nô, vắng kệ khổ không,

Tam canh song tẩm lạnh lùng,

Nhà thiền leo lét đèn chong canh dài.

Trung lưu này những bi ai,

Chơn hồn xin hãy chứng lai pháp đàn.

– Lại thỉnh kẻ: Huỳnh quan dã khách,

Dòng vũ y phong cách nhà tiên,

Tu chơn trong động đào nguyên,

Trước châu lãng uyển, khí rèn tánh tu.

Trời nêu tiếng, tam lưu chưa toại,

Ðất chôn hồn, tứ đại Diêm Vương,

Lò đơn lẫm quán lạnh sương,

Tiêu đàn gió thảm, thổi tàn hạnh hoa.

Bao nhiêu đạo sĩ những là,

Mùi hương phó cảm, thấu nhà hư vô.

– Lại thỉnh kẻ: Giang hồ cơ lữ,

Ðường bắc nam trải thử hành thương,

Lợi quyền muôn dặm, toan đương,

Ngàn vàng trữ lại trong hàng hóa buôn.

Thân sương gió, thịt chôn bụng cá,

Bước đá mây, xương rã đường dê,

Phách theo mây cuốn sè sè,

Hồn theo ngọn nước xuôi về biển Ðông.

Thương nhân, sau trước một dòng,

Bữa nay xin chứng vào trong tiệc đàn.

– Lại thỉnh kẻ: Lướt xông chiến trận,

Sức phương cường, mình bận áo binh,

Cờ điều phất bóng tương tranh,

Trong chòm mũi bạc, đan mình chống đương.

Ruột gan nát, thao trường kim cổ,

Da thịt rơi, đầy chỗ can qua,

Cát vàng văng vẳng tiếng ma,

Mờ mờ sương trắng ai mà thấu cho.

Xưa nay mấy kẻ tốt đồ,

Ðêm này xin hưởng cam lồ tiệc trai.

– Lại thỉnh kẻ: Nghén thai mười tháng,

Lót chiếu rơm ngồi mãn ba ngày,

Trước mừng loan phụng hiệp bầy,

Sau thì trông giấc hùng bi cho tường.

Vầng cung phụng, phút tường hung cát.

Tuồng ngỏa chương, rơi nát mẹ con,

Nhành hoa nở, trận mưa tuông,

Ðường khi trăng tỏ, gặp cuồng mây xâm.

Những người sản nạn qui âm,

Nghe lời triệu thỉnh, lai lâm pháp đàn.

– Lại thỉnh kẻ: Bốn phương mọi rợ,

Với những người ú ớ điếc đui,

Chết mình, tôi tớ lui thui,

Liều thân hầu hạ, bởi người ghen tương.

Khinh Tam Bảo, tội dường cát bãi,

Nghịch song thân, ác dẫy cõi người,

Ðêm trường thăm thẳm bóng mơi,

Cửa mù thiu thỉu như trời thu đông.

Những người bội nghịch hoang hung,

Pháp diên xin chứng vào trong cho đầy.

– Lại thỉnh kẻ: Cung khuê thuở trước,

Gái má đào, sắc nước kém đâu,

Bức tranh chỉ phấn, đua nhau,

Áo quần long xạ, ganh màu thiên hương.

Hồn vân vũ, tan vườn kim cốc,

Ruột trăng hoa, héo trạm mã khôi,

Phong lưu ngày trước đâu rồi,

Xương khô lạnh lẽo trong chồi cỏ cây.

Những trang xinh tốt xưa nay,

Lửa hương xin chứng tiệc chay bỉ bàng.

– Lại thỉnh kẻ: Cơ hàn khất cái,

Cùng tù nhơn mang phải trọng hình,

Gặp tai nước lửa hại mình,

Hoặc truông hùm sói, tan tành thịt xương.

Khí oán, mãi đầy dường thuốc độc,

Hồn kinh, vì sấm lốc mờ xiêu,

Mưa chiều khói lạnh nước reo,

Lá thu gió thổi dập dìu như bay.

Những người hoạnh tử xưa nay,

Cam lồ rày đã sẵn bày tiệc hương.

– Lại thỉnh kẻ: Sáu đường pháp giới,

Những cô hồn mười loại đâu đây,

Diện-Nhiên sở thống một tay,

Nòi kia dịch-lệ, giống này trần-sa.

Nương cây cỏ, bóng ma mường tượng,

Ly-mỵ, hòa vọng-lượng uy danh,

Hồn cô, phách trệ linh đinh,

Tiên vong, với kẻ thân tình gần xa.

Bao nhiêu tiệu thỉnh những là,

Ai ai xin cũng chứng qua tiệc này.

Nãy giờ mời thỉnh tỏ bày,

Hồn linh xin hãy về đây chứng đàn.

Cùng qui y Phật, Pháp, Tăng,

Sửa mình niệm Phật, siêu thăng liên đài.

A Di Ðà Phật Như Lai,

Từ bi tiếp độ hoa khai thoát trần.

– Trích trong “Khóa chẩn tế cô hồn nghĩa.” – Hòa Thượng Bích Liên soạn diễn Nôm, khoảng năm 1940. Chùa Viên Giác Tân Bình tàng bản.

Tìm Hiểu Tập Quán Cúng Cô Hồn Hay Lễ Mông Sơn Thí Thực

* Trần Trọng Khoái

Việc siêu độ cô hồn có thể phát xuất từ đời nhà Đường bên Trung Quốc khi ngài Huyền Trang trở về sau chuyến Tây Du, lập đàn siêu độ cho tứ sanh đang luân hồi trong lục đạo. Khi xem chương trình đại lễ Vu Lan có phần cúng Mông Sơn Thí Thực, nhiều em trong gia đình Phật tử luận bàn với nhau, rồi đưa một em hỏi chúng tôi về xuất xứ và xin giảng giải về điển tích “Mông Sơn”.

Bởi lẽ người hay đi chùa chỉ nghe nói cúng Mông Sơn, đương nhiên họ đã tạm hiểu rồi, nhưng sao người ta không nói cúng Tịnh Thủy để thêm ý nghĩa thanh đạm tự nhiên, hay nói “cúng thí” như ngày xưa cho dễ hiểu, mà phải dùng từ lạ lại thêm phiền?

Theo nghi lễ Á Đông, khi chiến cuộc kết thúc, kẻ được ca khúc khải hoàn thường tế lễ các bậc anh hùng đã xả thân vì quốc gia dân tộc, truy điệu các chiến sĩ trận vong và đồng bào tử nạn, chẳng hạn như Vua Quang Trung đại phá quân Thanh năm Kỷ Dậu (1789) đã hạ chiếu làm lễ tưởng niệm các chiến sĩ hữu công và tiến cúng cô hồn, kể cả mấy vạn quân Thanh đã thành ra oan hồn uổng tử. Vua Gia Long sau khi thống nhất sơn hà cũng thiết tràng siêu độ cho quan quân tử sĩ và những oan hồn vì chiến cuộc do ông Nguyễn Văn Thành giữ chức Tổng Trấn Bắc Thành soạn bài văn tế Tướng Sĩ Trận Vong và Cô Hồn Thập Loại bằng quốc âm là một áng văn kiệt tác trong nền quốc văn cận đại (1802).

Bộ Lễ của tiền triều cũng có phần tế cô hồn vào tiết tháng 7 mà những áng văn của các danh nhân biên soạn như Phan Huy Ích nguyên là sứ thần của Tây Sơn sang thăm xã giao, đã xướng họa thi văn với vua Càn Long, được Thanh triều trọng vọng. Lúc về nước ông được gia phong Thượng Đại Phu Thị Trung Ngự Sử, hay cụ Nguyễn Du, tác giả tập Đoạn Trường Tân Thanh còn lưu lại Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh bằng chữ Nôm, được tìm thấy ở Chùa Hưng Phúc, xã Xuân Lôi, huyện Võ Giàng, tỉnh Bắc Ninh, sau này được in trong quyển “Ứng Phó Dư Biên Tổng Tập”.

Cụ Lê Thước cũng tìm được một bản nôm khác của soạn giả Nguyễn Tiên Điền ở Chùa Diệc miền bắc Nghệ An, cụ phiên âm sang quốc ngữ và ấn hành vào năm 1924. Năm 1926 Trần Trung Viên cho in vào tập I, trong Văn Đàn Bảo Giám và năm 1927 lại xuất hiện trên Nam Phong Tạp Chí số 178, Tạp Chí Văn Học số 2 năm 1977 cũng đăng lại bản hiệu đính của cụ Hoàng Xuân Hãn với 8 câu đầu:

"Tiết tháng Bảy mưa dầm sùi sụt Gió heo may lạnh buốt xương khô Não người thay bấy chiều thu Ngàn lau nhuốm bạc lá ngô rụng vàng Đường bạch dương, bóng chiều mang mác, Ngọn đường lê lác đác mưa sa, Làng nào lòng chẳng thiết tha, Cõi dương còn thế, nữa là cõi âm!"

Chư độc giả đồng hương muốn rõ Thập Loại Cô Hồn là những ai, xin vui lòng đọc tiếp:

"Trong trường dạ tối tăm trời đất, Chút khôn thiêng phảng phất u minh, Thương thay Thập Loại Chúng Sinh, Hồn đơn phách chiếc lênh đênh quê người, Hương khói đã không nơi nương tựa, Hồn mồ côi lần lữa đêm đen, Còn chi ai khá, ai hèn, Còn chi mà nói kẻ hiền, người ngụ"

“Thế sự nhược đại mộng”, khi thăng hoa, lúc thất bại đôi khi cũng cận kề, có ai ngờ nhà văn Phan Huy Ích, một danh sĩ lỗi lạc được trích dẫn vừa rồi và em vợ là Ngô Thời Nhiệm, nhà văn học lẫy lừng, nhà chính khách có biệt tài và nhiều sáng tạo, cả hai đều thi đỗ Tiến Sĩ từ lúc tuổi xuân, vang danh một thuở, nhưng chung cuộc với cái chết lạnh lùng đơn bạc của hai ông khác gì sự ra đi âm thầm của vị cựu Thủ Tướng tài ba Phan Huy Quát tại Sàigòn năm 1979!

Người nằm xuống, thì người còn lại phải khói hương truy niệm, nhất là nhờ uy đức của Tam Bảo giải oan bạt độ cho hương linh được cao siêu tịnh giới, chứ phẩm vật tiến cúng chỉ là ý niệm của thế nhân, tưởng không cần thiết lắm, nên soạn giả viết tiếp:

"Tiết đầu Thu lập đàn giải thoát, Nước Tịnh Bình rưới hạt Dương Chi, Muốn nhờ đức Phật từ bi, Giải oan cưù khổ, hồn về Tây phương."

Trước đây từ phố thị đến thôn trang, đâu đâu cũng thấy có “đàn âm linh” hay “am chúng sinh”, nơi tương đối hoang vu tịch mịch hoặc tại các vùng mộ địa tha ma, với tập tục hằng năm nhân dân địa phương chọn ngày thuận tiện để cùng nhau sửa chạp những mồ vô chủ và tiến cúng âm hồn. Sau phần cúng vái thì bánh quà, phẩm vật… dành cho người nghèo khó neo đơn, hay các trẻ em được tự do chung hưởng.

Nhiều nơi, nhiều vùng được quân dân dấy nghĩa chống xâm lăng, nhưng việc không thành, có người tuẫn tiết, hay nhiều kẻ vong nhân! Do sự kính ngưỡng tôn vinh người hy sinh vì đại nghĩa, nên nhân dân khói hương tưởng nhớ, sau cúng vái quân binh các ngài, thành ra mỹ tục từng địa phương, như tại vùng Chợ Lớn, Tân An, Gò Công, Cần Giuộc, rộng ra là 6 tỉnh Nam Kỳ có tục lệ truy niệm vị anh hùng chống Pháp Trương Công Định và các nghĩa quân của ông vào mùa ông đền nợ nước năm 1864. Trong thơ ai điêù Trương Tướng Quân, cụ Đồ Chiểu viết:

"Trăm nấm mộ binh, vầy lớn nhỏ. Một gò cô lũy, chống hôm mai!

rồi cụ kết luận:

Hay dở phải chăng trời đất biết? Một tay chống đỡ mấy năm dài?

Nhà văn Nguyễn Đình Chiểu, bậc lão thành trung dũng còn lưu lại mấy bài văn tế nổi tiếng như “Văn Tế Sĩ Dân Lục Tỉnh” và “Văn Tế Vong Hồn Mộ Nghĩa”.

Cùng một ý nghĩa trên, tại vùng Kiên Giang, Rạch Giá có tập tục truy niệm ông Nguyễn Trung Trực và quân binh tử sĩ, đồng bào nạn vong gần thập niên 1861 – 1868 trong phong trào anh dũng chống Pháp của nhà chiến sĩ ái quốc Kiên Giang, đã hy sinh tại Rạch Giá. Mỹ tục này đã lan ra hải ngoại, nơi có đông người Kiên Giang – Rạch Giá định cự Đặc biệt ở Thừa Thiên – Huế sau khi vua Tự Đức băng hà, trong triều có phe “chủ hòa” với nhiều quan lại và nhóm hoàng thân quốc thích muốn cầu an thụ hưởng, ngược lại nhóm “chủ chiến” do vị Phụ chính đại thần kiêm Binh Bộ Thượng Thư Tôn Thất Thuyết cầm đầu, ông lo huấn luyện quân binh, thành lập đội quân “Đoàn Kết” và “Phấn Nghĩa” trong hoàng thành, lập Tân Sở ở Quảng Trị làm hậu cứ chống Pháp. Thực dân Pháp ngày càng gây áp lực với Nam Triều. Khi Trung tướng De Courcy vào hoàng thành, đòi mở cửa Ngọ Môn cho quân Pháp cùng vào là điều nhục quốc thể, buộc lòng ông Tôn Thất Thuyết tạo ra cuộc binh biến chống Pháp lúc giờ Tý ngày 23/5 năm Ất Dậu (05/7/1885). Đại sự bất thành, Tôn Thất Thuyết và nhóm chủ chiến phò vua Hàm Nghi ra Tân Sở, rồi tiến về Hà Tỉnh xuống chiếu Cần Vương, kêu gọi toàn dân chống Pháp.

Cuộc hưng binh chống Pháp đền nợ non sông của vua Hàm Nghi, ông Tốn Thất Thuyết và quân chủ chiến có chính nghĩa, nên được nhiều nhân sĩ khắp nơi hưởng ứng. Thường những cuộc chiến chinh đương nhiên phải đổ maù, phần đông là lương dân lúc bấy giờ nghe tiếng súng ì ầm với việc động binh là mạnh ai nấy chạy không cần biết đường lối nào cả, nhất là khi quân Pháp vào hoàng thành càn quét thanh toán, lại gây ra chuyện tổn thương nhân mạng không sao kể xiết!

Từ đó về sau, nhân dân Thừa Thiên – Huế có tập tục cúng Cô Hồn Tử Sĩ, kỷ niệm ngày “Kinh Thành Thất Trận Ất Dậu Niên Gian”. Ở Huế có rất nhiều văn tế của giới trí thức và những bài vè trường thiên khích lệ tinh thần chống Pháp rất lâm ly tha thiết, nên nhiều người đã thuộc lòng.

Ai cũng nghĩ rằng có cô hồn vất vưởng nên cần các thức ăn, đồ mặc, tiền bạc để chi tiêu… tạo ra tập tục đốt vàng mã, áo giấy tốn kém khá nhiều. Lúc Phật giáo chấn hưng, chùa chiền không cần đồ giấy cúng vong linh nữa, nên nhiều nơi đã thay vì chi tiền mua vàng mã cúng đốt vu vơ, để mua ít vải vóc, gạo bánh hay vật dụng phân cấp cho các bạn nghèo với dụng ý là cầu “âm dương đều lợi lạc”.

Luận bàn về việc tế tự người đã khuất, tưởng không nên nặng về “sự việc” tức là chuộng hình thức, rồi sinh ra tập tục cúng bái dị đoan mà chỉ xét về “ý nghĩa”, lấy tinh thần làm căn bản là hơn. Nói rộng ra, chẳng những người Phật tử thường tỏ lòng hiếu kính với nội ngoại tôn thân, nêù có thể được họ còn thể hiện hạnh từ ái, vị tha, giúp đỡ được chút gì cho các đồng hương, đồng loại là thiết thực. Qua truyền thống Vu Lan, người Á Đông còn ghi ân các chiến sĩ trận vong, truy niệm đồng bào tử nạn, tiến cúng Thập Loại Cô Hồn như đã nói trên, tốt nhất là phần nguyện cầu để chuyển nghiệp cho nhau, do đó ta thấy phẩm vật tiến cúng Âm Linh rất đạm bạc, giản đơn, nói chung là không cần mỹ vị cao lương cho khó kiếm, mà chỉ dùng hương hoa trà quả, thêm xôi chè bánh mứt, ít cháo hoa, chén cơm trắng, tượng trưng về trai phạn nhà chùa là tốt.

Việc thiết cúng Mông Sơn hay chẩn tế cô hồn với hậu ý bày tỏ chân tình với đồng loại, chứ người đã khuất bóng, thì ngũ uẩn tuồng như mất hết! Thân uẩn tức là sắc tướng không còn, thì có đâu lớn bé rộng hẹp mà ta lo may áo xống, sắm xe cộ gởi về cho hương linh? Suy ra, 3 uẩn tiếp theo tức là thô, tưởng, hành uẩn cũng không có, chỉ còn thức uẩn mịt mờ mênh mang, khiến cho linh hồn hay thần thức cảm nhận sự vui buồn, no đói hay thanh thoát, tủi hờn… là do nghiệp lực đã tạo ra từ lúc sinh tiền vậy thôi, chứ không thực hữu. Tỉ như ban ngày ta tiếp bà con từ xa đến, ăn uống vui vẻ, chuyện vãn thân thương … sự việc ấy lắng đọng trong tiềm thức, khi gặp thuận duyên có thể tái phát trong giấc mơ với đầy đủ chương trình thứ lớp, nào là tiếp khách trong phòng sang trọng, nhận tặng phẩm đẹp, mừng vui được ăn ngon, uống trà thơm…

Trong cơn mộng đẹp đó, nêù có tiếng động mạnh làm ta thức giấc, thử hỏi có còn gì chăng? Tất cả đều không thực hữu, chỉ còn chút thức uẩn cảm nhận lờ mờ, vì vậy mà có giấc mơ ta còn nhớ lâu, vài chuyện không cần thiết sẽ quên luôn. Nói cách đơn giản thì hương linh cũng vậy thôi, nêù sinh thời không gây nghiệp sát sinh, thì thần thức hòa ái tự nhiên. Không bỏn sẻn hay tham lam tiền tài vật thực, thì thức uẩn rất bình thản về vật chất. Sinh thời không tị hiềm, đố kỵ thì linh hồn luôn hỉ xả thanh cao. Bởi lẽ đó nên nói chung việc tiến cúng người đã khuất, cần thể hiện lòng thành khẩn cầu nguyện, để chư hương linh cởi bỏ phàm tâm thâm nhập Phật tánh, như kẻ lầm đường lạc lối được thiện hữu dẫn dắt đưa về hướng quang minh thật là hợp lý.

Việc siêu độ cô hồn có thể phát xuất từ đời nhà Đường bên Trung Quốc khi ngài Huyền Trang trở về sau chuyến Tây Du, lập đàn siêu độ cho tứ sanh đang luân hồi trong lục đạo. Qua đời Tống, ngài Bất Khinh Tam Tạng chuyên tu Mật Giáo ở Mông Sơn, tỉnh Tứ Xuyên, quán biết các cô hồn đang vất vưởng, đòi hỏi những nhu cầu cần thiết, nên Ngài vận dụng pháp lực để cung ứng và siêu độ cho họ.

Việc cúng Mông Sơn thí thực tại chùa hay bạt độ chẩn tế cô hồn có thể khởi đầu từ đời nhà Tống tại Mông Sơn, Tứ Xuyên nên trong khoa nghi mệnh danh là “MÔNG SƠN THÍ THỰC”, hiện nay ở các tự viện thường có bàn thờ đức Hộ Pháp Bồ Tát, ngụ ý là vọng bái các vị thiện thần, hàng phục tà ngụy, hộ trì chánh pháp lợi lạc sinh linh, đối diện với án thờ ngài Tiêu Diện Đại Sĩ, thống lĩnh chư âm linh cô hồn văn kinh thính pháp thọ cam lồ vị vào mỗi buổi chiều, là giờ ăn của ma quân ngạ quỷ, hay là sau những tiết lễ long trọng có phần Mông Sơn Thí Thực trước khi hoàn mãn, nhất là trong tiết Thu lá rụng mưa ngâu, mùa rét lạnh đến… người ta dễ chạnh lòng tưởng nhớ đến các cô hồn còn phảng phất bên chân trời góc biển mù khơi mà lập đàn tiến bạt cầu siêu, với chân tâm thành ý:

“Nguyện đem công đức này,

Hướng về khắp tất cả, Người còn với kẻ khuất, Đều trọn thành Phật Đạo."

Nghi Thức Thí Cô Hồn

NGHI THỨC THÍ CÔ HỒN

TIÊU DIỆN ĐẠI SĨ

(Công phu chiều hằng ngày, nên tụng Di Đà, Hồng Danh và Đại Hạnh để cúng cháo. Nếu cúng vào những ngày đặc biệt, nên theo đúng nghi thức này. Đại chuẩn tế cô hồn còn nghi thức khác nữa.)

(Quỳ ngay thẳng, cầm ba cây hương dâng ngang trán, chủ lễ niệm)

CÚNG HƯƠNG Tôn Pháp, chư Bồ Tát Thinh Văn và Duyên Giác Cùng các bậc Thánh Hiền Duyên khởi đài sáng chói Khắp xông mười phương cõi Tỏa ngát các chúng sanh Đều phát tâm Bồ Đề Xa lìa các vọng nghiệp Trọn nên Đạo Vô Thượng  (1 tiếng chuông, xá 1 xá)

Nam Mô Hương Cúng Dường Tiêu Diện Đại Sĩ Bồ Tát Ma Ha Tát. (3 lần, 1 tiếng chuông, xá 1 xá)

(Chỉ chủ lễ nguyện)

CẦU NGUYỆN Hôm nay, Phật tử chúng con…………………………………., tại…………………………….. Sắm sửa hương hoa phẩm vật, cúng thí Âm Hồn Các Đảng, vất vưởng thê lương, không nhà không cửa, không nơi nương tựa, đói khát thảm thương, hoặc nơi chiến trường hoang dã, ngả gục tan thây, hoặc nơi thâm sơn cùng cốc, rắn độc gấu beo, hoặc nơi sông sâu biển rộng, cá, sấu vây quanh, xé nát thân ra từng manh miếng nhỏ. Tất cả oan hồn yểu tử, nay mời về núp bóng Từ Quang, dự đàn thí thực, nương nhờ Phật lực, câu kinh, sớm được siêu sinh Tịnh Độ. Ngưỡng mong oai đức cao dầy, từ bi gia hộ.  (1 tiếng chuông, xá 1 xá, đứng dậy)

(Cắm hương xong, chủ lễ xướng)

ÁN THỈNH CÔ HỒN Hỡi Cô Hồn trước sau tề tựu Nghe lời khuyên để sửa lỗi mình Quán Âm, Địa Tạng oai linh Thích Ca Phật Tổ, câu kinh giải nàn. Hỡi uổng tử hồn oan phưởng phất Noi tâm lành của Phật làm gương Ta Bà cực khổ trăm đường Mau tu thì được Phật thương cứu độ.  (1 tiếng chuông) Hỡi hương hồn chết chìm đáy biển Và bao người ngộ độc bỏ thân Nghe chuông thức tỉnh dần dần Đừng ham danh lợi phù trần nhiễu nhương. Hỡi Cô Hồn chết thiêu chết chém Hổ giảo thân bị yểm bị trù Kíp tìm kinh kệ sớm tu Khỏi vòng xích sắt tội tù nghiệp oan. Hỡi hồn thác trong cơn binh lửa Chết phong ba, chết giữa núi non Khi nghe chuông giục boong boong Hương thơm tỏa khắp, hồn còn nghe kinh. Hỡi hồn ở đầu gành cúi bãi Nương gió mây, phảng phất lời xưa Hồn ơi, hồn hỡi tránh chừa Những người gian ác dối lừa Phật Tiên. Các hồn bị gấu, beo, rắn cắn Cùng những hồn số vắn vô danh Hãy nghe kinh kệ ăn năn Rồi đây hồn sẽ vô ngần thảnh thơi. Hỡi những hồn vì lời dèm xiểm Đã hủy mình chết lụn căm gan Sớm nghe kinh kệ lời vàng Phật liền dẫn lối chỉ đàng hồn tu. Xin hồn tỉnh hướng về Phật Tổ Ngài từ bi cứu độ vong linh Bao hồn sinh tử tử sinh Hôm nay hồn được nghe kinh Pháp mầu.  (1 tiếng chuông)

(Đại chúng đồng tụng)

MÔNG SƠN THÍ THỰC Nam Mô Diệm Nhiên Vương Bồ Tát Ma Ha Tát.  (3 lần, 1 tiếng chuông)

Lửa đói đốt thành sắt chảy Cô Hồn đói khát than van Muốn sanh về chốn Lạc Bang Hoa Nghiêm phúng tụng vài hàng như sau: “Nếu muốn biết rõ: Ba đời chư Phật Quán “Pháp Giới Tánh” Đều do tâm tạo.”

CHÚ PHÁ ĐỊA NGỤC Án dà ra đế da ta bà ha.  (3 lần, 1 tiếng chuông)

CHÚ THỈNH CÔ HỒN Nam mô bộ bộ đế rị dà rị đa rị đát đa nga đa da.  (3 lần, 1 tiếng chuông)

CHÚ GIẢI OAN KIẾT Án tam đà ra dà đà ta bà ha.  (3 lần, 1tiếng chuông)

Nam mô Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh.  (3 lần, 1 tiếng chuông)

(Tụng 7 câu dưới đây, mỗi câu 3 lần, 1 tiếng chuông) Nam mô thường trụ thập phương Phật, Nam mô thường trụ thập phương Pháp, Nam mô thường trụ thập phương Tăng, Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, Nam mô Đại Bi Quán Thế âm Bồ Tát, Nam mô Minh Dương Cứu Khổ Địa Tạng Vương Bồ Tát, Nam mô khải giáo A Nan Đà Tôn Giả.

Quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng. Quy y Phật đấng phước trí vẹn toàn Quy y Pháp Đạo thoát ly tham dục Quy y Tăng bậc tu hành cao tột. Quy y Phật rồi, quy y Pháp rồi, quy y Tăng rồi.  (1 tiếng chuông) Phật tử đã tạo các nghiệp ác, đều bởi vô thỉ tham sân, si, từ thân, miệng, ý phát sinh ra, tất cả Phật tử đều sám hối. Chúng sanh đã tạo các nghiệp ác, đều bởi vô thỉ tham sân, si, từ thân, miệng, ý phát sinh ra, tất cả chúng sanh đều sám hối. Cô hồn đã tạo các nghiệp ác, đều bởi vô thỉ tham sân, si, từ thân, miệng, ý phát sinh ra, tất cả cô hồn đều sám hối. Chúng sanh không số lượng, thệ nguyện đều độ hết Phiền não không cùng tận, thệ nguyện đều dứt sạch Pháp môn không kể xiết, thệ nguyện đều tu học Phật Đạo không gì hơn, thệ nguyện trọn viên thành. (1 tiếng chuông) Chúng sanh không số lượng, con nguyện đều độ hết Phiền não không cùng tận, con nguyện đều dứt sạch Pháp môn không kể xiết, con nguyện đều tu học Phật Đạo không gì hơn, con nguyện trọn viên thành.  (1 tiếng chuông)

CHÚ DIỆT ĐỊNH NGHIỆP Án bát ra mạt lân đà nảnh ta bà ha.  (3 lần, 1 tiếng chuông)

CHÚ DIỆT NGHIÊP CHƯỚNG Án a lổ lặc kế ta bà ha.  (3 lần, 1 tiếng chuông)

CHÚ KHAI YẾT HẦU Án bộ bộ đế rị dà rị đa rị đát đa nga đa da.  (3 lần, 1 tiếng chuông)

CHÚ TAM MUỘI DA GIỚI Án tam muội da tát đoa phạm.  (3 lần, 1 tiếng chuông)

CHÚ BIẾN THỰC Nam mô tát phạ đát tha, nga đa phạ lồ chỉ đế, án tam bạt ra, tam bạt ra hồng. (3 lần, 1 tiếng chuông)

CHÚ CAM LỒ THỦY Nam mô tô rô bà da, đát tha nga đa da, đát điệt tha, án tô rô tô rô, bát ra tô rô, bát ra tô rô, ta bà ha.  (3 lần, 1 tiếng chuông)

CHÚ NHỨT TỰ THỦY LUÂN Án noan noan noan noan noan.  (3 lần, 1 tiếng chuông)

CHÚ NHŨ HẢI Nam mô tam mãn đa mẫu đà nẩm án noan.  (3 lần, 1 tiếng chuông)

(Tụng 7 câu dưới đây, mỗi câu 3 lần, 1 tiếng chuông) Nam mô Đa Bảo Như Lai Nam mô Bảo Thắng Như Lai Nam mô Diệu Sắc Thân Như Lai Nam mô Quảng Bát Thân Như Lai Nam mô Ly Bố Úy Như Lai Nam mô Cam Lồ Vương Như Lai Nam Mô A Di Đà Như Lai.

Oai linh thần chú phi thường, (thực phẩm) biến thành Tịnh Pháp Thực, cúng thí vô số chúng Phật tử, cầu cho no ấm, hết xan tham, thoát khỏi U minh về cõi Tịnh, quy y Tam Bảo rõ Đạo mầu, rốt ráo trọn nên bậc Vô Thượng, công đức không lường ở vị lai, tất cả Phật tử Đồng Pháp Thực. Oai linh thần chú phi thường, (Thế Pháp) biến thành Pháp Thí Thực, cúng thí vô số loài chúng sinh, cầu cho no ấm, hết xan tham, thoát khỏi U minh về cõi Tịnh, quy y Tam Bảo rõ Đạo mầu, rốt ráo trọn nên bậc Vô Thượng, công đức không lường ở vị lai, tất cả chúng sanh Đồng Pháp Thực. Oai linh thần chú phi thường, (nước mát) biến thành nước cam lồ, cúng thí vô số chúng cô hồn, cầu cho no ấm, hết xan tham, thoát khỏi U minh về cõi Tịnh, quy y Tam Bảo rõ Đạo mầu, rốt ráo trọn nên bậc Vô Thượng, công đức không lường ở vị lai, tất cả cô hồn Đồng Pháp Thực. Tất cả chúng Phật tử Tôi nay nguyện cúng dường Cơm này biến khắp mười phương Các hàng Phật tử miên trường ấm no. Nguyện đem công đức này Hướng về khắp tất cả Tôi và các Phật tử Đều trọn thành Phật Đạo. Tất cả chúng hữu tình Tôi nay nguyện cúng dường Cơm này biến khắp mười phương Hữu tình các loại miên trường ấm no. Nguyện đem công đức này Hướng về khắp tất cả Tôi và các chúng sanh Đều trọn thành Phật Đạo. Tất cả chúng cô hồn Tôi nay nguyện cúng dường Cơm này biến khắp mười phương Cô hồn các loại miên trường ấm no. Nguyện đem công đức này Hướng về khắp tất cả Tôi và các cô hồn Đều trọn thành Phật Đạo.

CHÚ THÍ VÔ GIÁ THỰC Án mục lực lăng ta bà ha.  (3 lần, 1 tiếng chuông)

CHÚ PHỔ CÚNG DƯỜNG Án nga nga nẳng tam bà, phạ phiệt nhựt ra hồng. (3 lần, 1 tiếng chuông)

KINH BÁT NHÃ BA LA MẬT Khi Ngài Quán Tự Tại Bồ Tát thực hành sâu xa pháp Bát Nhã Ba La Mật Đa, Ngài soi thấy năm uẩn đều không, qua hết thảy khổ ách. “Này Ông Xá Lợi Phất, sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc, sắc tức là không, không tức là sắc. Thọ, Tưởng, Hành, Thức cũng đều như thế”. “Này Ông Xá Lợi Phất, ‘tướng không của mọi pháp’ không sanh, không diệt, không dơ, không sạch, không thêm, không bớt, nên trong ‘chân không’, không có sắc, không có thọ, tưởng, hành, thức, không có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, không có sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp, không có nhãn giới, cho đến không có ý thức giới, không có vô minh, cũng không có cái hết vô minh, cho đến không có già chết, cũng không có cái hết già chết, không có khổ, tập, diệt, đạo, không có trí huệ, cũng không có chứng đắc. Vì không có chỗ chứng đắc, nên Bồ Tát y theo Bát Nhã Ba La Mật Đa, tâm không ngăn ngại. Vì không ngăn ngại, nên không sợ hãi, xa hẳn điên đảo, mộng tưởng, đạt tới cứu cánh Niết Bàn. Chư Phật trong ba đời cũng y theo Bát Nhã Ba La Mật Đa, được đạo quả vô thượng chánh đẳng chánh giác. Nên biết Bát Nhã Ba La Mật Đa là Đại Thần Chú, là Đại Minh Chú, là Vô Thuợng Chú, là Vô Đẳng Đẳng Chú, trừ được hết thảy khổ, chân thật không hư”. Vì vậy, liền nói Chú Bát Nhã Ba La Mật Đa: “Yết đế, yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế, bồ đề tát bà ha”. (1 tiếng chuông)

CHÚ VÃNG SANH Nam mô a di đa bà dạ, đa tha dà đa dạ, đa địa dạ tha, a di rị đô bà tì, a di rị đa tất đam bà tì, a di rị đa tì ca lăn đế, a di rị đa tì ca lăn đa, dà di nị dà dà na, chỉ đa ca lệ ta bà ha.  (3 lần, 1 tiếng chuông)

NIỆM PHẬT A Di Đà Phật thân sắc vàng, Tướng tốt rực rỡ hào quang sáng ngời, Mày trắng tỏa, Tu Di uyển chuyển, Mắt trong ngần bốn biển long lanh, Ánh hào quang hóa vô số Phật, Vô số Bồ Tát hiện ở trong, Bốn mươi tám nguyện độ chúng sanh, Chín phẩm sen vàng lên giải thoát, Qui mạng lễ A Di Đà Phật, Ở Phương Tây thế giới an lành Con nay xin phát nguyện vãng sanh, Cúi xin Đức Từ Bi nhiếp thọ. Nam Mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Đại Từ Đại Bi A Di Đà Phật.

(Niệm mỗi câu dưới đây 3 lần, 1 tiếng chuông) Nam Mô A Di Đà Phật. Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát. Nam Mô Đại Thế Chí Bồ Tát. Nam Mô Địa Tạng Vương Bồ Tát. Nam Mô Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát.

CẦU SIÊU Trên bảo tọa khói hương nghi ngút Tấm lòng thành chí thiết từ đây Mây lành năm sắc phủ vây Chở che nhân loại lắm thay oan hồn. Vẫn biết chữ “tử qui sanh ký” Người trần ai ai dễ sống lâu Nhân vì nghĩa nặng ân sâu Thương tình đồng loại với nhau một giòng Sanh bất hạnh nhầm đời mạt Pháp Chịu trăm bề khốn khổ xiết bao Sống thời vất vả lao đao Chết không toàn thể thây giao tử thần. Nay chúng con hết lòng cầu khẩn Xin Phật từ cứu độ vong linh Ngưỡng nhờ chư Phật cao minh Xót thương nhân loại phù sinh vô thường. Hể có sinh là có bi thương Kiếp luân hồi lắm nẻo tai ương Hữu hình hữu hoại, vô thường Có không không có là phường phù du. Dầu tài sắc trăm năm cũng thế Kiếp phù sinh há dễ sống lâu Oan hồn trôi nỗi đâu đâu Ráng nghe kinh kệ ngõ hầu siêu thăng. Xin kíp đến qui y Tam Bảo Nước nhành dương rửa sạch lòng trần Gội nhuần Phật Đức thâm ân Bao nhiêu tội chướng cũng lần tiêu tan. Nay hết lúc hồn vương ảo ảnh Kíp trở về thắng cảnh Tây Phương Oan hồn nương khói hương thơm Tiêu diêu Cực Lạc sớm hôm an nhàn.  (1 tiếng chuông)

TÁN LỄ Tán lễ Tây Phương Cực Lạc thanh lương Sen vàng chín phẩm ngát hương Cây báu bảy hàng Nhạc trời reo vang A Di Đà Phật Phóng ánh hào quang Hóa Đạo chúng sanh vô lượng Đến bờ giải thoát yên vui Hiện tiền đệ tử xưng dương Cầu sanh An Dưỡng Hiện tiền đại chúng tán dương Đồng sanh An Dưỡng. (1 tiếng chuông)

(Chỉ chủ lễ xướng)

KHUYẾN TU Ngày nay lại đã qua rồi Mạng căn huyết mạch lần hồi khô khan Dường như cá cạn ở ao Khổ thêm nào có chút nào vui đâu Cần tu cứu lửa cháy đầu Đừng cho sái buổi như chầu đế vương Biết thân mỏng mảnh không thường Sớm còn tối mất lo phương cứu mình. (1 tiếng chuông)

(Đại chúng đồng tụng)

TAM QUY Con nương theo Phật, cầu cho chúng sanh Tin chắc Đạo cả, phát lòng vô thượng.  (1 tiếng chuông, lạy 1 lạy)

Con nương theo Pháp, cầu cho chúng sanh Thấu rõ kinh tạng, trí huệ như biển.  (1 tiếng chuông, lạy 1 lạy)

Con nương theo Tăng, cầu cho chúng sanh Kính tín hòa hợp, tất cả không ngại.  (1 tiếng chuông, lạy 1 lạy)

Share this:

Twitter

Facebook

Vì Sao Phải Cúng Cô Hồn Trước Rằm Tháng 7? Văn Cúng Thí Thực Cô Hồn Tại Nhà

Cúng cô hồn còn có tên gọi khác là lễ cúng “xá tội vong nhân”, là lễ cúng những vong linh bơ vơ không gia đình, rơi vào rằm tháng 7 âm lịch, trùng với Tết Trung Nguyên hay lễ Vu Lan.

Theo truyền thống tín ngưỡng dân gian, người Việt tin rằng con người có hai phần gồm hồn và xác. Khi qua đời, hồn lìa khỏi xác, thân xác được chôn cất hoặc hỏa táng và dần dần phân hủy. Nhưng phần hồn vẫn còn tiếp tục tồn tại. Phần hồn đó có thể về trời, lên cõi khác tốt đẹp hơn hoặc đầu thai làm người hoặc vật, cũng có thể bị đày xuống địa ngục. Những nơi chốn mà phần hồn phải được đi theo phụ thuộc vào những việc làm tốt hay xấu mà người đó làm khi còn ở dương thế. Ngoài ra, dân gian cũng tin rằng có những vong hồn vì lý do nào đó mà không thể đi về cõi thuộc về, cứ mãi vương vấn trần thế, phải cô đơn lang thang và chịu đói, quấy rối người sống.

Bởi thế mới có lễ cúng cô hồn, cúng thí thực (tặng thức ăn), mang ý nghĩa nhân đạo, để “cứu giúp” những vong hồn khốn khổ, bơ vơ, không được ai thờ cúng. Dịp cúng cô hồn lớn nhất trong năm là dịp rằm tháng 7, trùng với lễ Vu Lan báo hiếu.

Cũng theo truyền thuyết dân gian, từ mùng 2/7 Âm lịch, Diêm Vương ra lệnh bắt đầu mở Quỷ Môn Quan để ma quỷ trở lại cõi trần và đến rằm thì tất cả phải trở về, cửa địa ngục đóng lại. Theo thông lệ, các gia đình thường cúng cô hồn từ ngày mùng 2 đến hết ngày 14/7 âm lịch. Lễ cúng rằm tháng 7, lễ cúng Vu Lan cũng được tiến hành từ mùng 1-14/7 âm lịch. Có một lưu ý là lễ cúng cô hồn phải được thực hiện sau khi hoàn tất lễ cúng rằm, cúng Phật, cúng gia tiên.

Năm 2019, cúng cô hồn vào ngày nào đẹp nhất? Theo như lịch vạn niên, từ mùng 1-14/7 âm lịch có các ngày hoàng đạo sau: mùng 7, mùng 8, ngày 12, ngày 14. Các gia đình có thể cúng cô hồn vào những ngày đó. Tuy nhiên đây chỉ mang tính chất tham khảo. Vì theo quan điểm của Phật giáo, điều quan trọng nhất khi chuẩn bị lễ cúng là sự thành tâm và trang nghiêm. Tùy từng điều kiện gia đình, có thể chọn ngày cúng cô hồn năm 2019 vào các ngày từ 2-14/7 âm lịch.

Vì sao phải cúng cô hồn trước rằm tháng 7?

Mặc dù lễ cúng cô hồn rơi vào đúng rằm tháng 7 âm lịch, nhưng theo tín ngưỡng dân gian, lại không cúng cô hồn vào đúng ngày này, mà phải cúng trước rằm tháng 7. Như đã nói ở trên, tục cúng cô hồn xuất phát từ niềm tin con người có phần hồn và phần xác. Hàng năm, từ mùng 2/7 âm lịch, Diêm Vương sẽ ra lệnh mở cửa ngục, để ma quỷ được lên trần thế. Cho tới ngày Rằm tháng 7, tất cả linh hồn âm gian sẽ phải trở về, cửa địa ngục vì thế cũng đóng lại.

Vì thế phải cúng cô hồn trước rằm tháng 7 để các cô hồn được hưởng những vật phẩm cúng lễ, từ đó đỡ tủi thân tủi phận.

Mâm cúng cô hồn gồm những gì?

Mâm cúng cô hồn mang ý nghĩa làm phúc, sẽ gồm những lễ vật sau:

– Hương, hoa, đèn

– Gạo, muối, nước lã

– Bánh đa, bỏng, ngô rang, ngô luộc, khoai lang luộc, trứng luộc

– Kẹo bánh

– Xôi chè

– Cháo hoa

– Vàng mã, tiền giấy, quần áo chúng sinh

Ngoài ra ở một số vùng miền, mâm cúng cô hồn có thêm một số món mặn. Nếu không có điều kiện chuẩn bị mâm cúng cô hồn đủ đầy như trên, sau khi hoàn thành lễ cúng Phật và gia tiên, các gia đình có thể lấy chút gạo và muối trộn cùng nhau, sau đó ra ngoài cửa và rắc 4 phương 8 hướng, như một nghi thức bố thí, làm phúc cho chúng sinh.

Kính cáo Tôn thần

Chứng minh công đức

Cho tín chủ con

Tên là:………………………………

Vợ/Chồng:………………………….

Con trai:……………………………

Con gái:…………………………….

Ngụ tại:……………………………..

HOA HẠ (tổng hợp)

Cập nhật thông tin chi tiết về 19. Bộ Sưu Tập Các Bài Kệ Cúng Thí Cô Hồn trên website Apim.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!